MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Lòng yêu nước
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó đã thấm sâu vào trong tiềm thức
của mỗi người Việt Nam. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ
xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành
một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó
nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước" [16, tr.171].
Suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước đã trở
thành một trong những tài sản quý, một giá trị thiêng liêng góp phần làm nên truyền
thống dân tộc Việt Nam. Truyền thống yêu nước còn là đặc trưng tiêu biểu của tính
cách con người Việt Nam. Giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh tiểu học
hiện nay nhằm xây dựng ở các em lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự hào dân tộc, có
đạo đức trong sáng, có ý chí và quyết tâm xây dựng quê hương, đất nước giàu
mạnh.
Truyền thống lịch sử rất đáng tự hào với nhiều chiến công hiển hách, là
những mốc son, dấu ấn đáng nhớ ấy là kết tinh của lòng yêu nước, ý thức tự tôn, tự
hào dân tộc, tinh thần chiến đấu hy sinh anh dũng của bao thế hệ cha anh đi trước,
đặc biệt là tấm gương của những anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam đã ngã
xuống vì quê hương, đất nước.
Học sinh tiểu học là thế hệ mầm non tương lai, là vốn quý của mỗi quốc gia.
Đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, các em cần được bổ sung
tri thức, hiểu biết ở nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, tiếp xúc với nhiều dạng quan hệ
xã hội khác nhau thì giáo dục truyền thống yêu nước là một nội dung giáo dục quan
trọng nó có tác dụng rất lớn trong việc hình thành nhân cách cho học sinh tiểu học.
Những giá trị truyền thống dân tộc chính là hành trang khi các em trở thành chủ
nhân tương lai trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sánh vai với các
cường quốc năm châu. Vì thế giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, trước hết là học
sinh tiểu học là một trong những nội dung giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt.
Từ khắp phố phường nơi đô thị đến các làng quê, đều dễ dàng nhận thấy sự góp mặt
đông đảo của nhiều tiểu loại truyện tranh. Trong các cửa hàng bán và cho thuê
truyện, trên những kệ sách luôn đầy ắp những cuốn truyện tranh đa dạng về nội
2
dung và hình thức biểu hiện. Truyện tranh đã và đang chiếm một vị trí quan trọng
trong đời sống tinh thần của các bạn đọc nhỏ tuổi, đồng thời góp phần thúc đẩy sự
phát triển của văn hóa đọc. Việc đem lại cho các em các sách báo bổ ích, phù hợp
với độ tuổi, không thể chỉ một phía từ các nhà xuất bản hay phát hành mà nó còn
cần được nghiên cứu kỹ càng từ thị hiếu nhu cầu đòi hỏi từ lứa tuổi của các em. Tuy
nhiên, có một thời gian dài truyện tranh trên thị trường sách đa phần là sản phẩm
nước ngoài với các nội dung mang đậm chất giải trí, đôi khi còn thái quá khi thể
hiện tính bạo lực, khiêu dâm, ma quái… Chính vì thế, việc cho ra đời các đầu
truyện tranh có giá trị giáo dục cao nhằm giúp các em thiếu nhi vừa thưởng thức
loại hình sách quen thuộc vừa có điều kiện tiếp cận những vốn tri thức có ích là cần
thiết. Các thể loại truyện tranh về đề tài lịch sử Việt Nam, đã góp phần nâng cao sự
hiểu biết cho thiếu nhi Việt Nam, đem đến một cái nhìn tích cực hơn về thế giới
truyện tranh - một trong những loại hình văn hóa đọc được ưa thích nhất của thiếu
nhi hiện nay.
Giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh tiểu học thông qua truyện tranh
lịch sử Việt Nam là một vấn đề đáng được quan tâm. Giáo dục truyền thống yêu
nước sẽ trở nên sinh động hơn bao giờ hết với các bộ sách tranh truyện lịch sử Việt
Nam. Qua các bộ truyện tranh này, các nhân vật lịch sử Việt Nam sẽ đến gần hơn
với các em, khơi gợi niềm đam mê tìm hiểu của các em về lịch sử dân tộc.
Cuốn "Truyện tranh lịch sử - các anh hùng dân tộc Việt Nam", gắn liền với
những con người làm nên lịch sử, tạo nên bước ngoặt lịch sử. Đặc biệt những câu
chuyện lịch sử được thể hiện qua ngôn ngữ truyện tranh nên các em thấy gần gũi
hơn với các nhân vật và bối cảnh lịch sử. Kiến thức lịch sử được chuyển tải cho các
Việt Nam [6]. Năm 2005, tác giả Bùi Quang Thanh đã có bài viết “Truyền thống tôn
vinh danh nhân của người Việt và văn hóa đặt tên trong xã hội đương đại” [42]. Tác
giả Ngô Đức Thịnh (chủ biên), năm 2010, đã nghiên cứu Những giá trị văn hóa
truyền thống Việt Nam [49]. Năm 2011, tác giả Ngô Minh Oanh đã trình bày tham
luận tại Hội thảo khoa học "Triết lý Giáo dục Việt Nam", qua bài viết "Từ nghiên
cứu lịch sử phương Tây nghĩ về triết lý giáo dục Việt Nam" [25]. Tác giả Trần
Ngọc Thêm, năm 2016, bàn về Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và
con đường tới tương lai [45].
Ngoài ra khi tìm hiểu về tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học thì Tâm lí học đại
cương của tác giả Nguyễn Quang Uẩn [58], là một tư liệu quý để tác giả luận văn có
thể tham khảo.
4
* Nhóm vấn đề về truyện tranh thiếu nhi
Năm 1998, Lịch sử Việt Nam bằng tranh nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng,
Phan An chủ biên [4]. Bộ truyện tranh lịch sử nhằm mục đích giới thiệu lịch sử
nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ thống qua những truyện kể súc tích
và bằng những tranh vẽ minh họa. Nhà nghiên cứu Hạ Thị Lan Phi, năm 2007, có
bài viết "Sự du nhập và ảnh hưởng của Manga ở Việt Nam hiện nay" [29]. Lịch sử
du nhập truyện tranh Nhật Bản vào Việt Nam đã được tác giả trình bày một cách
khái quát, cùng với đó tác giả đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực từ
truyện tranh Nhật Bản, để cuối cùng đưa ra những ý kiến của tác giả về vấn đề
truyện tranh Nhật Bản tại Việt Nam hiện nay. Năm 2009, Lê Thị Oanh đã đề cập
đến "Truyện tranh dành cho thiếu nhi - Những mặt tích cực và hạn chế" [24]. Đề tài
góp phần làm rõ những tác động tích cực cũng như hạn chế của truyện tranh Nhật
Bản đối với trẻ em hiện nay, từ đó định hướng cho trẻ lựa chọn truyện tranh phù
hợp cũng như định hướng văn hóa đọc một cách đúng đắn nhằm hình thành lên một
thói quen tốt trong sự phát triển của trẻ. Trong năm 2010 Chu Anh Tú đã đề cập đến
động của truyện tranh Nhật Bản tới trẻ em" [8]. Những kết quả nghiên cứu của đề
tài góp phần nâng cao nhận thức về vấn đề tác động của truyện tranh Nhật Bản và
những giá trị của nó đối với trẻ em nay. Góp phần làm rõ cơ sở khoa học cho vai trò
của văn hóa đọc đặc biệt là truyện tranh Nhật Bản trong việc hình thành thói quen
đọc của trẻ.
Tất cả những tư liệu quý trên rất bổ ích đối với học viên, nó là cơ sở đáng tin
cậy cho học viên tham khảo. Tuy nhiên, vì mục đích nghiên cứu khác nhau nên
những vấn đề của luận văn chưa có tác giả nào đề cập đến và đây cũng là tính mới
của luận văn. Vì vậy đề tài học viên mong muốn đóng góp một phần lý luận và
phương thức về vấn đề giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc thông qua
truyện tranh lịch sử Việt Nam cho học sinh tiểu học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là làm rõ vai trò của truyện tranh lịch sử Việt Nam đối
với học sinh tiểu học về giáo dục truyền thống yêu nước. Góp phần hoàn thiện quá
trình giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh tiểu học thông qua truyện tranh
lịch sử Việt Nam. Xác định thực trạng đề tài giáo dục truyền thống yêu nước cho
học sinh tiểu học thông qua truyện tranh lịch sử Việt Nam. Đề xuất các giải pháp
6
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh tiểu học
thông qua truyện tranh lịch sử Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, xác định một số đặc điểm của
giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh tiểu học thông qua truyện tranh lịch sử
Việt Nam.
Đề tài khảo sát một số truyện tranh lịch sử Việt Nam về hình tượng các vị
anh hùng dân tộc tác động tới học sinh tiểu học TpHCM hiện nay.
Một số giải pháp &
khuyến nghị để nâng
cao chất lƣợng giáo
dục truyền thống
yêu nƣớc cho học
sinh tiểu học qua
truyện tranh LSVN
Truyện
tranh
lịch sử
Việt
Nam
Nguyên nhân
7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh tiểu học thông qua
truyện tranh lịch sử Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Từ một số truyện tranh lịch sử Việt Nam, tác giả luận văn thực hiện được chọn
lọc khảo sát đối với học sinh lớp 5 và giáo viên ở một số trường tiểu học tại thành
phố Hồ Chí Minh, cùng một số phụ huynh học sinh có con em là tiểu học.
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tại một số địa điểm trường tiểu học
do tác giả chọn lọc.
+ Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, tại số 2 Bis Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Ngoài việc sử dụng số liệu thống kê và phân tích kết quả bằng phần mềm
Excel, tác giả luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, dùng hình ảnh
để chứng minh khi kiến giải các vấn đề khoa học.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1.Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu đóng góp lý luận và nhận thức vào lĩnh vực giáo dục
truyền thống yêu nước cho học sinh tiểu học thông qua truyện tranh lịch sử Việt
Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nhằm chia sẻ một số những giải pháp cụ thể trong việc chuyển tải
nội dung giáo dục, mang tính thẩm mỹ của người sáng tác truyện tranh nhằm nâng
cao chất lượng truyện tranh Việt Nam vào công tác giáo dục truyền thống yêu nước,
giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học.
Luận văn này mong muốn đóng góp một phần nhỏ làm tài liệu tham khảo đối
với việc truyện tranh và chia sẻ một số kinh nghiệm với người sáng tác truyện tranh.
Những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đem đến một cái nhìn tích cực
hơn về vấn đề giáo dục truyền thống yêu nước cho thiếu nhi qua truyện tranh lịch sử
Việt Nam và những giá trị của nó đối với thiếu nhi hiện nay.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài lời cảm ơn, lời cam đoan, danh mục bảng, danh mục hình, danh mục
biểu đồ, danh mục các chữ viết tắt, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần
chính văn có tổng độ dài là 120 trang, trong đó:
9
Mở đầu: (10 trang)
Nội dung nghiên cứu gồm 3 chƣơng: (106 trang)
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu (37 trang)
Chương 2: Thực trạng việc giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh tiểu học
bên những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và
phát triển của con người trong xã hội đương đại.
Giáo dục bao gồm việc dạy và học, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như là
quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ
sự hiểu biết. Giáo dục trong nhà trường tiểu học (theo nghĩa hẹp) là một quá trình
dưới sự tác động sư phạm của người giáo viên, người học tự giác tích cực, chủ động
tự tổ chức hoạt động giáo dục nhằm hình thành ý thức, thái độ, niềm tin, hành vi
phù hợp với yêu cầu của xã hội.
11
Theo từ điển mở Wikipedia (bách khoa toàn thư mở) “Giáo dục (tiếng
Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng,
và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu” [77]. Như vậy, giáo dục thường diễn
ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ
trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận,
hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục. Giáo dục thường được chia
thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học
và giáo dục đại học.
Giáo dục vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Giáo dục là một
quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia
vào đời sống xã hội, lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh
hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người.
Người Việt Nam với truyền thống văn hóa Khổng giáo rất coi trọng giáo
dục. Dân gian Việt Nam thường có câu tục ngữ “không thầy đố mày làm
nên”. Trong bảng xếp hạng loại người được kính trọng trong xã hội thì
“Quân-Sư-Phụ: Vua-Thầy-Cha” nghĩa là trừ Vua ra, người thầy giáo
được kính trọng bậc nhất. Học trò đi học không phải đóng học phí nhưng
Truyền thống được lưu giữ dưới nhiều hình thức khác nhau: hiện vật, tài liệu, tranh
ảnh, di tích lịch sử, văn hóa, trong sinh hoạt, lối sống, trong các tác phẩm văn học
nghệ thuật… Có những giá trị truyền thống tinh thần được đúc kết thành chân lý,
tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc.
Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII của Đảng ta đã đúc kết các ý kiến về giá trị
truyền thống cơ bản của người Việt Nam để đưa ra một định nghĩa về bản sắc dân
tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ
nước. “Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý
thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan
dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế
trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống... Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả
trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” [3, tr.56].
Hệ thống các giá trị truyền thống Việt Nam đã được hình thành trong suốt
hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong sự giao lưu, tiếp
thu, cải biến, chọn lọc những giá trị văn hoá của các dân tộc khác. Tuy vậy, cái cốt
13
lõi trong hệ thống các giá trị truyền thống Việt Nam hoàn toàn bắt nguồn từ nền
tảng của dân tộc, từ truyền thống hàng nghìn năm kiên trì chịu đựng gian khổ, khó
khăn và vượt qua một cách oanh liệt các tác động khắc nghiệt khác nhau của tự
nhiên và xã hội. Truyền thống vừa có giá trị tinh thần, vừa có giá trị giáo dục.
Truyền thống cũng bao gồm cả những mặt tích cực và tiêu cực.
Truyền thống được hình thành, tồn tại và phát triển nhờ hoạt động sáng tạo
của con người, của những mối quan hệ khác nhau, hoạt động này xuyên suốt quá
trình tồn tại của xã hội, của đời sống con người, mỗi tập thể và cộng đồng dân tộc.
Do đó bản chất của xã hội truyền thống là sự lặp đi lặp lại có tuyển chọn, sự tích
lũy, truyền bá, sự kế thừa và sáng tạo những kinh nghiệm sống và đấu tranh của các
quê hương, đất nước, yêu gia đình, trước hết là yêu ông bà, yêu cha mẹ, thầy cô anh
chị em ruột thịt, yêu bạn bè, biết yêu quý các gia đình thương binh liệt sỹ, các bà mẹ
Việt Nam anh hùng… mà khái quát thành tình yêu bao la – tình yêu nhân loại, như
đúng với 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng “yêu Tổ quốc, yêu đồng bào…”.
1.1.1.3. Giáo dục truyền thống yêu nước
Truyền thống có nhiều cấp độ, nhưng truyền thống đẹp nhất, đáng trân trọng
nhất của nhân dân Việt Nam chính là truyền thống yêu nước. Chính truyền thống
này đã giúp chúng ta tạo dựng nên tên tuổi quốc gia Việt Nam trên trường quốc tế.
Lòng yêu nước là tình yêu quê hương đất nước là lòng trung thành với Tổ quốc, có
khát vọng, có hành động tích cực để phục vụ và đem lại lợi ích cho Tổ quốc, nhân
dân.
Giáo dục truyền thống dân tộc nói chung, truyền thống yêu nước nói riêng là
yêu cầu quan trọng với sự tồn tại và phát triển của đất nước. Với nhiều hình thức
bằng nhiều thể loại văn hóa phong phú khác nhau, tổ tiên ta có nhiều kinh nghiệm
quý báu để giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ đời sau. Việc nghiên cứu
khai thác, chọn lọc, sử dụng, phát huy các hình thức giáo dục này rất có ích cho
công tác tư tưởng chính trị của chúng ta ngày nay. Đề cập đến vấn đề này GS. Phan
Huy Lê cho rằng “Mọi người có thể hiểu yêu nước là tình cảm phổ biến của nhân
dân các nước khi đã trở thành quốc gia, dân tộc, là tình cảm và ý thức trách nhiệm
đối với quê hương, đất nước, Tổ quốc” [13, tr.9].
Nói về sự cần thiết của việc giáo dục truyền thống yêu nước cho nhân dân,
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày
15
trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo
trong rương, hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều
được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh
Theo GS. Trần Văn Giàu, lịch sử dân tộc qua các thời kỳ dài ngắn khác
nhau, liên tục hay gián đoạn không giống nhau. Quá trình phát triển của lịch sử đó
gồm nhiều thời kỳ, nhiều biến cố, bên ngoài tưởng chừng rời rạc mà kỳ trung có
liên quan, ngay cả trong khi đứt, thường cũng có cái nối. Do vậy, “dường như có
một sợi chỉ nào, vô hình mà thực tại, xâu chuỗi các thời kỳ và các biến cố trọng yếu
của lịch sử của một số không nhỏ các dân tộc” [6, tr.99].
Trong thực tế lịch sử Việt Nam, lòng yêu nước không chỉ thể hiện bằng việc
chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc mà còn kết tinh rực rỡ trong sự nghiệp xây dựng,
bảo vệ đất nước sau khi giành độc lập. Rất nhiều cá nhân, tập thể có nhiều cống
hiến xứng đáng trong cuộc xây dựng đất nước, đã được Đảng và Nhà nước phong
tặng danh hiệu: Anh Hùng thời kỳ đổi mới.
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế theo xu hướng toàn cầu hóa, việc gìn giữ phát
triển truyền thống yêu nước không chỉ đối với đồng bào trong nước mà cả đồng bào
sống xa quê hương ở nhiều nước trên thế giới, luôn hướng về quê cha, đất tổ. Lòng
yêu nước là cơ sở để cố kết mọi người Việt Nam đấu tranh cho độc lập dân tộc, giàu
mạnh của đất nước và tiến bộ xã hội.
1.1.1.4. Truyện tranh
Từ điển bách khoa Việt Nam 4 định nghĩa “Truyện tranh là truyện được kể
bằng hình ảnh trong những khuôn hình nối tiếp nhau với những nhân vật, xuất hiện
liên tục. Phần lời chú thích hoặc đối thoại được ghi trong hoặc ngoài khuôn hình tùy
theo từng cách thể hiện của tác giả” [23, tr.632].
Truyện tranh trong tiếng Anh được gọi là Comics, nó được hiểu nôm na là
những câu chuyện trong cuộc sống hàng này của chúng ta hay cũng có thể là những
câu chuyện hư cấu, hay trong tưởng tượng được người ta chuyển hóa qua những
bức tranh vẽ, trong đó có thể chèn hoặc không chèn các lời thoại, các từ ngữ, hay
các câu văn kể chuyện. Truyện tranh có một lịch sử dài gắn liền với sự phát triển
của nhân loại. “Hình thức này đã có ở tranh tường, phù điêu trong những ngôi mộ
cổ Ai Cập, đền chùa Ấn Độ, Khơ Me, In-đô-nê-si-a, Trung Hoa…” [23, tr.632].
Thật ra, khái niệm “comics” nếu dịch đúng nghĩa đen thì chỉ đơn giản là “hài
manhwa trên thế giới, nhưng đối với thị trường truyện tranh Việt Nam, manhua vẫn
luôn giữ được một vị trí đặc biệt. Có thể nói, cách thể hiện hình vẽ của manga và
manhwa hiện nay đều có nguồn gốc từ hội họa Trung Hoa.
Khái niệm. Chữ “truyện tranh” trong tiếng Việt vừa chỉ loại truyện tranh trên
lời dưới (truyện tranh truyền thống), vừa chỉ loại truyện tranh hiện đại (comic,
18
manga, manhwa, manhua) rất phổ biến hiện nay. Vì vậy, khi nói đến truyện tranh
thời kỳ đầu ở Việt Nam là nói đến loại truyện tranh theo kiểu truyền thống, tranh
theo truyện hay truyện có tranh minh họa. Với một đội ngũ cộng tác viên là những
họa sĩ tài ba, ngay từ rất sớm, Nhà xuất bản Kim Đồng đã cho ra đời những truyện
tranh đầu tiên thuộc loại này. Ban đầu là truyện tranh đen trắng, về sau có thêm
truyện tranh màu, phần lớn là các đề tài truyền thống, như cổ tích, dân gian, lịch sử
hoặc đấu tranh cách mạng.
1.1.1.5. Đặc điểm của truyện tranh lịch sử Việt Nam
Truyện tranh lịch sử là một chuỗi câu chuyện dựng lại quá trình lịch sử nước
ta từ thuở xa xưa cho đến thời kỳ hiện đại. Trải qua bao thế hệ, bằng mồ hôi, xương
máu, các dân tộc Việt Nam đã cùng chung sức dựng nước và giữ nước, viết nên
những trang sử hào hùng trong nền văn minh nhân loại.
Truyện tranh lịch sử được biên soạn về tất cả các sự kiện và nhân vật lịch sử
theo đúng trình tự thời gian. Sách được biên soạn nhằm giúp cho học sinh và giáo
viên hiểu các khái niệm cơ bản, sự kiện nổi bật, nhân vật tiêu biểu, thuật ngữ Lịch
sử thông dụng, địa danh lịch sử, các tổ chức xã hội gắn liền và các tác phẩm quan
trọng viết về lịch sử Việt Nam và thế giới.
Trong quá trình biên soạn những sự kiện xác thực xảy ra trong lịch sử,
nhưng để tăng thêm tính hấp dẫn, những người biên soạn cũng lựa chọn đưa thêm
một số chi tiết huyền thoại có ghi trong chính sử.
Trong thực tế, truyện tranh thuộc loại hình văn học có tính nguyên hợp sâu
thống ghi nhận, mang tính xác thực. Bộ truyện được chia theo từng triều đại hay
từng giai đoạn lịch sử cụ thể, với các thông tin, sự kiện, nhân vật lịch sử được chọn
lọc từ các bộ sách của các nhà biên soạn lịch sử uy tín: Lam Sơn Thực Lục (Nguyễn
Trãi), Đại Việt Sử Ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Việt Nam Sử lược (Trần Trọng Kim),
Đại Nam thực lục (Quốc sử quán triều Nguyễn),…
Hầu hết các truyện đều có bố cục gọn gàng, nhẹ nhàng, tự nhiên và không gò
bó, lời văn trôi chảy, dễ đọc và đặc biệt chuẩn xác về mặt văn phạm. Người đọc có
thể thấy rõ mục đích giáo dục của từng câu chuyện, được trình bày một cách khéo
léo, thông qua các sự kiện diễn ra mà không lộ liễu như những lời khuyên răn hay
lên lớp. Có lẽ đây là ưu điểm lớn nhất của bộ Truyện tranh lịch sử Việt Nam.
Ngoài các kiến thức cơ bản trong chương trình giảng dạy, đọc Truyện tranh
lịch sử Việt Nam sẽ có cảm giác như đang đọc một quyển sách thú vị mà lại biết
20
thêm nhiều điều về lịch sử nước nhà. Cách tiếp cận lịch sử khá phù hợp với thị hiếu
của thiếu nhi thích những gì đơn giản, dễ hiểu, nhưng không kém phần hấp dẫn.
Nhà sử học Dương Trung Quốc nhận xét: “Đưa lịch sử vào tranh truyện là việc làm
sáng tạo, nhằm dạy các em thiếu nhi học sử Việt là việc làm đáng hoan nghênh. Sự
sáng tạo này trên thế giới cũng đã áp dụng nhiều nên cần phải khuyến khích, bởi đó
là cách làm trẻ hóa lịch sử”.
1.1.2. Đặc điểm của học sinh tiểu học
1.1.2.1. Tâm lý lứa tuổi từ 6-12 tuổi
Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 12 tuổi. Học sinh tiểu học là
thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát
triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất
định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân,
gia đình.
“Đối tượng nghiên cứu Tâm lý học lứa tuổi là động lực phát triển tâm lý, sự
1.1.2.2. Nhận thức dưới dạng biểu tượng, hình ảnh của học sinh tiểu học
Thuật ngữ của tri giác: “Tri giác là quá trình thu thập, giải nghĩa, lựa chọn và
tổ chức các thông tin từ giác quan” [Wikipedia - Bách khoa toàn thư mở].
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể ít đi sâu vào chi tiết và
mang tính không chủ định. Khả năng phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc khi
tri giác ở học sinh các lớp đầu bậc tiểu học còn yếu, các em thường thâu tóm sự vật
về toàn bộ, về đại thể để tri giác. Chẳng hạn khi cho các em tri giác một bức tranh
rất đẹp, sau đó cất bức tranh đó đi và yêu cầu các em vẽ lại thì thấy các em không
nhận thấy được rất nhiều chi tiết. Ở các lớp đầu bậc tiểu học thì tri giác của các em
thường gắn với những hành động và hoạt động thực tiễn của các em. Vì vậy, tất cả
các hình thức tri giác trực quan bằng sự vật, bằng hình ảnh và bằng lời nói cần được
sử dụng trong các giờ lên lớp ở bậc tiểu học. Tri giác của học sinh tiểu học còn
mang tính trực quan và mang tính cảm xúc nhiều. Nên trong quá trình dạy học giáo
viên không chỉ dạy trẻ kỹ năng nhìn mà còn phải biết xem xét sự vật, biết phát hiện
những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng. Không chỉ dạy trẻ nghe mà còn
dạy trẻ biết cách lắng nghe. Điều này không chỉ được thực hiện trong lớp học mà
còn được thực hiện khi đi tham quan, dã ngoại...
Trí nhớ của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan - hình tượng và được
phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lô gic. Các em nhớ và gìn giữ chính xác những sự vật
hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, khái niệm, những lời giải
22
thích dài dòng. học sinh đầu cấp thường có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng
cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu được những mối liên hệ, ý nghĩa của
tài liệu học tập đó. Nên các em thường học thuộc tài liệu học tập theo đúng câu,
từng chữ mà không sắp xếp lại để diễn đạt theo lời lẽ của mình.
Tư duy của trẻ mới đến trường mang tính trực quan cụ thể, mang tính hình
thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những sự vật hiện tượng cụ
người mới, của cách mạng. Vì vậy, hiểu được đặc điểm tình cảm và giáo dục tình
cảm cho học sinh tiểu học có vai trò quan trọng đặc biệt. Đặc trưng chung cho tình
cảm của học sinh tiểu học là tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc. Tình cảm của
các em không những chỉ biểu hiện ở trong quan hệ đời sống mà còn biểu hiện ngay
cả trong hoạt động trí tuệ của chúng. Các em tiếp thu kiến thức không đơn thuần
bằng lý trí mà còn dựa nhiều vào cảm tính và đượm màu sắc tình cảm. Muốn giáo
dục trẻ em đạt kết quả tốt phải tuân theo những nguyên tắc giáo dục, giáo dục phải
dựa vào và đi trước một bước trình độ phát triển tâm lý đã có của trẻ, đồng thời thúc
đẩy mạnh mẽ sự phát triển tâm lý của chúng. Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi
đồng chính là nội dung bài học giáo dục cơ bản cho các em về lòng yêu nước, về
đạo đức, cách ứng xử lễ độ, rèn luyện phẩm chất, nhân cách, trí tuệ, thể lực và thẩm
mỹ...
Trong các môn trẻ được học ở trường tiểu học, kể chuyện thuộc môn Văn –
Tiếng Việt, môn Lịch sử - Địa lý có một vai trò quan trọng trong vấn đề giáo dục
lòng yêu nước cho học sinh. Môn kể chuyện có những đặc trưng riêng của nó với
nội dung và hình ảnh sinh động được lồng ghép với truyện tranh tạo nên một thế
giới ly kỳ hấp dẫn, kích thích sự ham tìm hiểu, tính tò mò của trẻ mà đặc biệt với
các truyện tranh lịch sử Việt Nam.
1.1.2.4. Giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh tiểu học
Giáo dục truyền thống yêu nước tự hào dân tộc cho học sinh tiểu học cũng
chính là giáo dục một phần quan trọng trong giáo dục đạo đức cho học sinh – bộ
phận của quá trình giáo dục tổng thể nhằm hình thành ở học sinh những tình cảm tốt
đẹp đối với quê hương, đất nước, từ đó hình thành những hành vi, việc làm cụ thể
chứng tỏ lòng yêu nước, tự hào về một dân tộc ngàn năm văn hiến, trăm năm văn
vật. Dân tộc Việt Nam có một truyền thống, lịch sử rất đáng tự hào. Những chiến
công hiển hách qua 4.000 năm dựng nước và giữ nước ấy là kết tinh của lòng yêu
nước, ý thức tự tôn, tự hào dân tộc, tinh thần chiến đấu hy sinh anh dũng của bao
24
học sinh tiểu học là thời kỳ thuận lợi để hình thành các thành phần tạo nên nhân
25