Giáo dục tinh thần yêu nước cho học sinh trường THCS nguyễn trãi qua một số di tích lịch sử địa phương - Pdf 48

UBND HUYỆN KRÔNG ANA
PHÒNG GIÁO GD-ĐT KRÔNG ANA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
GIÁO DỤC TINH THẦN YÊU NƯỚC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS
NGUYỄN TRÃI QUA DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG

Lĩnh vực: Môn Lịch sử
Họ và tên: Nguyễn Thị Tài
Đơn vị công tác: Trường THCS Nguyễn Trãi

Krông Ana, tháng 3 năm 2018

Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

1


I.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nước ta đang phấn đấu
tiến lên bắt kịp bạn bè khắp năm châu để khẳng định vị trí Việt Nam trên trường
quốc tế. Đảng và nhà nước ta một mặt vừa xây dựng phát triển kinh tế, nâng cao
mức sống người dân, xây dựng nền quốc phòng an ninh bảo vệ vững chắc tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mặt khác Đảng và nhà nước ta luôn xem giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, là bệ phóng để đưa dân tộc ta bước vào
kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của văn minh truyền thông và tin học. Đây là phương
hướng quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ, kế tục và phát triển sự nghiệp cách
mạng để đưa đất nước đi lên theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ
kính yêu của chúng ta đã lựa chọn.

quên mình cho Tổ Quốc, giáo dục hoài bão và ý chí xây dựng đất nước cho thế hệ
trẻ. Tuy nhiên trong thời kì hiện nay thì quá trình xuống cấp về đạo đức của học
sinh ngày càng trầm trọng, trong đó có một phần sự bao dung vô lối của các bậc
Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

2


phụ huynh, sự thờ ơ của gia đình đối với con em mình, sự lệch lạc về tư tưởng
ngày càng nhiều trong thời đại công nghệ thông tin, những tệ nạn xã hội thâm nhập
sâu vào lứa tuổi học đường, sự suy thoái về đạo đức ở lứa tuổi học sinh ngày càng
trầm trọng. Đó là hồi chuông báo động quá trình tha hóa về đạo đức, nhân cách, sự
hủy hoại các giá trị truyền thống tốt đẹp mà cha ông ta đã gây dựng bao đời nay.
Xuất phát từ thực tế đó, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch
sử nói chung và bộ môn lịch sử địa phương nói riêng, giáo dục cho học sinh lòng
biết ơn đối với những người đã hy sinh quên mình cho đất nước,. Bản thân tôi đã
chọn đề tài“Giáo dục tinh thần yêu nước cho học sinh trường THCS Nguyễn
Trãi qua một số di tích lịch sử địa phương”trong chương trình lịch sử địa phương
nhằm giúp cho học sinh hiểu sâu sắc hơn về quá trình đấu tranh của thế hệ ông cha
ta, đồng thời giúp học sinh hướng đến sự biết ơn vô hạn đối với những người anh
hùng đã ngã xuống vì sự bình yên của đất nước.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
- Giáo dục tinh thần yêu nước cho học sinh trường THCS Nguyễn Trãi thông qua
một số nội dung trong chương tình lịch sử địa phương tỉnh Đăk Lăk.
- Giúp học sinh biết được ông cha ta đã bị kẻ thù đàn áp, chèn ép, áp bức và tinh
thần chiến đấu anh dũng của thế hệ cha ông, từ đó giáo dục các em lòng căm thù
đối với giặc ngoại xâm.
- Thể hiện lòng biết ơn với những người có công với dân tộc, với đất nước bằng
những việc làm và hành động cụ thể tại địa phương. Đồng thời xác định rõ vai trò
trách nhiệm của mình với đất nước quê hương.

nước nhà Việt Nam” Đó là lời căn dặn và cũng là tâm huyết của Bác luôn mong
muốn thế hệ trẻ không chỉ hiểu Lịch sử mà còn phải “tường” hiểu sâu sắc Lịch sử
truyền thống của ông cha ta. Tuy nhiên việc dạy và học bộ môn Lịch sử ở trường
phổ thông của nước ta hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của người học, cũng
như chưa làm tròn trách nhiệm của một bộ môn tưởng chừng như đơn giản nhưng
rất quan trọng đối với học sinh. Trong quá trình giảng dạy giáo viên chưa mạnh
dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học chính vì vậy mà giờ học luôn cứng
nhắc, khô khan. Giáo viên luôn có tâm lí làm sao cho hết được nội dung bài học,
chưa hướng học sinh đến việc chủ động học tập mà học sinh tiếp thu kiến thức một
cách thụ động. Giáo viên cũng không dám mạnh dạn đổi mới phương pháp trong
dạy học Lịch sử. Chính vì vậy mà trong những năm gần đây chất lượng bộ môn
Lịch sử rất thấp, học sinh thậm chí thờ ơ với lịch sử nước nhà. Đặc biệt trong
chương trình lịch sử địa phương thì hầu như chúng ta còn xem nhẹ, chưa tổ chức
học tập một cách chu đáo như chương trình học thông thường, do vậy kiến thức về
lịch sử địa phương của đa số học sinh cũng như một bộ phận nhỏ giáo viên còn mơ
hồ, mong manh. Thông qua chương trình lịch sử địa phương cho học sinh thấy
được vai trò cũng như tinh thần đấu tranh của đồng bào địa phương trong quá trình
đấu tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, giáo dục đến học sinh lòng tự
hào dân tộc về mảnh đất quê hương nơi mình sinh ra và lớn lên, ý thức được tinh
thần trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ quê hương trong giai đoạn hiện nay.
Vì thế ngoài việc tổ chức dạy kiến thức cho học sinh trên lớp thì cho học sinh
tham quan, thực địa nơi những di tích lịch sử địa phương là phương pháp dạy học
đem lại hiệu quả nhất bởi tại nơi đây học sinh được nhìn thấy những hiện vật lịch
sử, những dấu tích lịch sử còn lưu lại, học sinh được trải nghiệm những điều mình
đã học và các em có thể cảm nhận về lịch sử đã diễn ra như thế nào trong quá khứ.
Học sinh thấy được trong thời chiến thế hệ cha ông ta đã trải qua muôn vàng khó
khăn gian khổ, đấu tranh kiên trì bền bỉ, hy sinh xương máu của mình để đổi lấy sự
bình yên mà chúng ta có được như hôm nay.
Lịch sử địa phương là một bộ phận hợp thành và làm phong phú lịch sử dân
tộc, việc nghiên cứu tìm hiểu lịch sử địa phương sẽ góp phần tích cực bổ sung sử

Trong những năm gần đây, chất lượng bộ môn lịch sử rất thấp. Theo tôi nguyên
nhân của những tình trạng trên có thể được xác định là do:
+ Một là: Trình độ giáo viên chưa đều và thật sự không phải giáo viên nào cũng
tâm huyết với nghề nghiệp. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giảng
dạy và chất lượng giáo dục nói chung và bộ môn lịch sử nói riêng.
+ Hai là Giáo viên chưa mạnh dạn trong quá trình đổi mới phương phương pháp
dạy học.
+ Ba là: Trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy bộ môn ở nhà trường còn thiếu,
không đủ lược đồ, bản đồ để phục vụ cho tiết học, bài học.
+ Bốn là: Giáo viên chưa bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn do Bộ Giáo dục
ban hành dẫn đến sai lệch về kiến thức.
+ Kiến thức lịch sử địa phương chưa được đưa vào sách giáo khoa, tài liệu biên
soạn viết rất khó dạy, nội dung còn sơ sài và nói chung chung, nội dung chưa
phong phú, chưa có sự bổ sung, điều chỉnh cập nhật điều này cũng khiến cho giáo
viên và học sinh ít có sự hiểu biết về địa phương nơi mình sinh sống.
Đối với học sinh ý thức học tập môn sử chưa cao, đa phần các em chưa xác
định rõ ràng mục tiêu học tập, chưa thực sự cố gắng trong học tập và làm bài tập,
đang còn đối phó, chưa dám mạnh dạn khi giáo viên yêu cầu trả lời câu hỏi, chỉ
lược đồ, bản đồ. Đặc biệt quan niệm ăn sâu trong tiềm thức của phụ huynh và học
sinh môn sử chỉ là môn học phụ, không quan trọng nên có thái độ thờ ơ với lịch sử
dẫn đến một thực tế đau lòng là học sinh không hiểu gì về lịch sử Việt Nam, hàng
ngàn bài thi lịch sử của học sinh những năm vừa qua bị điểm 0. Qua tìm hiểu của
bản thân tôi và đồng nghiệp trên địa bàn huyện tôi nhận thấy một số nguyên nhân
chủ yếu sau:
- Môn sử có đặc thù riêng, nhiều sự kiện, khó nhớ.
- Học sinh luôn quan niệm là môn phụ, không có sự hướng nghiệp rõ ràng khi lựa
chọn ôn thi.
- Phụ huynh thờ ơ và hướng con em mình học các môn tự nhiên.
- Giáo viên chưa có phương pháp phù hợp nên không thu hút được các em trong
giờ học.

- Nhận thức về lịch sử của đại đa số học sinh còn mơ hồ, chưa có sự đam mê mà
chủ yếu học để đối phó.
- Một số giáo viên còn bị động lúng túng, chưa đầu tư đối với bộ môn lịch sử địa
phương .
- Trong những năm vừa qua nhà trường chỉ lựa chọn một số đối tượng học sinh khá
giỏi để tham quan thực địa chứ không thể tổ chức đại trà. Do đó việc đem lại hiệu
quả chưa tuyệt đối.
- Nguồn kinh phí tổ chức dã ngoại còn hạn hẹp, do đó cũng gặp nhiều khó khăn
trong việc cho học sinh tiếp cận cũng như tham quan các di tích lịch sử địa
phương.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
a. Mục tiêu của giải pháp
*Tầm quan trọng của các di tích lịch sử đối với quá trình nhận thức của học
sinh.
Di tích lịch sử cách mạng là một trong những bộ phận quan trọng nhất của
nguồn sử liệu vật chất, là chứng tích gốc, các di tích cách mạng nói lên một cách
sâu sắc trình độ phát triển kinh tế, chính trị và trình độ kĩ thuật của từng thời đại,
từng dân tộc. Di tích lịch sử là phương tiện quan trọng góp phần tạo biểu tượng
cho học sinh, di tích được xem là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Di tích lịch sử
cách mạng là cơ sở để học sinh khôi phục quá khứ, làm cơ sở cho việc hình thành
những biểu tượng cụ thể, chính xác về các sự kiện lịch sử.
Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

6


*Tầm quan trọng của các di tích lịch sử đối với việc giáo dục truyền thống đạo
đức cho học sinh
+Về giáo dưỡng: Di tích lịch sử giáo dục cho học sinh lòng kính yêu, khâm phục
các anh hùng chiến sĩ yêu nước. Di tích lịch sử địa phương cũng như cả nước phản

thoải mái, hứng thú và thích học tập đối với bộ môn Lịch sử. Đặc biệt là chương
trình lịch sử địa phương giúp các em hiểu được những hy sinh to lớn của ông cha
ta,những khó khăn gian khổ mà cha ông ta đã phải chịu đựng, tinh thần thép và ý
chí đấu tranh ngoan cường để dành độc lập trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại
xâm.
- Giúp học sinh thay đổi hình thức, phương pháp học tập trước đây, làm cho giờ
học bớt căng thẳng, không còn nặng nề, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu, học sinh
lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng.
- Tạo cho học sinh sự tìm tòi, sáng tạo, rèn luyện cho học sinh cơ hội rèn luyện bản
thân
Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

7


- Kích thích học sinh vận dụng kiến thức năng động, rèn luyện trí nhớ, phát triển
khả năng phán đoán, suy luận, từ đó phát triển tư duy độc lập, học cách xử lý thông
minh và các tình huống phức tạp. Tăng cường khả năng vận dụng cuộc sống để
thích nghi với điều kiện xã hội mới. Ngoài ra còn giúp học sinh phát triển được
nhiều phẩm chất đạo đức như tính nhanh nhẹn, tình đoàn kết thân ái, sự phối hợp
nhịp nhàng, sự trung thực và tinh thần trách nhiệm lẫn nhau.
- Giúp học sinh có năng lực cảm nhận lịch sử qua tranh ảnh, hiện vật lịch sử.
- Giáo dục cho học sinh ý chí đấu tranh ngoan cường, tinh thần đấu tranh thép của
chiến sĩ cách mạng tại nhà đày Buôn Ma Thuột thông qua tranh ảnh, hiện vật được
lưu giữ tại nhà đày.
- Giáo dục đến học sinh lòng biết ơn đối với những anh hùng liệt sĩ, người có công
với cách mạng, với dân tộc, đặc biệt là đồng bào dân tộc sinh sống tại địa phương.
Trong những năm trước đây, vì nhiều lý do khác nhau mà nhà trường ít có điều
kiện để tổ chức cho học sinh tham quan thực tế đối với các di tích lịch sử tại địa
phương, vì vậy khi dạy chương trình lịch sử địa phương( phần nội dung về nhà

1980, Nhà đày Buôn Ma Thuột đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia,
và trở thành điểm tham quan du lịch tại tỉnh Đăk Lăk.
Nhà đày Buôn Ma Thuột vào khoảng năm 1900, một nhà lao đã được thực
dân Pháp xây dựng lên ở Cao nguyên Đắk Lắk dùng để giam giữ tù nhân chính trị,
bởi địa hình nơi đây lúc bấy giờ bị bao vây giữa bốn bề núi rừng rậm rạp, nhiều thú
dữ, khí hậu khắc nghiệt, ít người lui tới nên tù nhân khó bề trốn thoát.
Đến những năm 1930-1931, số lượng tù nhân tăng cao theo phong trào chống thực
dân tại Đông Dương, do đó Pháp thiết lập Nhà đày Buôn Ma Thuột trên cơ sở mở
Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

9


rộng nhà lao cũ, nhằm lưu đày biệt xứ và giam giữ những đảng viên cộng sản bị xử
án nặng ở các tỉnh Trung Kỳ, gồm nhiều người đi đầu trong phong trào Xô Viết
Nghệ Tĩnh.
Cuối năm 1941, một tổ chức bí mật có tên “lực lượng trung kiên” được thành
lập trong nhà đày, lan tỏa tinh thần cách mạng. Năm 1954, chiến thắng Điện Biên
Phủ đã kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp. Đến lượt Mỹ nhảy vào thế chân
Pháp âm mưu thôn tính nước ta, nhà đày Buôn Ma Thuột tiếp tục được sử dụng và
mở rộng thêm. Thời Pháp, nhà đày Buôn Ma Thuột được xây dựng trên diện tích
gần 2ha, với 4 bức tường bao quanh, cao 4m, dày 40cm, 4 góc đều có vọng gác và
lính canh túc trực. Phía trong có 6 dãy lao tập thể giam giữ tù nhân. Bên cạnh cổng
chính ở phía Nam là dãy xà lim, giam giữ tù nhân chính trị được cho là nguy hiểm.
Ngoài ra còn có nhà xưởng, bàn giấy, nhà kho và bếp ăn, đây là kiểu bố trí nhà tù
truyền thống của thực dân Pháp, mục đích tạo không gian khép kín để giám sát tù
nhân
.
Thời Mỹ, nhà đày Buôn Ma Thuột được xây thêm một bức tường ngăn đôi,
một bên làm trung tâm cải huấn và một bên làm kho quân nhu, đồng thời mở hai


Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

11


Hình ảnh tù nhân bị bắt đi lao độngtrên công trường làm đường 14 đi Sài Gòn và
bị đánh đập dã man
Cũng chính trong hoàn cảnh đó nổi bật hàng loạt tấm gương đấu tranh anh
dũng của các chiến sĩ cách mạng như Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Chí Thanh.
Cũng tại đây năm 1940 một chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương ra đời đã lãnh đạo
phong trào đấu tranh của tù nhân chống lại chính sách dã man của bọn thực dân đối
với các chiến sĩ cách mạng, nhà đày cũng là nơi bồi dưỡng cơ sở cách mạng,
truyền bá chủ nghĩa yêu nước của đồng bào Đăklăk.
Nhà Đày Buôn MaMT được thực dân Pháp xây dựng xong vào năm 1930
-1931 trong khi các nhà tù của nước ta đã chật ních, nhưng vẫn còn dư ra hàng
nghìn tù nhân. Chúng chọn Đăk Lăk làm nơi xây dựng nhà Đày nhằm làm lung lạc
ý chí đấu tranh của nhân dân ta. Bởi lẽ Đăklăk là nơi có khí hậu khắc nghiệt, dân
cư thưa thớt chủ yếu là người bản địa, giao thông lại khó khăn. Thực dân Pháp sử
dụng những người dân bản địa nơi đây để làm cai ngục nhằm thực hiện thủ đoạn
dùng người Việt để trị người Việt. Tù nhân ở đây bị tra tấn hết sức dã man, thường
xuyên phải lao động khổ sai, ăn uống thì bẩn thỉu, thiếu thốn gây ra rất nhiều bệnh
tật.
Ví dụ: Ngày ăn700 g gạo, gạo trộn lẫn sạn, chúng dùng báng súng, roi có quất dây
thép ở đầu để tra tấn..vv. Mặc dù vậy tinh thần đấu tranh của nhân dân ta trong các
nhà đày trong đó có nhà Đày Buôn Ma Thuột là vô cùng quyết liệt, các đồng chí
vẫn không lùi bước, tìm mọi cách để đấu tranh và bí mật hoạt động cách mạng.
Hình thức đấu tranh rất phong phú, đa dạng nhưng lúc đầu thì gặp rất nhiều khó
khăn. Thực dân Pháp đưa những người bản địa là đồng bào dân tộc thiểu số làm
quản ngục để lợi dụng sự bất đồng về ngôn ngữ để ngăn chặn không cho tù nhân


Đ
ây là hình ảnh các tù nhân bàn cách đấu tranh chống lại bọn thực dân Pháp
Ngoài ra các tù nhân còn đấu tranh bằng hình thức tuyệt thực tập thể để phản
đối việc thực dân Pháp ngược đãi tù nhân. Cuối cùng thì bọn thực dân phải nhượng
bộ và tăng khẩu phần ăn lên cho tù chính trị. Tinh thần bất khuất luôn được các tù
nhân đề cao. Mặc dù bị đánh đập tra tấn rất dã man: chân tay xây xước, mặt mũi
toàn là máu, toàn thân tím đen, mỗi tuần chỉ được tắm nắng có 15 phút nhưng là
lúc giữa trưa (12h), ăn uống bẩn thỉu thiếu thốn, nơi giam cầm thì tối tăm, chật hẹp,
bẩn thỉu, tù nhân khát nước nhưng cũng không có nước để uống mà có khi phải
uống cả nước tiểu của mình .

Hình ảnh các chiến sĩ cách mạng bị giam tại nhà đày, hai ống tre một ống đựng
nước uống và một ống đựng nước tiểu, chúng tra tấn bằng cách một tuần mới cho
một ống nước vì vậy tù nhân buộc phải uống nước tiểu của mình để duy trì sự
sống.
Thử hỏi ngày nay nếu chúng ta, những con người khoẻ mạnh bình thường,
phải chịu những nỗi khổ như vậy chúng ta có chịu đựng nổi không? Hay là tìm đến
Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

14


cái chết để giải thoát. Nhưng không, các tù nhân vẫn kiên cường chịu đựng vì họ
có niềm tin tuyệt đối vào sự nghiệp cách mạng, họ cố chịu đựng để nuôi hi vọng
được sống và được trở về hoạt động cách mạng dù là hy vọng rất mong manh.
Một trong những nhân chứng lịch sử của tỉnh ĐăkLăk là vị tướng YBlôk Êban
Vị tướng đầu tiên của các dân tộc Tây Nguyên.
Y Blốk Êban sinh năm 1920, tại buôn Chư Dluê, Buôn Ma Thuột trong một
gia đình có 7 anh chị em. Là con trai út cho nên Y Blốk Êban là người chịu nhiều

quyền Trần Trọng Kim không kịp trở tay. Với chiến công đầu tiên này, đã đưa Y
Blốk Êban đứng hẳn vào hàng ngũ cách mạng, ông được tham gia vào Ủy ban lâm
thời của tỉnh Đắk Lắk. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, hầu hết cán bộ ở Tây
Nguyên nói riêng và miền Nam nói chung đều tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Liên
khu V lại muốn Y Blốk Êban ở lại để hoạt động trong lòng địch, giữ vững cơ sở
cách mạng ở Đắk Lắk. Tư lệnh Liên khu V lúc bấy giờ là đồng chí Nguyễn Chánh
đã ký quyết định bổ nhiệm Y Blốk Êban làm Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 120
để đưa ra Bắc huấn luyện. Trong suốt quãng thời gian học tập ở miền Bắc đã giúp
ông trưởng thành rất nhiều. Ở đó, ông được gặp Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên
Giáp; được bồi dưỡng thêm về lý tưởng cách mạng, nhất là tinh thần đại đoàn kết
dân tộc. Nhờ có tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm chống kẻ thù xâm
lược của các bậc tiền bối, những anh hùng dân tộc mà ngày nay chúng ta được
sống trong hòa bình, cơm no áo ấm, chúng ta không thể nào quên được sự hy sinh
to lớn mà ông cha ta đã trải qua. Đến ngày 13/1/2018 do tuổi cao nên tướng Y Blốk
Êban đã qua đời trong niềm tiếc thương vô hạn của nhân dân Đăk Lăk nói riêng và
nhân dân cả nước nói chung.

Toàn cảnh học sinh trường THCS Nguyễn Trãi đang tham quan tại khu trưng bày
của nhà đày Buôn Ma Thuột và nghe thuyết trình từ hướng dẫn viên của nhà đày
Buôn Ma Thuột(2016-2017). Hình ảnh bên phải là tên Moshin, một trong những
tên quản ngục độc ác nhất lúc bấy giờ. Y dùng roi có đóng đinh để tra tấn tù nhân,
y đánh vào đầu, vào lưng tù nhân đến khi nào hả dạ mới thôi. Đặc biệt y được
mệnh danh là tên khát máu người, ngày nào y không đánh đập tù nhân và không
đâm chém thì như rằng ngày đó y ăn không ngon ngủ không yên.

Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

16



Lắc dự tính, hàng năm tỉ lệ tù nhân chết ít nhất là 10%, nhưng sang năm 1931,
chúng ước tính tỉ lệ đó tới 25%. Trong hai năm 1931-1932 đã có tới hơn 100 tù
nhân chết, nhiều người trong số đó chôn ở nghĩa địa Lạc Giao (tài liệu lưu trữ tại
Viện lịch sử Đảng).Theo đó thì chỉ trong khoảng 5 năm, số tù nhân ở Đắc Lắc sẽ
chết hết. Năm 1935, theo các báo chí công khai ở Huế tổng kết, trong số 100 tù
nhân chết ở Buôn Ma Thuột thì có 24 người bị sốt rét đái ra máu. Trong 100 tù
nhân thì 99 người có ký sinh trùng sốt rét trong máu. Có những bệnh nhân sốt gần
40 độ liên tục trong 4-5 ngày mà không được một viên thuốc nào và vẫn phải đi lao
dịch trên công trường. Trong tình cảnh Nhà đày như thế, tù nhân chỉ có hai con
đường: Hoặc là chết mòn trong yên lặng, trong mọi sự nhục nhã ê chề, hoặc đoàn
kết tổ chức nhau lại để đấu tranh đòi bọn thống trị phải thực hiện các yêu cầu của
họ trong khuôn khổ chế độ tù chính trị, giữ vững khí tiết và giành lấy sự sống.
Cuộc đấu tranh phản đối khủng bố, đánh đập, bắn giết tù nhân càng ngày càng
mạnh mẽ. Có những lúc toàn thể Nhà đày dấy lên những loạt hô khẩu hiệu như
sấm: “Phản đối đánh đập dã man”, có người còn trích máu khẩu hiệu lên tường nhà
lao: “Đả đảo tên giết người Moshine” (Lịch sử Nhà đày Buôn Ma Thuột 1930 1945, Tỉnh ủy Đắc Lắc)

Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

18


Tên quản ngục tàn ác Moshine
“Ngày nào không đánh, đá được lính tráng, không đánh đập, giết chết được
phạm nhân thì tối về ăn không ngon cơm” đó là câu nói hàng ngày của Moshine,
một trong những tên quản ngục khét tiếng nhất tại Nhà đày Buôn Ma Thuột. Quản
ngục Mahomed Moshine là một “giống lai” quốc tế, một điển hình về mất tính
người, tập trung tính hung ác, thú vật của “giống” thực dân khát máu và tàn bạo
đến cực điểm. Chính cái “thú tính” đã được thực dân Pháp “thuần hóa” mà
Moshine nhiều lần được trọng dụng làm sếp lao tại Nhà đày Buôn Ma Thuột.

thành của các chiến sĩ cách mạng bị lao đày trong lời khai mạc lễ kỷ niệm 30 năm
ngày thành lập Đảng năm 1960: “Biến cái rủi thành cái may, các đồng chí ta đã
lợi dụng những tháng ở tù để hội họp và học tập lý luận. Một lần nữa việc đó lại
chứng tỏ rằng chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù chẳng những
không ngăn trở được bước tiến của cách mạng, mà trái lại, nó trở nên một thứ
lửa thử vàng, nó rèn luyện cho người cách mạng thêm cứng rắn. Mà kết quả là
cách mạng đã thắng, đế quốc đã thua”.
Ngoài ra Đăk Lăk cũng là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc anh em
như Êđê, Ba na...vv, để giáo dục tinh thần yêu nước cho các em, bản thân tôi đã
nêu lên một số tấm gương tiêu biểu, những tấm gương anh dũng trong cuộc kháng
chiến chống kẻ thù xâm lược, đánh đuổi giặc ngoại xâm như AmaJao, Y Jut, Nơ
Trang Lơng…vv
Ama Jhao (1840-1905)
Ama Jhao tên thật là Y Yên, họ Ayũn, sinh năm 1840 tại buôn Tung, cách thành
phố Buôn Ma Thuột ngày nay 16km về phía đông bắc, (có tài liệu cho là buôn Kô
Tăm). Sinh ra trong một gia đình Êđê có uy tín trong vùng, nổi tiếng nhờ tài săn
voi cho nên ông được nhiều người yêu quý, kính trọng. Lớn lên Y Yên lấy cô
H’Pang Niê Blô, con tù trưởng Ama Phi buôn Ea Yông (xã Ea Yông, huyện Krong
Pak) và sang ở rể bên phía nhà vợ. Khi bố vợ ông mất, ông được dân làng bầu lên
làm Tù trưởng - địa vị được dân làng kính trọng và có thể đại diện cho dân làng
trong nhiều trường hợp. Ama Jhao là một tù trưởng giàu có, ngôi nhà của ông rộng
4m, dài 220m, có trong tay 1.000 con trâu, 15 con voi và hàng trăm nô lệ. Uy tín
của ông nổi lên mạnh mẽ và lan sang những vùng khác. Tài liệu của Pháp công
nhận: “Ama Jhao là một lãnh tụ Rađê lừng lẫy được cả vùng Hinterland cũng như
Khánh Hoà, Phú Yên biết đến với một cái tên khá khoa trương: “Vua của người
Mọi”.Ama Jhao sinh trưởng trong thời buổi mà người Pháp bắt đầu xúc tiến những
bước đi đầu tiên nhằm thiết lập quyền kiểm soát của mình trên miền Thượng.
Chúng vừa sử dụng bạo lực đàn áp, khủng bố tinh thần người dân, lại vừa phỉnh
nịnh, mua chuộc những người tù trưởng, già làng. Nhận thấy được tầm ảnh hưởng
to lớn của Ama Jhao, hết Bourgeois (công sứ đầu tiên của tỉnh Darlac), Yersin

Yên phản đối việc mở đường, tự tiện sáp nhập đất đai của ngưởi Êđê vào Lào.
Năm 1903, Ama Jhao tổ chức phục kích một toán lính Pháp ở km 42 đường 21,
tiêu diệt hai tên và thu 2 xe bò chở muối. Pháp ra lệnh bao vây khu vực buôn Ea
Yông; đồng thời phái một tiểu đoàn bộ binh thuộc phân khu Huế cùng lực lượng
bảo an M’Drăk tạo thành mũi bao vây thứ nhất, một tiểu đoàn khác cùng lực lượng
bảo an Buôn Ma Thuột tạo thành mũi bao vây thứ hai tấn công khu vực hoạt động
của nghĩa quân. Ama Jhao rút sang vùng núi Cư Quie, dự tính tiếp tục kéo dài cuộc
kháng chiến. Thực dân Pháp treo thưởng cho bất cứ ai giết hoặc chỉ điểm Ama
Jhao. Tháng 1-1905, nhờ có tin mật báo, quân Pháp vây và bắt ông. Chúng tra tấn
ông tàn khốc, Ama Jhao dũng cảm mắng giặc rằng: “Dùng hèn kế để bắt ta sao gọi
là thắng ta được, điều ấy đâu có gì đáng vẻ vang cho các ngươi. Cứ trả ta về lại núi
rừng xem ai thắng ai!”. Ama Jhao hy sinh vào tháng 3-1905.
Y Jut (1885-1934)
Y Jut H'Wing hay còn gọi ngắn gọn là Y Jút. Ông là một nhân sỹ yêu nước
người dân tộc Êđê, một người con ưu tú của núi rừng Tây nguyên. Ông sinh năm
1888 tại Buôn Krăm xã Ea Tiêu huyện Krông Ana. Ông mất năm 1934, tên ông
hiện được đặt làm tên một con đường phố chợ sầm uất nhất Buôn Ma Thuột từ
ngay trước giải phóng và được giữ nguyên cho đến nay. Ngòai ra còn có rất nhiều
trường học ở Đắk Lắk được vinh dự mang tên ông. Vợ ông là H’Yih Niê là người
ở buôn Păm Lăm – Thành phố Buôn Ma Thuột. Dù ông qua đời từ rất lâu nhưng
tên tuổi của ông vẫn còn lưu lại, sống mãi trong lòng người dân Đắk Lắk quê
hương ông.
Y Jút là một trong số ít ỏi trí thức người dân tộc thiểu số thời Pháp thuộc. Lúc
nhỏ ông là học sinh Trường Tiểu học Pháp – Êđê Buôn Ma Thuột, sau đó ra Huế
học. Là một học sinh xuất sắc nhưng khi tốt nghiệp ông tình nguyện trở về trường
Pháp-Êđê ở quê hương để dạy chữ cho đồng bào mình chứ không làm quan lại để
cầu vinh hoa phú quy cho riêng mình. Do rất giỏi tiếng Pháp, Y Jút cùng bạn bè
như Y Ut, Y BLul tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Êđê đặt ra bộ chữ viết Êđê ngày
nay. Sau đó bộ chữ này được đốc học Angtoamaki và Sabatier tu chỉnh lại vào năm
Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

Một số câu nói đã đi vào lịch sử của thầy giáo Y Jút:Là một người có tinh thần tiến
bộ, ham học tập để vươn lên, Y Jut thường hay nói: “Chúng ta phải có chữ của
người Êđê, chúng ta cũng cần học tiếng Pháp thật giỏi để người Pháp không
dám gọi ta là Mọi” .
N’Trang Lơng(1870-1935)
Cuộc kháng chiến của N’Trang Lơng (1911-1936) diễn ra trên một địa bàn
khá rộng, gần như toàn bộ vùng cao nguyên nam Đông Dương, từ bên này cao
nguyên Lang Biang của người M’nông Rlăm sang bên kia tả ngạn sông Mekong
của người M’nông Khơme; từ dưới chân cao nguyên Pleiku của người Giarai
xuống đến cao nguyên Di Linh vùng người Mạ. Khu vực hoạt động chủ yếu của
nghĩa quân là vùng cao nguyên M’nông nằm vắt qua cả ba xứ Trung kỳ, Nam kỳ
và Campuchia. Từ năm 1909, sau sự đầu hàng của Khunjunob, Pháp bắt đầu tung
những đơn vị, những phái đoàn lên thám thính vùng cao nguyên M’nông. Tên
Henri Maitre đã cho chiếm đóng và xây dựng đồn ở Buôn Bu Poustra và đã tấn
công làng Bu Nơtrang của N’Trang Lơng, hãm hại gia đình ông.
Giai đoạn 1 của cuộc kháng chiến (1912-1915), N’Trang Lơng quyết định
dùng 150 nghĩa quân tấn công triệt hạ đồn Bu Poustra, mở màn cuộc kháng chiến
dài 25 năm của đồng bào M’nông.
Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

22


Chiến thắng của N’Trang Lơng khiến Henri Maitre tức giận, từ 1912-1914
Pháp đã tổ chức nhiều cuộc vây ráp lùng bắt và treo thưởng N’Trang Lơng nhưng
đều thất bại. Toàn thể dân M’nông kiên quyết theo N’Trang Lơng đánh Pháp.
Ngày 29-7-1914, Rơ Ong Leng giả hàng mời Henri Maitre đến làng Bunor tiếp
nhận sự đầu thú của 400 nghĩa quân. Henri Maitre tưởng thật, đi cùng một nhóm
lính đến thì rơi vào bẫy và bị N’Trang Lơng kết liễu. Từ đấy, nghĩa quân liên tiếp
đánh nhiều trận và tiêu diệt được nhiều tên thực dân gian ác khác như trận BuKlir

23


Hình ảnh chuyến tham quan của học sinh trường THCS Nguyễn Trãi tại bảo tàng
Đăk Lăk và nhà đày Buôn Ma Thuột ngày 25/3/2018
Ví dụ : Lịch sử 9, khi dạy bài 30, mục III, phần 2, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân 1975 với chiến dịch Tây Nguyên mở màn và Chiến thắng Buôn Ma thuột vào
ngày 10/3/1975 thì giáo viên nên liên hệ đến các di tích lịch sử như Xe tăng, tượng
đài chiến thắng. Điều đó giúp cảm thấy thiết thực, gần gũi với những sự kiện lịch
sử hơn và cảm thấy tự hào hơn về quê hương của mình.
Không gian trưng bày Lịch sử là một trong ba nội dung trưng bày thường
xuyên của Bảo tàng. Với diện tích trưng bày hơn 700m2 hơn 400 hiện vật và ảnh
tư liệu nhằm giới thiệu các giai đoạn của lịch sử Đắk Lắk từ thời đại đồ đá đến hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và Đắk Lắk trong giai đoạn
1975 đến nay. Đặc biệt nhất là sa bàn trận đánh Buôn Ma Thuột 10-3-1975 đã tái
Nguyễn Thị Tài- Giáo viên Trường THCS Nguyễn Trãi- Huyện Krông Ana

24


hiện lại trận đánh mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tạo điều kiện cho
quân và dân cả nước giành thắng lợi trên chiến trường miền Nam tiến tới thống
nhất nước nhà.
Sau năm 1954, biết Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng nên đế quốc
Mĩ ra sức bình định vùng đất Bazan màu mỡ này. Đến năm 1958 Ngô Đình Diệm
lê máy chém lên Đăk Lăk thực hiện chính sách tố cộng diệt cộng. Chúng đánh phá
buôn làng dồn đồng bào ta vào trại tập trung trá hình. Cùng với việc đàn áp về
quân sự, đế quốc Mĩ thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc, miệt thị đồng bào, phá
hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Từ năm 1958- 1968, dưới sự lãnh đạo của trung
ương Đảng, tỉnh ủy và mặt trận tỉnh, nhân dân Đăk Lăk vùng dậy ddấu tranh chống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status