HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
THÂN QUỐC HÙNG
CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ
CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HÀ NỘI - 2018
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
THÂN QUỐC HÙNG
CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ CÁC
VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 62 38 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. NGUYỄN THANH BÌNH
2. TS. TRẦN THANH PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
17
1.3. Giả thuyết những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về chất lượng xét xử
các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay
23
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
30
2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò chất lượng xét xử các vụ án hành chính
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
30
2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng xét xử các vụ án hành chính của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh
49
2.3. Các điều kiện bảo đảm chất lượng xét xử các vụ án hành chính của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh
62
Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ
CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
157
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
159
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
160
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND
Hội đồng nhân dân
HĐXX
Hội đồng xét xử
HTND
Hội thẩm nhân dân
HVHC
Hành vi hành chính
KKHC
UBND
Ủy ban nhân dân
VAHC
Vụ án hành chính
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
VPHC
Vi phạm hành chính
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
XXHC
Xét xử hành chính
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xét xử là hoạt động chính, có ý nghĩa quyết định đến sự ra đời, tồn tại và
án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay.
4
2.2. Nhiệm vụ của luận án
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, đánh giá tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến
đề tài luận án. Từ đó chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án.
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận liên quan đến đề tài luận án, cụ thể:
nghiên cứu đưa ra khái niệm chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh; chỉ ra và phân tích đặc điểm, vai trò của chất lượng xét xử các
vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; xây dựng các tiêu chí đánh giá và
các điều kiện bảo đảm chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức và tình hình xét xử các vụ án
hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ảnh hưởng đến chất lượng xét xử các vụ
án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng xét xử các vụ án hành chính của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra những kết quả, hạn chế và
nguyên nhân của thực trạng đó.
- Phân tích, luận chứng các quan điểm và đề xuất các giải pháp bảo đảm
chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam
hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Dưới giác độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận án tập trung
nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng xét xử các vụ án hành
chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Vấn đề xét xử và chất lượng xét xử các
được sử dụng ở chương 3 trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác-Lênin,
nhằm đánh giá đúng thực trạng chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh.
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp - diễn dịch được sử dụng
ở chương 4, để đề xuất các quan điểm, giải pháp phù hợp thực tế, khả thi nhằm bảo
đảm chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
6
5. Những điểm mới của luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện và hệ thống
cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay; vì vậy, luận án có một số điểm mới về
mặt khoa học như sau:
1. Luận án đã xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm và vai trò chất lượng
xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
2. Luận án xây dựng được các tiêu chí đánh giá chất lượng xét xử các vụ án
hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
3. Luận án phân tích, chỉ ra được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân
thực trạng chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở
Việt Nam hiện nay.
4. Luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm chất lượng xét xử
các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm
lý luận về chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
- Về thực tiễn: Những kết quả của luận án sẽ góp phần nhằm nâng cao chất
lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện
nay. Đồng thời, luận án là nguồn tư liệu tham khảo tốt cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật.
Liên quan mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ của TAND nói chung phải
kể đến Đề tài “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống thủ tục tư pháp,
nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân do dân và vì dân” [58]. Công trình này có chất lượng rất cao về
vấn đề lý luận của nhiệm vụ cải cách tư pháp, về khối lượng thủ tục tư pháp nói
chung cần và đủ cho giải quyết án và đặc biệt là các giải pháp nâng cao hiệu quả và
hiệu lực xét xử của Tòa án, mà thực là chất lượng xét xử trong đó có xét xử án hành
8
chính của TAND các cấp. Tác giả tiếp thu được nhiều quan điểm khoa học hợp lý
của đề tài để nghiên cứu đưa vào luận án.
Đề tài khoa học cấp bộ: “Đổi mới chế độ Thẩm phán - Hội thẩm nhân dân
trong tiến trình cải cách tư pháp” của Nguyễn Mạnh Lân [48]. Đề tài tập trung giải
quyết các vấn đề lý luận về tuyển dụng, bổ nhiệm, các tiêu chí tuyển dụng Thẩm
phán; thực trạng đội ngũ Thẩm phán, chế độ đãi ngộ như: lương, phụ cấp ngành,
những bất cập của chế độ đối với Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (HTND). Đề tài
cũng đã chỉ ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan của việc xây dựng chính
sách, chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán và HTND với tư cách là một ngành nghề
có tính chất khá đặc biệt trong hệ thống quyền lực nhà nước. Là những người duy
nhất có chức năng xét xử, phán quyết các vấn đề bức xúc trong xã hội, giải quyết
các tranh chấp trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mặt khác, đề tài cũng đưa
ra được một số kiến nghị, giải pháp thiết thực để bảo đảm chế độ đối với Thẩm
phán và HTND một cách hợp lý trong tổng thể chế độ cán bộ, công chức, viên
chức ở nước ta hiện nay. Những vấn đề trong đề đề cập và giải quyết có ý nghĩa
thiết thực liên quan đến chất lượng xét xử các VAHC của TAND cấp tỉnh. Bởi vì,
khi chế độ của Thẩm phán, HTND được bảo đảm sẽ góp phần tích cực vào việc
hạn chế tiêu cực trong ngành, đạo đức nghề nghiệp xét xử được tăng cường, Thẩm
phán, HTND yên tâm công tác tập trung cao độ vào công tác chuyên môn xét xử.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ:“Tài phán hành chính - thể chế bảo vệ
thức luân chuyển cán bộ khá hợp lý.
Đề tài khoa học cấp bộ “Khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại
hành chính trong quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội - thực
trạng và giải pháp” do Lê Tiến Hào [27]. Công trình đã này đã căn bản phân tích
được cơ sở lý luận quyền khiếu kiện của tổ chức và công dân khi bị xâm hại đến
quyền sử dụng đất, nhất là trên địa bàn Hà Nội, vốn dĩ công tác quản lý nhà nước
về đất đai khá nhậy cảm và phức tạp. Đề tài đã chỉ rõ những bất cập trong công tác
giải quyết khiếu nại liên quan đến quyền sử dụng đất của các chủ thể sử dụng đất.
Bên cạnh quyền khiếu nại theo thủ tục hành chính công trình đã đề cập đến nhiều
nội dung về quyền khởi kiện, trình tự thủ tục, thẩm quyền giải quyết theo trình tự,
thủ tục tư pháp.
Sách chuyên khảo: “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền” của Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Trí [9]. Mặc dù cuốn sách tham
khảo được phát hành khá lâu, nhưng một số vấn đề được giải quyết trong sách vẫn
còn giá trị thực tiễn và giá trị tham khảo đối với luận án. Nhiều vấn đề được luận
10
giải khá thuyết phục như: quan điểm, mục tiêu, phương hướng cải cách; mô hình tổ
chức TAND ở địa phương; vấn đề con người thực thi quyền tư pháp về tiêu chuẩn,
tiêu chí, quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp.
Sách chuyên khảo: “Những điểm mới của của Luật Tố tụng hành chính năm
2015” của Nguyễn Văn Cường. Đây là cuốn sách mà tác giả đã thống kê đầy đủ
những điểm mới được Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2015 bổ sung, sửa đổi
so với Luật TTHC năm 2010. Luật đã sửa đổi, bổ sung 198 Điều/372 Điều; bổ sung
111 Điều mới; giữ nguyên 63 Điều của Luật TTHC năm 2010. Chẳng hạn sửa đổi,
bổ sung các nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc đối thoại, thẩm quyền xét xử của Tòa
án, quyền, nghĩa vụ của Chánh án, Thẩm phán, kiểm sát viên, người đại diện, người
bảo vệ… Những thông tin và luận giải trong cuốn sách có giá trị so sánh, giá trị
tham khảo về những căn cứ thay đổi, sửa đổi, bổ sung những quy định mới. Đồng
thực tiễn về cải cách hệ thống cơ quan Tòa án Việt Nam theo định hướng xây dựng
nhà nước pháp quyền” của Đỗ Thị Ngọc Tuyết [115]; các bài viết trong sách tham
khảo: “Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội
nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Như Phát, Nguyễn Thị Việt Hương
[66]; “Thực trạng và yêu cầu kiện toàn đội ngũ Thẩm phán hành chính ở Việt Nam
hiện nay” của Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Hữu Xương [11];
Sách tham khảo như: "Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của Lê Minh Thông
[94]; “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp
quyền” của Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí [9]. “Các mô hình tài phán hành chính và
kinh nghiệm cho Việt Nam” của Vũ Thư [95]; “Vấn đề đổi mới hệ thống cơ quan
tài phán hành chính ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Cửu Việt [124]; Luận án
Tiến sĩ Luật học liên quan đến vấn đề này gồm một số công trình như: “Đổi mới tổ
chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của Lê
Thành Dương [17]; “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo
hướng xây dựng nhà nước pháp quyền” của Trần Huy Liệu [50].
Các bài nghiên cứu được đăng trong các báo và tạp chí chuyên ngành như:
“Cải cách tư pháp trong tổ chức quyền lực nhà nước”, của Nguyễn Đăng Dung
[14]; “Cải cách tư pháp: ý nghĩa, mục đích và trọng tâm”, của Đào Trí Úc [117].
“Tòa án và vấn đề cải cách tư pháp” của Phạm Văn Hùng [39]. “Bàn về quản lý
Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp” của Đỗ Gia Thư [15]. “Yêu cầu của việc xây
dựng nhà nước pháp quyền đối với đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư
pháp” của Nguyễn Mạnh Cường [12]; “Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính
12
của Tòa án, sự bảo đảm công lý trong quan hệ giữa nhà nước và công dân” của
Nguyễn Thanh Bình [3]; “Cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết của Tòa án theo quy
định của Luật Tố tụng hành chính” của Đặng Thanh Sơn [86].
Nhận xét chung, các công trình và bài viết nghiên cứu đã phần nào làm rõ
khởi kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc (QĐKLBTV) chỉ giới hạn trong phạm
vi công chức là chưa đủ. Theo quan điểm lập luận của Luận án tiến sĩ luật học của
tác giả Trần Kim Liễu thì: nếu quy định chỉ công chức mới có thể kiện QĐKLBTV
theo thủ tục TTHC thì sẽ không công bằng đối với viên chức. Bởi lẽ, theo Điều 2
Luật viên chức: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc
là, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng
lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Trong khoa học pháp lý hành chính, từ lâu đã thừa nhận hoạt động của viên chức là
hoạt động phục vụ lợi ích công như hoạt động công chức (chỉ khác nhau ở mức độ
quyền lực). Điều 59 Luật Viên chức năm 2010 về “quy định chuyển tiếp” cho thấy
chế độ của viên chức được tuyển dụng trước hoặc sau ngày 01/7/2003 hầu như
không khác biệt so với công chức. Điểm d, khoản 1, Điều 52 Luật viên chức 2010
quy định các hình thức kỷ luật với viên chức bao gồm hình thức “buộc thôi việc”.
Vì sao cùng là chủ thể hoạt động theo chế độ công vụ - phục vụ lợi ích công, cùng
được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch hành chính và hưởng lương từ ngân sách
Nhà nước nhưng khi bị kỷ luật “buộc thôi việc” thì chỉ công chức mới có quyền
khởi kiện theo thủ tục TTHC, viên chức thì không? Phải chăng quyết định buộc thôi
việc của cơ quan quản lý viên chức không phải là quyết định hành chính (QĐHC)
[49, tr.126-127].
Luận án không đồng tình với quan điểm này, vì công chức và viên chức là
hai chủ thể khác nhau bởi nội hàm thuộc tính của khái niệm. Công chức thực hiện
chức năng quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN) (dịch vụ hành chính công),
còn viên chức thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà
nước (dịch vụ sự nghiệp công). Viên chức dược tuyển dụng trong biên chế nhà
nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, còn viên chức làm việc theo chế độ hợp
đồng làm việc, hưởng lương từ nguồn thu của đơn vị sự nghiệp công. Như vậy, về
thân phận pháp lý của công chức và viên chức khác biệt nhau. Viên chức không
tham gia QLHCNN (trừ trường hợp được trao quyền). Khi có tranh chấp về kỷ luật
buộc thôi việc được giải quyết theo thủ tục hợp đồng là hợp lý.
chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Luận án Tiến sĩ: “Cơ chế pháp lý bảo đảm giải quyết tranh chấp hành chính
ở Việt Nam” của Trần Quang Hiển [28]. Luận án đã đề cập đến cơ chế pháp lý liên
15
quan đến hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính ở nước ta. Các điều kiện bảo
đảm cho hoạt động giải quyết các tranh chấp đạt hiệu quả. Luận giải các cơ chế
pháp lý giải quyết bao gồm: cơ chế giải quyết thông qua con đường hành chính,
trong đó trọng tâm là các thủ tục hành chính, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu
nại, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thuộc phạm vi thẩm quyền của người có
thẩm quyền trong cơ quan HCNN. Đặc biệt luận án cũng đã đi sâu phân tích cơ chế
giải quyết tranh chấp hành chính thông qua con đường tư pháp (Tòa án). Đồng thời
đưa ra một số giải pháp về đến tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính thuộc
TAND, trong đó có TAND cấp tỉnh.
Luận án Tiến sĩ: “Giải quyết khiếu kiện hành chính trong điều kiện xây
dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” của Nguyễn Danh Tú [111]. Luận án tập
trung phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của giải quyết khiếu kiện hành chính,
phân tích những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đánh giá những ưu
điểm, hạn chế, bất cập tồn tại của việc giải quyết khiếu kiện trên các phương diện:
thể chế pháp lý liên quan; quá trình triển khai thực hiện việc giải quyết khiếu kiện
cả trên phương diện chủ quan và khách quan. Trên cơ sở đó luận án đưa ra những
giải pháp nhằm bảo đảm cho việc giải quyết khiếu kiện hành chính đạt hiệu quả
gắn với các yêu cầu của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của
dân, do dân, vì dân.
Luận án Tiến sĩ: “Giải quyết khiếu nại hành chính trong công cuộc cải cách
hành chính ở Việt Nam” của Hoàng Ngọc Dũng [15]. Luận án đã làm sáng tỏ thêm
về những vấn đề lý luận về khiếu nại hành chính, phân tích các đặc điểm, nguyên
tắc, các yếu tố bảo đảm của hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính. Trong đó, có
đề cập đến vai trò, trình tự, thủ tục, quyền khởi kiện VAHC tại Tòa án trong trường
hiện nay” của Trần Thị Lâm [47]. Luận văn đã phân tích trên bình diện pháp luật
hiện hành quy định về những căn cứ pháp lý để thụ lý giải quyết một VAHC. Tác
giả phân tích sâu sắc về các điều kiện thụ lý và những yếu tố loại trừ không thuộc
điều kiện thụ lý khi Tòa án xem xét quyết định có giải quyết VAHC hay không.
Việc lập luận, lý giải các điều kiện về: chủ thể khởi kiện; đối tượng khởi kiện; trình
tự, thủ tục khởi kiện; thẩm quyền giải quyết và điều kiện về nghĩa vụ án phí khi
khởi kiện VAHC của luận án là khá thấu đáo và chặt chẽ. Đây cũng là một trong
những yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm cho việc giải quyết các VAHC đạt chất
lượng và hiệu quả.
Ngoài ra còn một số công trình khoa học khác có giá trị tham khảo liên
quan đến đề tài của luận án. Chẳng hạn: “Kỹ năng giải quyết các vụ án hành
17
chính” của Nguyễn Thị Thu Hương [43]; “Cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết
của Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính” của Đặng Thanh Sơn
[86]; “Ý nghĩa của việc nghiên cứu mô hình nhân cách người Thẩm phán trong
điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Bùi
Kim Chi [10]; “Văn hóa pháp luật của Thẩm phán trong lĩnh vực Tố tụng hành
chính” của Cao Thị Nga [62].
Nhận xét chung, các công trình khoa học này, mặc dù góc độ nghiên cứu có
khác nhau theo từng lĩnh vực nhất định, nhưng có liên quan đến chất lượng xét xử
các VAHC của TAND cấp tỉnh. Luận án có thể tham khảo, kế thừa những nội dung,
quan điểm khoa học để tác giả hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình. Có thể thấy,
các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau cũng phần
nào liên quan đến hoạt động xét xử các VAHC của TAND cấp tỉnh. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về chất lượng
xét xử các VAHC của TAND cấp tỉnh trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay. Bởi vì, trong hệ thống Tòa án bốn cấp thì vị trí,
vai trò của TAND cấp tỉnh nói chung và THC của TAND cấp tỉnh nói riêng có vị
mô hình như vậy, đến thập niên 50 trở lại đây mới phát triển tài phán hành chính.
Các nước theo hệ thống này giao hoàn toàn xét xử các khiếu kiện hành chính
cho các Tòa án tư pháp. Việc phán quyết về hoạt động hành chính thuộc về Tòa án
thường. Cơ quan hành chính không được hưởng bất kỳ sự ưu ái nào trước cơ quan
tài phán. Hệ thống này với những hình thức khác nhau như: Anh quốc, Hoa Kỳ, và
ở nhiều nước châu Phi như: Sesnegan, Bờ Biển Nga. Các nước ở châu Phi lập ra
một Tòa án cao cấp trong đó có phân tòa chuyên xét xử về hành chính và có thẩm
quyền kép: xét xử các khiếu kiện về tính hợp pháp của văn bản hành chính thông
qua con đường tố tụng lạm quyền (le recour pour exces de pouvoir) và xét xử các
khiếu kiện chống lại các quyết định của Tòa án cấp dưới, bằng con đường phá án
(Giám đốc thẩm).
Theo quan niệm của hệ thống này, lâu nay vẫn ghét cay, ghét đắng việc tạo
ra các tòa án chuyên biệt, với họ chỉ có một loại tòa án, không có chuyên tòa án
hành chính, tòa án thương mại hay tòa án xã hội… đó là các nước thuộc trường phái
Anglo-saxons chính hiệu. Ở những nước này thì các tranh chấp hành chính thuộc về
thẩm quyền cuối cùng của các “court” truyền thống, tức là tòa án tư pháp (hay Tòa
án thông luật - Common Law). Tuy nhiên, những năm gần đây sự can thiệp ngày
càng nhiều của các cơ quan công quyền vào hoạt động kinh tế - xã hội cho nên đã
19
thúc đẩy các quốc gia này tạo ra nhiều thiết chế chuyên biệt để giải quyết tranh chấp
hành chính [61].
- Tài phán hành chính ở một số quốc gia Châu Á
Ở một số nước châu Á như: Nhật bản, Hàn Quốc, Trung Quốc quan điểm về
tài phán hành chính có đặc thù riêng. Chẳng hạn người Trung Quốc quan niệm về
tài phán hành chính là hoạt động xét xử của Tòa án đối với hoạt động đặc biệt tranh
chấp hành chính thông qua một thủ tục riêng là Tố tụng hành chính (Luật kiện tụng
hành chính năm 1990 của Trung Quốc). Ở Nhật Bản do chịu ảnh hưởng của hai hệ
thống pháp luật châu Âu và Anh - Mỹ nên tài phán hành chính có nét pha tạp, các
Tòa án khác như hình sự; dân sự… Về cấu trúc của hệ thống hành chính ở Pháp
được chia thành 02 nhánh: THC thông thường và THC đặc biệt. Tòa hành chính
thông thường gồm 03 cấp Tòa án: THC sơ thẩm; THC phúc thẩm; Tham chính
viện. THC đặc biệt bao gồm: các THC công; kỷ luật tài chính và các thiết chế kỷ
luật (thường nằm trong các Hội nghề nghiệp như Hội bác sĩ); Ủy ban xử lý kỷ luật
trong các cơ sở giảng dạy đại học; thiết chế tài phán trong lĩnh vực trợ cấp xã
hội… Các thiết chế tài phán đặc biệt này có tên gọi đa dạng, không phải khi nào
cũng là Tòa án, nhưng có thẩm quyền ra phán quyết như Tòa án. Việc xét xử lại
các phán quyết này thuộc thẩm quyền cuối cùng của Tham chính viện. Về thẩm
quyền, tài phán hành chính ở Cộng hòa Pháp đưa ra những phán quyết thuộc các
lĩnh vực sau đây:
- Kiện hành chính đầy đủ: đây là loại kiện mà Thẩm phán có nhiều quyền
hạn nhất: Phán xét trên bình diện pháp luật và cả trên bình diện thực tế của vụ việc;
có quyền buộc cơ quan hành chính phải bồi thường; đưa ra mệnh lệnh buộc cơ quan
hành chính phải thực thi; ra quyết định thay thế cho cơ quan hành chính; kiện bầu
cử, Thẩm phán có thể hủy kết quả bầu cử, tính lại số phiếu và có thể tuyên rằng ứng
cử viên nào thắng phiếu; kiện về xếp hạng công trình; về thuế…
- Kiện hủy quyết định: là loại kiện hướng tới mục tiêu tuyên hủy QĐHC.
Tuy nhiên Thẩm phán không có thẩm quyền ban hành quyết định mới thay thế cho
quyết định bị kiện;
- Kiện giải thích quyết định: đối với loại kiện này, Thẩm phán phải đưa giải
thích chính thức về ý nghĩa của QĐHC;
- Kiện cưỡng chế thi hành: đây là loại kiện trong đó Thẩm phán có quyền
cưỡng chế. Điển hình là thủ tục xử các vi phạm giao thông.