ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH VĂN THÙY
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG TIÊU
CHẢY DO VI KHUẨN ESCHERICHIA COLI, SALMONELLA
Ở LỢN TẠI HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH VĂN THÙY
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG TIÊU
CHẢY DO VI KHUẨN ESCHERICHIA COLI, SALMONELLA
Ở LỢN TẠI HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số: 60 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Hồng Phúc
THÁI NGUYÊN - 2017
Tôi luôn biết ơn gia đình, bạn bè và các em sinh viên đã đóng góp công sức,
động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Thái Nguyên, tháng
năm 2017
Tác giả
Đinh Văn Thùy
5
55
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC............................................................................................................ iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ........................................vi
DANH MỤC CÁC BẢNG.................................................................................. vii
DANH MỤC CÁC HÌNH .................................................................................. viii
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .....................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...........................................................2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................3
1.1. Một số hiểu biết chung về hội chứng tiêu chảy ..............................................3
1.1.1. Khái niệm về hội chứng tiêu chảy................................................................3
2.2.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/ 2016 đến tháng 9/ 2017......................25
2.3. Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu ..............................................................25
2.3.1. Mẫu bệnh phẩm ..........................................................................................25
2.3.2. Các loại môi trường, hoá chất ....................................................................25
2.3.3. Động vật thí nghiệm ...................................................................................25
2.4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................26
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu dịch tễ ................................................................26
2.4.2. Thu thập mẫu và phân lập vi khuẩn ...........................................................27
2.4.3. Xác định số lượng vi khuẩn E.coli, Salmonella trong 1 gam phân lợn
tiêu chảy và lợn bình thường................................................................................28
2.4.4. Phương pháp xác định độc lực của các chủng vi khuẩn E.coli,
Salmonella.....28
2.4.5. Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các
chủng vi khuẩn E.coli, Salmonella phân lập được ...............................................29
2.4.6. Xây dựng phác đồ điều trị tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi .............30
2.4.7. Phương pháp xử lý số liệu..........................................................................31
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................32
3.1. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn
con dưới 2 tháng tuổi tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ..................................32
3.1.1. Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một
số xã của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ..........................................................32
3.1.2. Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi mắc và chết do tiêu chảy theo mùa vụ ....35
3.1.3. Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi mắc và chết do tiêu chảy theo phương
thức chăn nuôi tại một số xã của huyện Việt Yên ...............................................37
3.1.4. Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi mắc và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi
tại một số xã của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ..............................................40
3.1.5. Một số triệu chứng thường gặp ở lợn con mắc tiêu chảy...........................42
3.2. Nghiên cứu xác định vai trò của vi khuẩn E. coli, Salmonella spp. trong
CPU
: Colinial Forming Unit
ED
: Endema disease
EDP
: Eudema disease pathogenic
EHEC
: Entero haemarrhagic
EMB
: Eosin Methylene Blue Agar
EPEC
: Enteropathogenic Escherichia coli
ETEC
: Enterotoxigenic Escherichia coli
HEM
: Shiga-like toxin 2
ST (a,b)
: Heat- Slable toxin (a,b)
ST1
: Heat- Slable 1
Stx2e
: Shiga toxin 2e
tr
: trang
TSI
: Triple Sugar Iron
TT
: Thể trọng
VP
: Voges Pros Kaver
(Đường tiêm: Phúc xoang) ..................................................................53
Bảng 3.13. Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng Salmonella spp. trên
chuột bạch (Đường tiêm: Phúc xoang)................................................55
Bảng 3.14. Kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi
khuẩn E.coli phân lập được .................................................................57
Bảng 3.15. Kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi
khuẩn Salmonella spp. phân lập được.................................................59
Bảng 3.16. Kết quả điều trị thực nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy cho
lợn con .................................................................................................61
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy giữa các xã ...33
Hình 3.2. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy theo mùa vụ
........36
Hình 3.3. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy theo
phương thức chăn nuôi ........................................................................39
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi .....................42
Hình 3.5. Biểu đồ so sánh tỷ lệ mẫn cảm và kháng kháng sinh của các chủng
vi khuẩn E.coli phân lập được .............Error! Bookmark not defined.
Hình 3.6. Biểu đồ so sánh tỷ lệ mẫn cảm và kháng kháng sinh của các chủng
vi khuẩn Samonella phân lập được .....Error! Bookmark not defined.
11
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
khi thời tiết thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, mưa phùn…) kết hợp với điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
stress; lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của lợn mẹ
thiếu, không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng.
Tổng hợp báo cáo dịch tễ hàng năm của Trạm Chăn nuôi và thú y các
huyện, thành phố trong tỉnh cho thấy hội chứng tiêu chảy ở lợn hai năm 2015 và
2016 xảy ra phổ biến chiếm tỷ lệ 60% so với tổng số các ca bệnh thường gặp ở
lợn, riêng năm 2016 số lợn mắc bệnh tiêu chảy là 62.151 con /88.036 con
mắc các ca bệnh thông thường (chiếm tỷ lệ 71%). Khi áp dụng các phác đồ
điều trị hộ chứng tiêu chảy ở lợn do tính kháng thuốc của vi khuẩn cao nên
kết quả điều trị rất thấp. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, chúng tôi triển khai
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi
khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc
Giang và biện pháp phòng trị”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới hai
tháng tuổi tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli, Salmonella trong hội
chứng tiêu chảy ở lợn.
- Xây dựng và đề xuất phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con do vi
khuẩn E.coli, Salmonella gây ra đạt hiệu quả cao.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với
thực tiễn sản xuất, chứng minh vai trò của vi khuẩn E.coli, Salmonella trong hội
chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học phục vụ cho các
nghiên cứu tiếp theo như phục vụ cho công tác bào chế các chế phẩm sinh học
nhận biết là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn.
Trong dịch vị của gia súc non chưa có đủ axit HCl tự do nên không hoạt hóa
được men pepsin vì vậy không tiêu hóa hết sữa mẹ, trong khi đó sữa mẹ lại là
môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn.
Nguyễn Quang Tuyên và cs (2007) [58] cho rằng, trong dịch vị của lợn
con dưới 1 tháng tuổi không có HCl tự do, vì lúc này axit tiết ra ít và nhanh
chóng liên kết với dịch nhầy. Do vậy, vi sinh vật có điều kiện phát triển và gây
bệnh viêm dạ dày, viêm ruột ở lợn con.
Giai đoạn sau cai sữa sẽ là một giai đoạn khó khăn đối với lợn con khi
chuyển từ sữa mẹ sang thức ăn tổng hợp (dạng rắn). Điều đó có thể gây mất
cân
bằng hệ vi sinh vật đường ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát triển và
cũng là nguyên nhân gây ra bệnh, dẫn đến kết quả là lợn con chậm lớn và có thể
chết.
Ngoài ra, lợn con còn chịu nhiều tác động của lợn mẹ, sự thay đổi ngoại
cảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con.
1.1.2.2. Kha năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Là khả năng của cơ thể đáp ứng lại các kích thích của mầm bệnh khi xâm
nhập vào cơ thể. Ơ gia súc non, mầm bệnh có nhiều thuận lợi khi xâm nhập vào
cơ thể. Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl
tiết ra còn ít nên chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi
chất, tiêu hóa kém, hấp thu kém. Chính vì vậy, ở giai đoạn này mầm bệnh như
Salmonella, E.coli… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và gây
bệnh cho lợn con.
Do cấu tạo đặc biệt của gia súc non nên tiêu chảy thường xảy ra ở giai
đoạn lợn con tập ăn và cai sữa. Bên cạnh đó còn một yếu tố quan trọng nữa là sự
phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột của gia súc non, việc cân bằng hệ
vi sinh vật có lợi trong đường ruột như thế nào để khắc phục, hạn chế sự loạn
Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường
ruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất
dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi và vi khuẩn có hại, khi có
điều kiện thì sẽ phát triển nhanh và gây bệnh cho vật chủ.
Lê Văn Tạo (1997)[43] cho biết, họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi
khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột. Những vi khuẩn này, muốn từ vi
khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh phải có 3 điều kiện:
- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức
năng bám dính.
- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là sản
sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin.
- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ đó
phát triển nhân lên.
Đào Trọng Đạt và cs (1996)[12] cho biết, chiếm tỷ lệ cao nhất trong
số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E.coli (45,6%). Vi khuẩn yếm
khí Cl.perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi và khi nó trở thành
vai trò chính.
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997)[26], Archie H. (2001)[2] vi khuẩn đường
ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy.
Nguyễn Như Pho (2003)[30] cho rằng, khả năng gây bệnh của các loại vi
khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau. Đối với lợn sau cai sữa hoặc giai đoạn đầu
nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai đoạn từ lúc sơ sinh
đến sau khi cai sữa thường do E.coli; lứa tuổi 6 - 12 tuần thì thường do xoắn
khuẩn Treponema hyodysenterriae; vi khuẩn yếm khí Cl.perfringens thường gây
bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần tuổi đến cai sữa.
Phạm Sỹ Lăng (2009)[24] cho biết, tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu
là: do vi khuẩn E.coli, bệnh hồng lỵ do Treponema hyodysenteriae, bệnh do
Campylobacter, bệnh do Salmonella, bệnh do Clostridium perfringens.
(Ascaris suum, Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus, Mecistocirrus…).
Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn con
từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn
dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện
triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003)[30].
Cầu trùng, một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một
trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia
đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006a)[19].
Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở
lợn từ sau cai sữa. Ơ lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun
đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao
hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009)[21].
Cầu trùng một số loại giun tròn là một trong những nguyên nhân gây tiêu
chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Hà Nội (Thân Thị Đang và
cs, 2010)[10]. Qua nghiên cứu tác giả nhận xét lợn nuôi bình thường nhiễm cầu
trùng là 35,54%, giun đũa là 31,82%, giun lươn là 41,32%, giun tóc là 23,14%.
Lợn chủ yếu nhiễm nhẹ, không có lợn nào nhiễm nặng. Trong khi đó, lợn tiêu
chảy nhiễm cầu trùng là 56,93%, giun đũa là 35,77%, giun lươn là 60,58%, giun
tóc là
28,47%. Tỷ lệ nhiễm nặng biến động từ 7,83- 13,46%.
Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo
một số nhà khoa học nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở lợn như Nguyễn Thị
Nội (1985)[28], Lê Văn Tạo (1993)[41], Hồ Văn Nam và cs (1997) [26] thì dù
nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn đi nữa, cuối cùng cũng là quá trình
nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn
đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính.
1.1.4. Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy
1.1.4.1. Cơ chế sinh bệnh
lại. Hiện tượng này gọi là mất nước và triệu chứng lâm sàng là con vật yếu, bỏ
ăn, thân nhiệt thấp và có thể trụy tim mắt bị hõm sâu, nhìn lờ đờ, da khô, khi véo
da lên, nếp da chậm trở lại vị trí cũ (Archie H., 2000)[2]. Lợn bị tiêu chảy gầy
sút nhanh, da nhăn, tính đàn hồi da kém; nếu tiêu chảy lâu ngày, lợn gầy nhô
xương sống, da thô, lông dựng ngược. Mặt khác, khi cơ thể mất nước và chất
điện giải sẽ kéo theo sự biến đổi của hàng loạt các bệnh lý khác nhau.
1.1.4.3. Hậu qua trong hội chứng tiêu chảy
Hậu quả trực tiếp và nặng nề của hiện tượng tiêu chảy là sự mất nước và
mất các chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý (Lê
Minh Chí, 1995)[5].
Lợn bị tiêu chảy giảm khả năng tiêu hoá, chuyển hoá và hấp thụ các chất
dinh dưỡng, nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ dàng mắc các bệnh khác
(Phạm Sỹ Lăng và cs, 1997)[22].
Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu không được
điều chỉnh. Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn cảm với
sự mất nước. Chính vì vậy, biện pháp phòng chống và bù nước trong điều trị tiêu
chảy luôn luôn phải đặt ra (Archie H., 2000)[2].
Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây tiêu chảy khác nhau thì cũng để
lại những hậu quả khác nhau.
1.1.5. Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra. Chính vì vậy,
sự xuất hiện của bệnh phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân và sự tương
tác giữa nguyên nhân với cơ thể gia súc. Các yếu tố như tuổi gia súc, mùa vụ,
thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng... đều có ảnh hưởng đến
bệnh tiêu chảy ở gia súc.
Fairbrother J.M. (1992) [68] cho rằng, khi bệnh tiêu chảy xảy ra, thường
gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi. Bệnh thường xuất hiện ở 3 giai đoạn phát
triển của lợn con:
Trịnh Văn Thịnh (1985b)[52], Đào Trọng Đạt và cs (1985)[11] đề xuất
biện pháp phòng bệnh là giữ ẩm và sưởi cho lợn sơ sinh vào mùa đông, dọn
phân, rác thải trong chuồng đem ủ nhiệt sinh vật, định kỳ tẩy uế tiêu độc chuồng
trại và dụng cụ chăn nuôi.
Vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là E.coli, Salmonella được đánh giá là
nguyên nhân gây bệnh phổ biến và quan trọng nhất trong hội chứng tiêu chảy ở
lợn con dưới 2 tháng tuổi, nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử
dụng vắc xin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể
chống lại mầm bệnh.
Lê Văn Tạo (1996)[42] đã chọn chủng vi khuẩn E.coli mang kháng nguyên
K88 kết hợp với ít nhất 2 yếu tố gây bệnh khác nhau là Ent và Hly dùng để sản
xuất vắc xin cho uống và tiêm nhằm phòng bệnh lợn con phân trắng.
Nguyễn Thị Nội và cs (1989)[29] đã tiến hành nghiên cứu một loại vắc
xin đa giá SALCO gồm các chủng vi khuẩn Salmonella, E.coli và Streptococcus
để phòng tiêu chảy cho lợn con.
Đặng Xuân Bình và cs (2008b)[3] nghiên cứu, chế tạo autovắc xine từ các
chủng E.coli độc có mang yếu tố gây bệnh phòng bệnh phân trắng lợn con trên
thực địa.
Nguyễn Ngọc Hải (2010)[15] nghiên cứu, chế tạo autovắc xine từ 7 gốc
E.coli phân lập từ các mẫu phân heo con tiêu chảy có kết quả rõ nhất, để phòng
tiêu chảy cho heo con theo mẹ; đã kết luận vắc xin chuồng thực nghiệm tạo được
đáp ứng miễn dịch tốt, hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do E.coli tương đương với
vắc xin phòng bệnh E.coli của Mỹ.
Tạ Thị Vịnh và cs (2002)[62] đã sử dụng chế phẩm VITOM 1.1 (chứa
Bacillus subtilis chủng VKPMV - 7092) để phòng và trị bệnh tiêu chảy cho lợn
con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi.
Trần Thị Hạnh và cs (2004)[Error! Reference source not found.] đã chế
tạo sinh phẩm E.coli - sữa và Cl.perfringens - toxoid dùng phòng bệnh tiêu chảy
phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con 1- 90 ngày tuổi, cho kết quả dùng trong
phòng bệnh tỷ lệ bảo hộ đạt 81,3%; dùng trong điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con
tỷ lệ khỏi bệnh đạt từ 72% - 96%.
Huỳnh Kim Diệu (2009)[7] nghiên cứu, khảo sát thành phần dinh dưỡng
của lá cây xuân hoa và thử nghiệm trong phòng, trị bệnh tiêu chảy cho lợn; đã có
kết luận cây xuân hoa là cây thuốc mới được phát hiện, chứa các hoạt chất có khả
năng phòng trị bệnh tốt, có thể thay kháng sinh trong trị bệnh tiêu chảy cho lợn.
Nguyễn Hữu Vũ và cs (2010)[64] đã nghiên cứu thành công và đưa kháng
thể HANVET K.T.EHI vào phòng và điều trị bệnh tiêu chảy do vi khuẩn E.coli
(sản phẩm đã được Cục Thú y cấp giấy phép lưu hành trên toàn quốc). Kết quả
thử nghiệm tại Hoài Đức - Hà Tây cho thấy:
- Điều tri 10 đàn lợn con bị tiêu chảy do vi khuẩn E.coli bằng sản phẩm
HANVET K.T.EHI tỷ lệ khỏi 100% sau 2- 4 ngày.
- Điều tri 10 đàn lợn con bị sưng phù đầu do vi khuẩn E.coli bằng sản
phẩm HANVET K.T.EHI tỷ lệ khỏi 87,5 - 88% sau 2- 4 ngày.
Phạm Sỹ Lăng (2009)[24] đã đưa ra biện pháp tổng hợp để phòng trị bệnh
tiêu chảy ở lợn con do vi khuẩn gồm 2 phần chủ yếu là biện pháp kỹ thuật chăn
nuôi và biện pháp kỹ thuật thú y.
Hiện nay, để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn, nhiều tác giả đã nghiên
cứu và cho rằng, cần phải xác định được nguyên nhân gây bệnh, hiểu rõ cách
sinh bệnh và triệu chứng bệnh. Việc sử dụng kháng sinh trong điều trị tiêu chảy
do nhiễm khuẩn được nhiều người nghiên cứu và đưa ra nhiều phác đồ khác
nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất rằng: Sử dụng kháng sinh có hiệu quả
cần phải xem xét khả năng mẫn cảm và tính kháng thuốc của vi khuẩn.
1.2. Một số nghiên cứu về vi khuẩn E.coli gây bệnh đường tiêu hoá
Vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) thuộc họ Enterobacteriaceae, nhóm
Escherichiae, giống Escherichiae, loài Escherichia coli. Trước đây được gọi là
Bacterium coli commune hay Bacillus coli communis, lần đầu tiên phân lập được
serotype K, 56 serotype H và một số serotype F (Fairbrother J. M., 1992)[68].
Khi xác định serotype đầy đủ của một chủng vi khuẩn E.coli thì phải xác
định đủ cả 3 loại kháng nguyên nói trên.
- Kháng nguyên O (Kháng nguyên thân - Ohne Hauch) được coi như là
một yếu tố độc lực có thể tìm thấy ở thành tế bào và có liên hệ trực tiếp với hệ
thống miễn dịch
- Kháng nguyên H (kháng nguyên lông - Hauch) là thành phần lông vi
khuẩn, có bản chất protein, kém bền vững hơn so với kháng nguyên O.
Kháng nguyên H không phải là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nhưng có khả
năng tạo miễn dịch mạnh. Phản ứng miễn dịch xảy ra nhanh hơn so với kháng
nguyên O.
Kháng nguyên H của vi khuẩn E.coli không có vai trò bám dính, không có
tính độc và cũng không có ý nghĩa trong đáp ứng miễn dịch phòng vệ nên ít
được quan tâm nghiên cứu, nhưng nó có ý nghĩa rất to lớn trong xác định giống
loài của vi khuẩn (Orskov F., 1978)[80].
- Kháng nguyên K (Kháng nguyên vỏ bỏ - Capsular), còn được gọi là
kháng nguyên bề mặt (OMP - Outer membrane protein) hoặc kháng nguyên vỏ
bọc (Capsular). Vai trò của kháng nguyên K chưa được thống nhất. Có rất nhiều
ý kiến cho rằng, nó không có ý nghĩa về độc lực của vi khuẩn, vì thấy rằng độc
lực của chủng E.coli có kháng nguyên K cũng giống độc lực của chủng không có
kháng nguyên K (Orskov. F, 1978)[80]. Kháng nguyên K có hai nhiệm vụ sau:
+ Hỗ trợ trong phản ứng ngưng kết của kháng nguyên O, nên thường ghi
liền công thức serotype của vi khuẩn là Ox:Ky như E.coli O139: K88, O149:
K88, O138:K81, O138:K82, O157:K17…
+ Tạo thành hàng rào bảo vệ vi khuẩn chống lại tác động của ngoại cảnh
và hiện tượng thực bào, yếu tố phòng vệ của vật chủ.
Tóm lại, dựa vào kháng nguyên O, E.coli được chia làm nhiều nhóm; căn
cứ vào cấu tạo kháng nguyên O, K, H, E.coli lại chia làm nhiều type, mỗi type
+ Môi trường Simmon citrat: Khuẩn lạc không màu trên nền xanh lục.
+ Môi trường Endo: Khuẩn lạc màu đỏ.
+ Trong môi trường EMB: Khuẩn lạc màu tím đen.
+ Trong môi trường SS: Khuẩn lạc có màu đỏ.
1.2.2.2. Đặc tính sinh hoá
+ Phản ứng lên men đường: Vi khuẩn E.coli lên men sinh hơi các loại
đường lactose, frutose, glucose, levulose, galactose, xylose, manitol, lên men
không chắc chắn các loại đường duncitol, saccarose và salixin.
Hầu hết các chủng vi khuẩn E.coil đều lên men đường lactose nhanh và
sinh hơi, đây là đặc điểm quan trọng để dựa vào đó phân biệt vi khuẩn E.coli và
Salmonella.
+ Một số phản ứng sinh hoá khác: Phản ứng Indol và MR dương tính,
phản ứng H2S, VP âm tính (Nguyễn Quang Tuyên, 2008)[59].
1.2.3. Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E.coli
1.2.3.1. Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E.coli
Để có thể gây bệnh, trước hết vi khuẩn E.coli phải bám dính vào tế bào
nhung mao ruột bằng các yếu tố bám dính như kháng nguyên F. Sau đó, nhờ các
yếu tố xâm nhập (Invasion), vi khuẩn sẽ xâm nhập vào tế bào biểu mô của thành
ruột. Ơ đó, vi khuẩn phát triển, nhân lên, phá huỷ lớp tế bào biểu mô, gây viêm
ruột, đồng thời sinh sản độc tố đường ruột Enterotoxin. Độc tố đường ruột tác
động vào quá trình trao đổi muối, nước, làm rối loạn chu trình này. Nước từ cơ
thể tập trung vào lòng ruột làm căng ruột, cùng với khí do lên men ở ruột gây
nên một tác dụng cơ học, làm nhu động ruột tăng, đẩy nước và chất chứa ra