MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
I. Lí do chọn đề tài
2
II. Mục đích nghiên cứu
3
III. Đối tượng nghiên cứu
3
IV. Phương pháp nghiên cứu
3
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với sản xuất và đời sống
4
II. Sự phân bố nước trên lục địa và những quan niệm sai lầm về tài
5
nguyên nước
III. Những tác động của sản xuất và sinh hoạt đến tài nguyên nước
7
IV. Hiện trạng sử dụng nước ở Việt Nam
9
V. Công nghệ thông tin góp phần tích cực và việc giảng dạy và học tập
10
ở nhà trường phổ thông
VI. Những bài học tích hợp nội dung giáo dục sử dụng và bảo vệ tài
10
nguyên nước
VII. Một số bài giảng minh họa
VIII. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
13
C. PHẦN KẾT LUẬN
nên có tên gọi như: văn minh lúa nước, văn minh sông Hồng hay nền văn minh
Văn Lang - Âu Lạc.
Nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng cao đòi hỏi phải sử dụng nước nhiều
hơn nữa. Tuy nhiên trên thế giới có đến trên 80% nước thải chưa qua xử lí làm
cho nước bị ô nhiễm nặng trong đó có cả ở nước ta. Nhận thấy tầm quan trọng
của nước nên chủ đề của cuộc thi viết thư Quốc tế (UPU) đưa ra năm 2017 “ô
nhiễm môi trường” là chủ đề chung trong đó có ô nhiễm môi trường nước.
Sau khi Hội nghị về môi trương thế giới tổ chức tại Rio de Janero - Braxin, các
thành viên của Liên Hợp Quốc (UN - United Nations) đã đưa ra đề xuất thành
lập ngày nước thế giới. Một năm sau theo công ước số: A/RES/47/93 ngày
22/03/1993 thành lập ngày nước thế giới (W.W.D – World Water Day) và chủ đề
nhân ngày nước thế giới năm 2017 “Waste Water - nước thải”. Như vậy vấn đề
cần đặt ra ở đây là tăng cường đầu tư vốn, phát triển khoa học công nghệ để xử
lí nước thải không gây ô nhiễm nguồn nước ở ao, hồ, sông suối, đất nông
nghiệp…
Nhận thấy tính cấp thiết về vấn đề nước đối với quá trình sản xuất và đời sống
nên tôi quyết định chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục tài nguyên nước đối với sinh
2
hoạt và sản xuất cho học sinh Trường THPT Quan Sơn qua một số bài giảng Địa
lí”. Việc nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình giảng
dạy. Qua đó giáo dục học sinh có ý thức về việc tuyên truyền và bảo vệ tài
nguyên nước đặc biệt là học sinh ở khu vực miền núi cao cần bảo vệ vốn rừng là
bảo vệ nguồn nước cung cấp cho sông, suối…
II. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu vòng tuần hoàn nước trên Trái Đất, sự phân bố nước trên lục địa.
- Tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với sản xuất và đời sống.
- Những mặt trái của hoạt động sản xuất và đời sống gây ô nhiễm nguồn nước.
- Lựa chọn nội dung tích hợp giáo dục sử dụng nguồn tài nguyên nước tiết kiệm
để thích nghi. Cây xương rồng là một ví dụ minh chứng khi lá biến thành gai để
tránh thoát hơi nước, rễ của một số loài thực vật đâm rất sâu, một số loài thực
vật chỉ sinh trưởng trong một thời gian quá ngắn rồi chết. Khi đó ở vùng nhiệt
đới ẩm thấp sinh vật khá phong phú, đa dạng.
Gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin “Sông Slims -Dòng
sông bị đánh cắp” ở Canada, lòng sông này giờ khô hạn, trơ đáy gây khó khăn
cho sản xuất và đời sống.
Ở nơi nào có nguồn nước dồi dào, địa hình tương đối bằng phẳng tạo nhiều
thuận lợi cho việc cư trú và sản xuất. Các nền văn minh lớn trên thế giới gắn liền
với các đồng bằng phì nhiêu màu mỡ do các con sông lớn bồi đắp. Nhờ có các
con sông mà đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào đóng vai trò tiên quyết đến sự
phân bố dân cư.
Qua những hiểu biết của bản thân, cá nhân tôi nhận định tầm quan trọng của
tài nguyên nước như sau:
- Phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của con người, đặc biệt là các đô thị lớn
đông dân cư. Theo ước tính bình quân mỗi người dân đô thị phải có tối thiểu 300
lít nước sạch trong một ngày.
- Nước phục vụ cho sản xuất công nghiệp đặc biệt có một số ngành công nghiệp
cần một lượng nước rất lớn như: lọc hóa dầu, luyện kim, hóa chất, giấy…
- Mạnh lưới sông ngòi, đặc biệt là các con sông lớn, biển và đại dương để phát
triển giao thông vận tải.
- Phát triển dịch vụ (du lịch) gắn liền với tài nguyên thiên nhiên như bãi tắm, hồ
nước, suối nước khoáng, bùn khoáng…
- Điều tiết khí hậu: những nơi gần nguồn nước phong phú thì khí hậu điều hòa,
dễ chịu hơn.
Ví dụ: nước ta nằm gần biển Đông khi các khối khí thổi qua biển Đông lại
nhận được thêm hơi ẩm thổi sâu vào đất liền do lãnh thổ kéo dài theo chiều Bắc
- Nam hẹp theo chiều Đông - Tây. Vì vậy nước ta có lượng mưa lớn, khí hậu bớt
4
bán hoang mạc) thường xuyên thiếu nước. Ở châu Mỹ có các sa mạc ở nước
Mỹ, Actacama (Nam Mỹ) là điển hình, ở châu Âu là các hoang mạc tuyết (lạnh),
châu Phi (Sahara, Na muýp…), ở khu vực Tây Nam Á, hoang mạc Thar (Ấn
Độ), Taklahama (Trung Quốc), Gôbi (Trung Quốc, Mông Cổ), các hoang mạc ở
lục địa Australia… Đó là một số minh chứng cho thấy nước phân bố không đồng
đều trên bề mặt lục địa.
Nguyên nhân sâu xa dẫn đến hiện tượng này phần lớn là do những tác động
tiêu cực của con người trong quá trình sản xuất và sinh hoạt. Đặc biệt là tình
trạng phá rừng bừa bãi làm tăng diện tích đất trống làm mất lớp phủ thực vật,
mất nước ngầm dẫn đến cạn kiệt.
5
Như vậy nguồn nước phân bố không đều còn do lượng mưa không đồng đều
trên Trái Đất. Vấn đề đặt ra ở đây là cần phải bảo vệ rừng đặc biệt là ở trung du
và khu vực miền núi cao nơi dự trữ nước cung cấp cho sông, suối. Gần đây các
phương tiện thông tin đại chúng đưa tin ở một làng nọ tại Ấn Độ lấy vợ về với
nhiệm vụ duy nhất là đi lấy nước về cho cả nhà sinh hoạt.
2. Quan niệm của con người về tài nguyên nước:
Nước tồn tại ở ao, hồ, sông, suối, nước ngầm, băng tuyết (trên bề mặt lục địa),
biển, đại dương. Ngoài ra nước còn có trong sinh vật, khí quyển (dạng hơi
nước). Như vậy vòng tuần hoàn nước xảy ra thường xuyên (bốc hơi -ngưng tụ
hơi nước - mưa) nên rất nhiều người cho rằng nước không bao giờ hết. Như vậy
họ cho rằng hết nước thì Trái Đất không tồn tại sự sống.
Trước những vấn đề đã nêu trên thì nhiều người tin rằng nước là nguồn tài
nguyên vô tận giống như năng lượng gió, thủy triều, năng lượng mặt trời. Nước
sẽ không bao giờ hết, là nguồn tài nguyên vô tận vì bề mặt lục địa không bao giờ
hết nước.
Nhưng do hoạt động sản xuất và đời sống của con người nhu cầu về nguồn
đề như: ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng không không nhỏ đến sức khỏe của con
người. Ở những quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên Bang
Đức… đã xử lí nước thải triệt để và có thể tái sử dụng trở lại. Vấn đề đặt ra là
các doanh nghiệp phải giảm bớt lợi nhuận, đầu tư vốn cho việc xây dựng nhà
máy xử lí nước thải là điều kiện bắt buộc, chính phủ và các cơ quan chức năng
ban ngành phải thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ.
1. Ô nhiễm nguồn nước do tự nhiên gây nên:
a) Hoạt động của núi lửa:
Bên cạnh những lợi lích do núi lửa tạo nên như hình thành các vùng đất màu
mỡ, các suối nước nóng, khoáng bùn có lợi cho sinh hoạt và sản xuất. Tuy
nhiên các hồ núi lửa có hàm lượng a xít khá cao, nếu như nó tràn ra ngoài gây
khó khăn cho sinh hoạt ví dụ như hồ núi lửa lớn nhất thế giới Toba (Indonesia)
rộng khoảng 3000 km2.
b) Hiện tượng ngập úng nước:
Hiện tượng này xảy ra ở những vùng trũng có nhiều thực vật sinh sống. Khi
thực vật chết đi tạo thành một lớp màng che phủ, đất không thể trao đổi khí gây
ra hiện tượng úng nước. Trong đất, bùn có nhiều nguyên tố hóa học như mê tan
(CH4), hyđrô sunfua (H2S), Fe2+ … nước có mùi chua.
c) Do hạn hán: Hạn hán kéo dài là hiện tượng của tự nhiên, nhưng nó làm cho
các loài động thực vật bị chết. Khi có mưa những xác chết này đang phân
hủy gây ô nhiễm môi trường nước. [6]
d) Ngập lụt:
7
Mưa lũ kéo dài dẫn đến tình trạng ngập lụt, nước mưa có màu đục vì mang
theo phù sa bên cạnh đó còn có các chất thải của chăn nuôi, những nhà vệ sinh
không đảm bảo cũng ngập trong nước làm cho nước bị ô nhiễm. Nếu con người
dùng vào ăn uống sinh hoạt thì nguy cơ bùng phát dịch bệnh khá cao…[6]
e) Xâm nhập mặn:
rạch, sông suối…
d) Do hoạt động giao thông vận tải: Xảy ra ở vùng cửa sông, ở các cảng biển.
Phần lớn là do rửa tàu chở dầu, sự cố tai nạn, tràn dầu…
e) Do chiến tranh:
8
Do không tìm hiểu nhiều về vấn đề này, bản thân tôi lấy dẫn chứng minh họa.
Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã sử dụng chất độc điôxin gây
ra tội ác cho con người khi nhiễm phải loại chất độc này. Nó xâm nhập vào cơ
thể gây ra những di chứng cho các thế hệ sau như bại liệt, hở hàm ếch, kém phát
triển về trí tuệ, dị tất bẩm sinh… Chất độc này vẫn đang còn tồn đọng mặc dù
chiến tranh đã đi qua 42 năm. Những nơi được phát hiện còn tồn dư như sân bay
Đà Nẵng, Biên Hòa…Hiện tại loại chất độc này vẫn đang tồn tại trong đất và
ngấm vào nước là vấn đề lo ngại đối với con người.[9]
d) Do các chất phóng xạ:
Do việc sử dụng các chất phóng xạ, làm giàu uranium, nếu như các chất phóng
xạ này không xử dụng phải xây dựng các hố chôn đặc biệt để chôn lấp an toàn.
[9]
Do sự cố trong quá trình hoạt động như vụ nổ nhà máy điện nguyên tử
Chernobyn ở Ukraina (Liên Xô cũ năm 1986), thảm họa kép động đất đi kèm
với sóng thần Fukushima năm 2012. Hai sự cố này làm đau đầu các giới chức
khoa học vì ô nhiễm phóng xạ đến không khí, đất và nước.
IV. Hiện trạng sử dụng nước ở Việt Nam:
Nước ta hiện nay theo số liệu thống kê có 2360 con sông suối với chiều dài
trên 10 km, dọc bờ biển cứ cách 20 km lại có một cửa sông lớn. Mạng lưới sông
ngòi của nước ta dày đặc nhưng chủ yếu là sông ngắn. Vì vậy nhiều người cứ
cho rằng với mạng lưới sông ngòi như vậy sẽ không thể thiếu nước. Nhưng các
nhà khoa học lại nhận định rằng Việt Nam sẽ thiếu nước. Với dân số hiện nay
khoảng trên 95 triệu người, hoạt động sản xuất đang được khôi phục và mở rộng
một năm xảy ra sự cố các rặng san hô vẫn phát triển chậm, sinh vật phù du, sinh
vật đáy giảm sút mạnh.
V. Công nghệ thông tin góp phần tích cực và việc giảng dạy và học tập ở
nhà trường phổ thông:
Sự phát triển của công nghệ tác động không nhỏ đến đời sống, hoạt động sản
xuất cũng như học tập của con người. Đặc biệt là việc tìm kiếm các thông tin
một cách nhanh chóng, kịp thời.
- Giúp lưu giữ, gửi các file dữ liệu phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và
nghiên cứu.
- Downd load các thông tin, hình ảnh trên mạng Internet, là công cụ đắc lực cho
việc tìm kiếm các thông tin trên mạng và chọn lọc nội dung kiến thức cần tìm
hiểu, nghiên cứu.
- Máy chiếu Projector vừa truyền tải hình ảnh, âm thanh, là phương tiện dạy học
trực quan.
- Điện thoại thông minh cho phép học sinh hoặc giáo viên quay các clip, đoạn
video để phục vụ học tập.
VI. Những bài học tích hợp nội dung giáo dục sử dụng và bảo vệ tài nguyên
nước:
Có những bài học giáo viên chỉ chọn những nội dung cơ bản, lồng ghép kết
hợp với liên hệ thực tế với Việt Nam hoặc tại địa phương để học sinh thấy được
tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với sinh hoạt và đời sống.
Chương trình lớp 10 (Ban cơ bản)
Hình thức
Bài học
Tên bài
Nội dung tích hợp
tổ chức
dạy học
Tác động của
ngoại lực đến địa
Thực hành
mưa, phân bố lượng mưa trên Trái
Đất
Phân tích một số kiểu khí hậu tiêu
biểu trên Trái Đất
Thủy quyển. Một
Một số nhân tố ảnh hưởng đến chế
số nhân tố ảnh
độ nước sông. Một số con sông
hưởng đến chế độ
lớn trên Trái Đất
nước sông….
Lớp vỏ địa lí. Quy
Khi có sự thay đổi của một thành
luật thống nhất và
phần tự nhiên thì các thành phần
hoàn chỉnh của lớp
khác sẽ thay đổi theo
vỏ địa lí
Dân số và sự gia
Ảnh hưởng tiêu cực của dân số
tăng dân số
đến tài nguyên, môi trường
Phân bố dân cư.
Ảnh hưởng tiêu cực của đô thị hóa
Đô thị hóa
Địa lí ngành trồng
khu vực Tây nam
Thiếu nước cho sinh hoạt và sản
Á và Trung Á
xuất
Hợp chúng quốc
Miền Tây: thiếu nước
Hoa Kì
Cộng hòa nhân dân Miền Tây. Dân số đông chiếm 1/5
Trung Hoa
dân số thế giới
Khu vực Đông
Phân bố nước không đồng
Nam Á
đều,thiếu nước đối với quốc đảo
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
ảnh hưởng sâu sắc
Khí hậu
của biển
Thiên nhiên nhiệt
Sông ngòi, sinh vật
đới ẩm gió mùa
Sử dụng và bảo vệ
tài nguyên thiên
Đa dạng sinh học
nhiên
Bảo vệ môi trường
và phòng chống
Môi trường nước (ngập lụt)
thiên tai
Đô thị hóa
Ảnh hưởng tiêu cực của đô thị hóa
Vấn đề phát triển
Tài nguyên nước
nông nghiệp
Vấn đề phát triển
Nuôi trồng và khai thác
ngành thủy sản
Vấn đề phát triển
một số ngành công
Công nghiệp điện lực
nghiệp trọng điểm
Vấn đề phát triển
ngành giao thông
Đường sông, đường biển
vận tải
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
Trên lớp
12
36
37
39
Trung Bộ
Vấn đề phát triển
kinh tế ở duyên hải
Trung Bộ
Vấn đề khai thác
thế mạnh ở Tây
Nguyên
Vấn đề khai thác
lãnh thổ theo chiều
- Nguồn nước cho sản xuất và
sinh hoạt.
- Vấn đề sử dụng chung dòng
sông Mê Kông (hoạt động ngoại
khóa)
Sông ngòi
Trên lớp
Trên lớp
VII. Một số bài giảng minh họa (phần phụ lục)
VIII. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Giáo viên xây dựng hệ thống các câu hỏi để học sinh trả lời và đánh giá định
tính ở các mức độ khác nhau. Qua đó rút ra kết luận và rút ra kinh nghiệm đối
với bản thân và khả năng ứng dụng trong giảng dạy tích hợp giáo dục sử dụng
tiết kiệm tài nguyên nước.
Câu 1: Anh (chị) có sử dụng nước ngọt tiết kiệm không?
A. Có
B. Không
Tại sao?...............................................................................................................
Câu 2: Nguyên nhân nào sau đây làm cho nguồn nước ngọt bị ô nhiễm nghiêm
trọng?
A. Sản xuất nông nghiệp
B. Sản xuất công nghiệp C. Nước thải sinh hoạt
Tại sao?...............................................................................................................
Câu 3: Tại sao nguồn nược ngọt đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Trả lời:…………………………………………………………………………
Câu 4: Tài nguyên nước có được xem là nguồn tài nguyên vô tận không?
A. Có
…………………………………………………………………………………
Câu 11: Có ý kiến cho rằng “nước quý hơn vàng” Anh (chị) có
A. Đồng ý
B. Không đồng ý
Tại sao:…………………………………………………………………………
Bản thân tôi đã tiến hành xây dựng câu hỏi điều tra ở 3 lớp học 12A1, 12A2,
12A3 với tổng số là 93 học sinh với 11 câu hỏi ở trên như sau:
Câu 1: Đáp án A có 14 học sinh lựa chọn
Đáp án B có 79 học sinh lựa chọn
Những học sinh chọn đáp án A cho rằng: gia đình sống ở thị trấn, xa nguồn
nước. Lượng nước sử dụng sinh hoạt hàng ngày phải chi trả 4500 đ/m 3 nên đã
hình thành thói quen sử dụng nước tiết kiệm.
Những học sinh chọn đáp án B lại cho rằng: nhà ở gần các con suối, mó nước
mấy hộ gia đình chunh đường ống nước dẫn về bể dự trữ. Thậm chí các bể nước
do UNICEF xây dựng nước thừa tràn ra ngoài, cứ vô tư mà sử dụng.
Câu 2: có 93 học sinh (100%) chọn nguyên nhân cơ bản là do hoạt động sản
xuất công nghiệp.
Câu 3: có 93 học sinh đưa ra một số nguyên nhân như: dân số tăng nhanh, hoạt
động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt. Có 13 học sinh đưa ra ý
kiến khác như: chiến tranh, ô nhiễm chất phóng xạ, 80 học sinh còn lại không có
ý kiến khác.
Câu 4: Đáp án A có 33 học sinh cho rằng nước vô tận vì có vòng tuần hoàn nước
trên Trái Đất.
Đáp án B có 60 học sinh cho rằng nước đang bị ô nhiễm nên mặc dù nước nhiều
nhưng không phải là vô tận.
14
Câu 5: Cơ bản các học sinh nêu được ba vấn đề quan trọng: thiếu nước sinh
hoạt, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nói chung, công nghiệp.
- Học sinh là tuyên truyền viên tích cực trong hoạt động bảo vệ nước, sử dụng
tiết kiệm nước.
*) Đối với các cán bộ giáo viên, nhân viên:
- Là tuyên truyền viên tích cực trong quá trình giảng dạy có thể lồng ghép, tích
hợp giáo dục bảo vệ và sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước.
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa.
*) Về phía nhà trường:
- Phối hợp với Đoàn trường tổ chức cuộc thi tìm hiểu về tài nguyên nước.
- Giao cho các cán bộ giáo viên tích hợp trong giảng dạy.
15
- Định hướng kiểm tra nguồn nước an toàn phục vụ cho sinh hoạt đặc biệt là khu
bán trú của học sinh.
- Liên kết với các tổ chức đoàn thể phát động sâu rộng mục tiêu quốc gia về
“nước sạch và vệ sinh môi trường” ở vùng nông thôn, miền núi.
16
C. PHẦN KẾT LUẬN
Sau khi nghiên cứu đề tài: “Tích hợp giáo dục tài nguyên nước đối với sinh
hoạt và sản xuất cho học sinh Trường THPT Quan Sơn qua một số bài giảng Địa
lí” có những mặt như sau:
*) Ưu điểm:
- Nghiên cứu về vòng tuần hoàn nước trên Trái Đất.
- Tầm quan trọng của tài nguyên nước đến đời sống và các hoạt động sản xuất.
- Trang bị kiến thức cho học sinh, nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan
về tầm quan trọng của tài nguyên nước.
- Phân bố tài nguyên nước Trái Đất và hiện trạng sử dụng nước ở Việt Nam.
17
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ
XẾP LOẠI CẤP SỞ GD&ĐT XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Hoàng văn Nhu
Chức vụ và đơn vị công tác: Nhóm trưởng Địa lí THPT Quan Sơn
TT
1.
2.
3.
4.
Tên đề tài SKKN
Tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng
tiết kiệm, hiệu quả cho học sinh trường
THPT Quan Sơn qua một số bài giảng
Địa lí
Hướng dẫn học sinh khai thác Atlat Địa
lí Việt Nam
Tích hợp giáo dục gắn với di sản cho
học sinh trường THPT Quan Sơn qua
một số bài giảng Địa lí
Tích hợp giáo dục môi trường cho học
Sở
GD&ĐT
C
2013 - 2014
Sở
GD&ĐT
C
2014 - 2015
----------------
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Tài liệu hướng dẫn giảng dạy về dân số và môi trường Bộ Giáo dục & Đào
tạo 1995 (Quỹ dân số Liên Hợp Quốc - Dự án VIE/94/P01 Hà Nội 1995).
[2] . Dân số và phát triển Nguyễn Đình Cả (chủ biên) Nhà xuất bản Nông nghiệp
Hà Nội 1997.
[3]. Dân số - Tài nguyên - Môi trường, Nguyễn Dược (Chủ biên) Trường ĐHSP
I Hà Nội, 1997.
[4] . Địa lí 10, Lê Thông (Tổng chủ biên) NXB Giáo dục, 2008.
[5] . Địa lí 11, Lê Thông (Tổng chủ biên) NXB Giáo dục, 2008.
[6] . Địa lí 12, Lê Thông (Tổng chủ biên) NXB Giáo dục, 2008.