Sáng kiến kinh nghiệm
GIÁO DỤC TINH THẦN YÊU NƯỚC CHO HỌC SINH QUA
TUYÊN NGÔN CỦA CÁC VĨ NHÂN
PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG
A/ Đặt vấn đề
Bất kì một giai đoạn lịch sử nào thì việc giáo dục tinh thần yêu nước,
lịch sử truyền thống dân tộc đều rất quan trọng và rất cần thiết .Ngày nay
khi đất nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiên đại hoá, khi chúng ta
đang từng bước tiếp cận với khoa học công nghệ cao của thế giới thì vấn
đề giáo dục truyền thống của dân tộc càng phải được coi trọng. Bởi
truyền thống lịch sử dân tộc chính là cái gốc, là nền tảng để chúng ta tiếp
thu cái hiện đại mà không xa rời bản sắc, đón nhận cái mới mà không
quên gốc gác,không xa rời truyền thống lịch sử của cha ông. Chúng ta
phải khắng định rằng, ngay từ bây giờ chúng ta phải quan tâm hơn, tích
cực hơn trong việc giáo dục lịch sử, truyền thống dân tộc cho học sinh
đúng như Bác Hồ đã nhắc nhở:
Dân ta phải biết sử ta
Cho tuờng gốc tích nước nhà Việt Nam
B/ Lý do chọn đề tài
Với tính đa dạng phong phú của bộ môn, nội dung các khoá trình lịch sủ
ở trường phổ thông có khả năng giáo dục nhiều mặt cho học sinh như:
Xây dựng niềm tin lí tuởng cách mạng trên cơ sở nhận thức đúng sự phát
triển khách quan, hợp quy luật của xã hội loài người . Giáo dục cho học
sinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng
1
nước và giữ nước và bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động cho học sinh.
Tri thức lịch sử của nhiều môn học khác xây dựng niềm tin cơ sở cho học
sinh, cung cấp cho học sinh vốn hiểu biết phổ thông, cơ bản vững chắc về
xã hội loài người, làm cơ sở để rút ra những kết luận khoa học, giúp học
đời sống xã hội truớc kia cũng như hiện nay.
Giáo dục lòng biết ơn đối với tổ tiên,với những người có công với Tổ
quốc như chủ tịch Hồ chí Minh đã viết : Chúng ta có quyền tự hào vì
những trang sử vẻ vang đời Bà Trưng,Bà Triệu,Quang Trung Chúng
ta phải ghi nhớ công lao các vị anh hùng dân tộc,vì các vị ấy là tiêu biểu
của một dân tộc anh hùng.
D.CẤU TRÚC ĐỀ TÀI GỒM 3 PHẦN:
PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG
- ĐẶT VẤN ĐỀ
- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
PHẦN II: NỘI DUNG
- NỘI DUNG CHÍNH CỦA CÁC TUYÊN NGÔN.
- NHỮNG TƯ TƯỞNG THÔNG QUA TUYÊN NGÔN
- KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
PHẦN III: KẾT LUẬN.
3
PHẦN II: NỘI DUNG
A.NỘI DUNG CỦA CÁC TUYÊN NGÔN TRONG LỊCH SỬ VIỆT
NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
(Được sử dụng trong dạy học lịch sử lớp 10,11 thuộc 2 ban, đặc biệt Lớp
10,11 Ban xã hội )
*****
I.Bản tuyên ngôn của các nước Tư bản.
1.Bản Tuyên ngôn về quyền hành của nước Anh.
Bản tuyên ngôn này được quốc hội Anh thông qua ngày 22-2-1689 khi
Quốc trưởng Hà lan Ô-gian-giơ được mời sang làm vua nước Anh.Tuyên
ngôn gồm 13 điều, điều nổi bật của bản tuyên ngôn này là qui định quyền
lực của Quốc hội.
Trước hết qui định quyền của các Nghị sĩ trong Quốc hội,điều thứ 9 viết:
" Tất cả những cuộc tranh luận và tất cả mọi văn kiện của nghị viện
do đó chính là quyền tự do ngôn luận , lập hội và chống áp bức và quyền
tự do kinh doanh tư hữu tài sản của mình.
Quyền bình đẳng đó là bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giàu
nghèo sang hèn
Tuy vậy Con người được hưởng quyền tự do bỉnh đẳng ở đây không bao
gồm nô lệ da đen. Để đảm bảo quyền tự do và bình đẳng, nhân dân thành
lập chính phủ, quyền lực của chính phủ là từ nhân dân,nếu chính phủ làm
tổn hại đến lợi ích của nhân dân, nhân dân có quyền thay đổi hoặc phế
truất chính phủ,lập nên chính phủ mới.
Bản tuyên ngôn độc lập của nước Hoa Kì được công bố đã tích cực động
viên Hoa Kì tham gia chiến tranh giành độc lập, đồng thời ảnh hưởng
lớn tới bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789
5
và sự ra đời của tư tưởng lập pháp của giai cấp tư sản ở Châu Âu. Nó
được liệt vào bộ luật quan trọng trong lịch sử pháp chế nhân loại.
Sau bản tuyên ngôn độc lập, Mĩ còn công bố một văn bản nữa với tên gọi
Các điều khoản của liên bang . Trong đó cụ thể hoá quyền lực của quốc
hội Mĩ
Điều 7 quy định Nghị viện hợp chủng quốc có quyền kí kết các hiệp ước
và hợp đồng quy định giá trị về số lượng tiền tệ đúc ra, thiết lập các
định mức về trọng lượng và kích thước tiền trong tất cả các bang.
Điều 13 quy định: Tất cả các bang phải có quy định, nghĩa vụ phục tùng
nghị quyết của nghị viện hợp chúng quốc.
Các điều khoản của liên bang là hiến pháp đầu tiên của hợp chúng quốc
Hoa Kì.
3.Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp.
Tuyên ngôn được Quốc hội lập hiến thông qua ngày 27- 8-1789. Do
Xiâyét khởi thảo, dưới sự giúp đỡ của Giép - phéc- sơn(1789
Giépphécsơn đang làm công sứ Hoa Kì tại Pháp) Xiâyét ( 1748-1836),
vốn là viện trưởng một tu viện Thiên chúa giáo. Tuy là cha cố nhưng
tuởng của Rút xô . Rút xô là người đầu tiên đề xướng tư tưởng quyền tài
sản của công dân ông nói : quyền tài sản về phương diện nào đó còn
quan trọng hơn cả quyền tự do. Quyền tư hữu được xác lập trong tuyên
ngôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng , nó bảo đảm quyền phát triển xã
hội . Bởi vì con người được quyền tư hữu của cải và cả sức lao động mới
đuợc nâng cao.Ngoài ra quyền tư hữu được bảo vệ còn bảo đảm an ninh
xã hội
II. Tuyên ngôn trong lịch sử Việt Nam.
1. Bài thơ " Nam quốc sơn hà " của Lí Thường Kiệt.
7
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Dịch thơ
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
2." Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn.
Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp
buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường.Uốn
lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ,
thác mệnh Hốt Tất Liệt, mà đòi ngọc lụa để thoả lòng tham không cùng ,
giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vơ vét của kho có
hạn.Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ
về sau Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt,
nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu
quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói
trong da ngựa, ta cũng vui lòng.
quân giặc , muôn đời để thẹn há còn mạt mũi nào đứng trong trời đất
nữa.Ta viết bài hịch này để các ngươi biết bụng ta.
3 Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
9
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông, bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu , Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào chẳng có Họ đã tham sống sợ chết , mà hoà hiếu một lòng
Ta lấy toàn quân là hơn , để nhân dân nghỉ sức
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiền khôn bĩ mà lại thái
Nhật nguyệt hối mà lại minh
Muôn thủa, nền thái bình vững chắc
Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng , ngầm giúp đỡ mới được như
vậy
chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do bình đẳng đã ghi trong
Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ.
Vận dụng tinh thần tự do, bình đẳng tiêu biểu cho nguyện vọng độc lập
tự do của nhân Mĩ , khi soạn tuyên Ngôn độc lập của nước Việt Nam dân
chủ Cộng hoà , Chủ tịch Hồ chí Minh đã trích một khẳng định quyền tự
do và độc lập của nhân dân Vệt Nam.
2.Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp
Bản tuyên ngôn này đã công khai ghi rõ các quyền tự do dân chủ : tự do
thân thể , tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, quyền bình đẳng của mọi
người trước pháp luật, quyền chống áp bức
Bản tuyên ngôn đã ảnh hưởng lớn đến phong trào của nhân dân các nước
đang đấu tranh chống chế độ phong kiến lúc bấy giờ.
Tuyên ngôn
độc lập của
nước Việt
Nam Dân Chủ
Cộng Hoà
của Chủ tịch
Hồ Chí Minh
Tuyên ngôn độc lập của
Hoa kì do Giécphecson
thảo ra.
Hịch tướng sĩ của
Trần Quốc Tuấn
Tuyên
ngôn
Nhân
quyền và
Dân
quyền
gần 100 năm
đấu tranh
chống đế quốc
thực dân Pháp
giành độc lập
của toàn dân
tộc ta và tổng
kết cả một đời
hoạt động
cách mạng của
bản thân.
-TRong chiến tranh giải
phóng của nhân dân Bắc
Mĩ chống chủ nghĩa thực
dân Anh, Các xứ thuộc địa
Anh ở Bắc Mĩ đã tổ chức
các cuộc đại hội đaị biểu
đeer thoả luận những biện
pháp chống bọn Thực dân
Anh .Nghị quyết tuyên bố
các xứ thuộc địa là những
nước tự do độc lập tách
khởi phạm vi, quyền lực
của Anh.Bản dự án nghị
quyết này đựoc đại biểu
13 bang thông qua và trở
thành tuyên ngôn độc lập
của nước Mĩ
-Khi quân Nguyên
ráo riết chuẩn bi
nghị 3
đẳng cấp
và được
hội nghị
uỷ thác
thảo bản
tuyên
ngôn
13
3.Hịch tướng sĩ.
Đây là một bài văn nhằm kêu gọi tướng lĩnh chỉ huy quân đội, đánh vào
công tác tư tưởng. Hịch tướng sĩ không phải là bản tổng kết chiến tranh
cũng không phải là bản tóm tắt lịch sử chiến tranh mà chỉ nhằm đánh đổ
một số tư tưởng không đúng đang lưu hành trong hàng ngũ tướng sĩ ,
nhằm xây dựng tư tưởng đúng đắn cần phải có trước tình hình cuộc xâm
lược sắp nổ ra. Nội dung tư tưởng của Hịch tướng sĩ rất phong phú, đặc
sắc đó là:
a.Không có tư tưởng sợ địch.
Đọc xong bài Hịch tướng sĩ , tất cả những ai thông hiểu lực lượng so
sánhViệt - Nguyên đều lấy làm lạ không thấy trong bài Hịch đoạn, một
câu, một chữ ,một ý ngắn nào nói rằng tướng sĩ Đại việt sợ quân
Nguyên, phục quân Nguyên. Không có, lạ thật mà quả là như vậy.
Chẳng lẽ các tướng sĩ Đại Việt lại không hay biết rằng quân Mông rất
háo sát , từng giết toàn dân của cả một thành phố có gan chống lại , giết
hết chỉ trừ có 400 thợ thủ công ? Chẳng lẽ họ không biết rằng bên Tây,
Giáo Hoàng La mã truyền thông điệp nói ông ta sợ người Tác Ta cho
đến "Xương nát tuỷ khô , thân gầy sức kiệt " còn bên Đông nước Tống
rộng lớn như thế , đông dân như thế , văn hoá thịnh đạt như thế cuối cùng
vua Tống và triều thần không còn chỗ dung thân phải ôm nhau nhảy
xuống biển. Chẳng lẽ Trần Quốc Tuấn nắm chắc tinh thần quân đội mà
Thời này là thời nhiễu nhương , buổi này là buổi gian nan , nào phải là
buổi hoà bình an lạc, đừng nhận định sai lầm.Làm tướng trong tình thế
khách quan đó , phải làm gì?
Chủ tướng thì đau lòng , âu lo căm thù , ngày đêm tính kế rửa nhục nước
, không quản hi sinh , còn tuớng sĩ thế nào ? Trần Quốc Tuấn nghiêm
15
khắc vạch ra những điều hư hỏng , cái hư lớn nhất, nguy nhât là không
biết thẹn với cái nhục chung của nước, Là thái độ thờ ơ với vận mệnh
nước nhà. Biết thẹn, biết nhục là một điều lớn trong đạo làm người nói
chung. "Mặt dày mày dạn" là lời nhân dân thường dùng để chê kẻ không
biết thẹn, không biết nhục. Không biết thẹn biết nhục là kẻ bỏ đi. Người
ta can đảm chiến đấu bảo vệ quê hương , mình nhát sợ co rúm ở xó bếp
mà không biết thẹn, thì còn nói gì đến chí trai? Uốn lưng chống gối
trước kẻ xâm lược dã không biết đó là nhục lại còn lấy đó làm vinh, làm
kế sinh nhai, thì còn đâu xứng đáng đứng trong trời đất. Như vậy bài
Hịch của Trần Quốc Tuấn lấy cái tâm lí biết thẹn biết nhục làm đòn bẩy
tinh thần , đả phá tư tưởng thờ ơ, hưởng lạc , kích động vinh dự quân
nhân.
c.Đả phá tư tưởng thờ ơ hưởng lạc , xây dựng tư tưởng quyết
chiến,quyết thắng.
Trần Quốc Tuán liệt kê những hiện tượng cụ thể của căn bệnh thờ ơ
trầm trọng, căn bệnh hưởng lạc nguy hiểm chắc là khá phổ biến trong
hàng ngũ tướng sĩ lúc bấy giờ:"Nay các người nhìn chủ nhục mà không
biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn Lấy việc chọi gà làm vui
đùa, lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển "Tư tuởng thờ ơ hưởng lạc nếu
không bị đánh đổ sẽ dẫn đến chỗ bi thảm ấy.Không chỉ có những người
lãnh đạo quốc gia, bị thiệt và mang nhục mà cả tướng sĩ và mọi người
đều mang nhục. Giống như dưới đống mồi khô có ngọn lửa, khi củi chưa
cháy,đừng tuởng nằm bên trên đống lửa là yên ổn, kì thật sắp chết đến
nơi và phải nhận rõ nguy cơ cấp bách là giặc Sát Thát sắp tràn vào,hãy
đánh dấu cuộc chuyển biến tư tưởng tiền đề của chiến thắng lẫm liệt đó.
2.Bình Ngô đại cáo.
17
Là bản lịch sử tóm tắt 10 năm kháng chiến để toàn dân ghi nhớ chặng
đường và những thành tích của khởi nghĩa Lam Sơn hiểu rõ ý nghĩa và
tầm quan trọng của cuộc chiến thắng, thấm nhuần công đức và tư tưởng
chính trị của vua Lê và đây thực sự là bảng tổng kết kinh nghiệm cuộc
chiến đấu chống Minh, rút từ đó một số bài học về đường lối đánh giặc
cứu nước có giá trị lâu dài cho sự nghiệp bản vệ nền độc lập dân tộc.
Trong hiện đại trải qua kháng chiến chống Pháp chống Mĩ , cái áng cổ
văn được trích dẫn thường nhất là "Bình ngô đại cáo" và bao giờ cũng có
tác dung tích cực , động viên soi sáng . 550 năm đã trôi qua mà bài "Cáo
bình Ngô " vẫn có ý nghĩa hiện đại , hợp thời .Thực ra thì cũng phải đến
hiện đại , nhờ ánh sáng chủ nghĩa Mác Lê nin , người mình mới phát hiện
Nguyễn Trãi một cách đầy đủ và cơ bản.
a.Ý thức dân tộc và tự hào dân tộc phát triển đến mức cao.
"Như nước Đại Việt ta từ trước
Song hào kiệt đời nào cũng có"
Nguyễn Trãi như muốn đánh đổ định kiến sai lầm của các triều đại
phương Bắc là nhân dân nước Nam là mọi rợ và định kiến nước ta là một
bộ phận của Trung Quốc .Chúng ta có lãnh thổ riêng, văn hoá riêng và có
yếu tố chủ quyền,Đại Việt đã từng đương đầu với Hán, Đường, Tống
Nguyên , mỗi bên làm đế một phương hàng trăm hàng ngàn năm như vậy
thì Trung Quốc có thể nào phủ nhận sự tồn tại của Đại Việt.
Nguyễn Trãi cũng đề cao lòng tự hào dân tộc chính dáng, đó là nguồn
sức mạnh không bao giờ thừa nhất là trong lúc chiến đấu chống ngoại
xâm.
b.Ngọn cờ nhân nghĩa cứu nước cứu dân dựa vào dân mà cứu nước
Ý thức dân tộc của ta như thế nào . Tự hào của dân tộc ta như thế ấy . Ở
19
lên, cái ý cốt lõi , cái nguyên tắc cơ bản của 2 bản tuyên ngôn của Mĩ và
Pháp.
Bản tuyên ngôn 1776 của Mĩ nói: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền
bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm
đựoc, trong những quyền ấy,có quyền được sống , quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc ". Từ quyền cá nhân con người , mỗi công dân, nhà
cách mạng Hồ Chí Minh đã mở rộng, nêu quyền dân tộc: Tất cả các dân
tọc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng , dân tộc nào cũng có quyền sống,
quyền sung sướng và quyền tự do ". Và Người đã nắm chắc mối quan hệ
biện chứng giữa quyền con người và quyền dân tộc .Dân tộc không được
độc lập thì cũng chẳng có quyền con người .Trong những nước thuộc địa
thì tình trạng này đã quá rõ .Và nguyên tắc mà Hồ Chí Minh nêu lên thì
đã được xác nhận trong hiến chương Liên Hợp Quốc và trong tuyên
ngôn về các quyền con người được liên Hợp Quốc thông qua năm
1948.Sự đóng góp của bản tuyên ngôn độc lập 2-9-45 của Việt Nam vào
lí luận quyên con người gắn với quyền dân tộc là rất quan trọng.
Ta cũng có thể suy nghĩ thêm:Tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu
"Tuyên ngôn độc lập" bằng cách trích dẫn hai bản tuyên Ngôn của Pháp,
Mĩ?
Lúc ấy (tháng 9/450, rất ít nước , ít chính phủ biết đến Việt Nam.Cho
nên nếu ta đưa một bản Tuyên ngôn độc lập hoàn toàn với lập trường của
ta (dù với quan điểm đanh thép chăng nữa ) thì tác dụng thông điệp với
cộng đồng quốc tế chắc là có phần bị hạn chế .Còn Chủ tịch Hồ Chí
Minh sau khi trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ, Pháp thì đã khoá lại
bằng một câu :"Đó là những lẽ không ai chối cãi được"
Sau phần mở đầu về nguyên lí độc lập,đến phần kể tội chủ nghĩa thực dân
Pháp. Rõ ràng đây là sự tiếp tục cuộc đấu tranh kiên trì , dai dẳng từ bản
"Yêu sách của nhân dân việt Nam "gửi hội nghị Véc sai 1919, đòi tự do
20
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyên tự do độc lập ấy .
Chứng minh một chân lí mà ai cũng phải thừa nhận. Dân tộc Việt nam ta
dù nhỏ bé nưng vẫn là một dân tộc. Chúng ta cũng có quyền sống , quyền
bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới không kẻ nào có quyền
tước bỏ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm đó.
b.Tố cáo tội ác của bọn đế quốc
Người tố cáo tội ác của Pháp nhiều hơn Nhật điều này không có ý nghĩa
là tội ác của Nhật ít hơn của Pháp .Thực tế phát xít Nhật còn dã man hơn
cả thực dân Pháp. Sở dĩ như vậy vì Pháp là kẻ thông trị Đông dương ,
gây bao tội ác cho nhân dân Đông dương .Nhưng Pháp đã không bảo hộ
được Đông dương.Trên thực tế nhân dân ta đã giành được chính quyền
từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Dụng ý tuyên ngôn muốn chỉ
cho đồng bào thấy chính Pháp là kẻ đang muốn trở lại xâm lược Đông
Dương, giặc Nhật không còn thực lực nữa.Mặt khác tuyên ngôn muốn
nhắc nhở đồng bào ta nhớ lại tội ác của Pháp mà căm thù chúng , đề cao
cảnh giác và sẵn sàng đánh trả chúng một khi chúng trở lại Đông Dương.
c.Khẳng định chủ quyền của dân tộc.
Tuyên ngôn viết "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thực
sự đã thành một nước tự do, độc lập "Như vậy tuyên ngôn đã khẳng định
cả hai phương diện:Trên pháp lí cũng như trên thực tế chủ quyên của dân
tộc ta.
d.Khẳng định ý chí quyết tâm giữ gìn độc lập dân tộc.
"Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần, lực lượng, tính
mạng của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy "Bản tuyên ngôn là
một văn kiện vô giá vì đã tổng kết được tất cả những thành tựu đấu tranh
ngót 100 năm chống Đế quốc,hàng nghìn năm chống phong kiến của
nhân dân ta được viết nên bằng xương máu đồng thời đã khai sinh ra
22
nước Việt Nam dân Chủ Cộng Hoà- mở ra một kỉ nguyên mới cho dân
tộc - kỉ nguyên độc lập tự do tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Lam Sơn toàn thắng . "Nam quốc sơn Hà" ra đời dưới dạng 1 bài cổ
động không chính thức còn ""Bình ngô đại cáo"là tiếng nói trịnh trọng
của của vua nước ta , trực tiếp cho dân nước ta,gián tiếp cho triều đình
Bắc quốc , cho nên trên thực tế lịch sử ""Bình ngô đại cáo" mang đầy đủ
nội dung của 1 bản tuyên ngôn độc lập sau "Nam quốc sơn Hà
Hơn 500 năm sau ""Bình ngô đại cáo", Chủ tịch Hồ chí Minh đọc
bản "Tuyên ngôn Độc lập" tại Ba Đình -Hà nội Ngày 2/9/1945.Cụ Hồ chí
Minh khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam và cảnh cáo
thực dân chớ liều lĩnh xâm phạm quyền độc lập tự do ấy.
Lịch sử kháng chiến dài 30 năm tù 1945-1975 chứng tỏ rằng lời khẳng
định , lời cảnh cáo trong tuyên ngôn độc lập không phải chỉ là lời nói của
một chính phủ lâm thời đó chính là quyết tâm của cả dân tộc .
"Nam quốc sơn Hà, ""Bình ngô đại cáo""Tuyên ngôn Độc lập"là
những giai đoạn phát triển của một lí tưởng "Không có gì quý hơn độc
lập tự do"
B/ TRẮC NGHIỆM KIỂM CHỨNG ĐỀ TÀI.
Thông qua các bản tuyên ngôn của thế giới và Việt Nam, qua việc dạy
các bài học trên lớp tôi đã lồng ghép giáo dục về tinh thần yêu nước, tính
tự tôn, từ hào dân tộc tới các em học sinh và thấy các em rất say mê trong
các bài học và tự ý thức được trách nhiệm của mình với dân tộc.
Kết quả thực nghiệm ở các khối như sau.
KHỐI HỨNG THÚ HIỂU BÀI KẾT QUẢ
24
HC KIM TRA
VIT
10
100% 90%
90%
- Giỏi: 30%