nghiên cứu khoa họccông tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã bình hải, huyện thăng bình, tỉnh quảng nam - Pdf 49

A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàn
cầu, nó tồn tại ở mọi quốc gia, mọi Châu lục và không trừ một ngoại lệ nào.
Bước sang thế kỷ XXI nhưng một phần tư thế giới vẫn đang sống trong sự
cùng cực của nghèo khổ không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản
của con người. Hàng triệu người khác có nguy cơ tái nghèo cao.
Đói nghèo không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội được
hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra những
hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội. Đói nghèo còn ảnh hưởng đến nhiều
đối tượng khác nhau kể cả đối với người già và trẻ em, làm gia tăng bệnh tật,
trẻ em không có được cơ hội đến trường, từ đó nảy sinh ra những tệ nạn xã
hội, không được tiếp xúc với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe ...
Đặc biệt, càng khó khăn hơn khi họ là những người phụ nữ nghèo đơn
thân làm chủ gia đình họ không chỉ là nạn nhân của đói nghèo mà họ còn
gánh vác trọng trách nuôi sống cả gia đình, thiếu thốn tình cảm, mặc cảm, tự
ti, ít giao tiếp xã hội và sống khép mình, chịu sự kỳ thị của cộng đồng… Bởi
vậy, hạn chế tình trạng nghèo đói là nhiệm vụ của các cấp các ngành nói riêng
và toàn thể cộng đồng nói chung. Trong đó, NVCTXH được coi là những
người có trọng trách nặng trong giúp đỡ họ tự vượt qua những khó khăn trong
cuộc sống bằng những kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù.
Tại huyện Thăng Bình qua năm năm thực hiện chương trình xóa đói giảm
nghèo, tỉ lệ hộ nghèo năm 2015 đã giảm xuống còn 3316 hộ chiếm 8,80% ,
Công tác giảm nghèo trong thời gian qua đã có những thay đổi, đời sống của
người dân được nâng cao.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn là một huyện nghèo, đặc biệt tỉ lệ phụ nữ
nghèo đơn thân vẫn chiếm tỷ lệ cao. Theo danh sách thống kê hộ nghèo của
huyện Thăng Bình thì tỉ lệ hộ nghèo do phụ nữ đơn thân làm chủ hộ chiếm
45%. Trong đó xã Bình Hải là một trong những xã có nhiều phụ nữ nghèo đơn
1


2


của xã Bình Hải năm 2014, báo cáo của LHPN xã Bình Hải, các tài liệu về
phụ nữ nghèo đơn thân, …để làm tư liệu trong quá trình hoàn thành đề tài.
5.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu thân chủ nhằm mục
đích tìm hiểu sâu hơn về vấn đề, nhu cầu của thân chủ, thăm dò, phát hiện tìm
hiểu những chính sách và biện pháp mà chính quyền đã triển khai trong hỗ trợ
phụ nữ nghèo tại địa phương.
Bên cạnh đó, thu thập những thông tin về những thực trạng, nguyên nhân
nghèo hiện tại, nhận thức của họ về cách thức vươn lên thoát nghèo, những
khó khăn của họ trong quá trình giảm nghèo, những nguyện vọng và mong
muốn của họ…
6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
6.1. Ý nghĩa khoa học
Dưới góc độ tiếp cận của lý thuyết xã hội học, lý thuyết công tác xã hội,
đặc biệt là CTXHCN cùng với việc sử dụng các kỹ năng và các phương pháp
thu thập và phân tích thông tin, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung
cấp thêm nguồn lý luận phong phú cho việc ứng dụng các lý thuyết và các
phương pháp này trong thực tiễn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích ứng dụng tiến trình
CTXHCN với phụ nữ nghèo dựa trên khảo sát chính nhu cầu của họ. Việc ứng
dụng tốt tiến trình này sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho thân chủ bởi
thông qua đó họ có cơ hội bày tỏ, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống,
những tâm tư nguyện vọng cũng như những đường hướng để vươn lên
XĐGN, ổn định cuộc sống.
Nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho địa phương nghiên cứu để vận dụng thực hiện
công tác giảm nghèo cho phụ nữ. Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng giúp ích

Trong công tác xã hội cá nhân, đối tượng( hay còn là thân chủ) là một
trong những thành phần quan trọng nhất để tiến hành hoạt động này. Ở đây,
thân chủ được hiểu là cá nhân có vấn đề khó khăn cần được sự giúp đỡ của
các nhân viên công tác xã hội. Họ thường đến với mong muốn tạo ra sự thay
đổi về tình huống hoặc đáp ứng những nhu cầu cần thiết của họ. Đây cũng
chính là nguyên tắc cốt yếu trong công tác xã hội cá nhân khi giải quyết vấn
đề của người nhân viên xã hội.
1.1.1.2.Vấn đề về thân chủ
Vấn đề được xác định là những tình huống hay hoàn cảnh gây cản trở cho
việc thực hiện chức năng xã hội của đối tượng và bản thân đối tượng không
thể đối phó giải quyết được.
1.1.1.3.Tổ chức/ cơ quan giải quyết các vấn đề
• Phân loại:
- Dựa trên nguồn viện trợ: đó là các cơ quan thuộc chính phủ, ngoài
chính phủ. Tổ chức chính phủ được chính quyền tài trợ và các tổ chức ngoài

5


(phi) chính phủ gây quỹ từ các chiến dích hay từ những sự đỡ đầu tài chính
khác. Một sộ ít là cơ quan bán công vì họ có nhận được một phần tài trợ từ
chính phủ mặc dù tài chính là từ bên ngoài.
- Dựa theo sự chủ quản có thể phân thành: cơ quan chính phủ (được phép
hoạt động từ chính phủ, trên cơ sở luật lệ) và cơ quan tư nhân (được cấp
quyền hạn từ một nhóm công dân có quan tâm hay một cộng đồng hoặc lĩnh
vực tư nhân).
- Cũng có thể phân loại theo chức năng: đó là những cơ quan đa năng với
nhiều bộ phận (Bộ xã hội) nhưng cũng có những cơ quan chỉ có một chức
năng duy nhất (chủ yếu là các tổ chức phi chính phủ).
Các tổ chức xã hội đều có nhiệm vụ, chức nawnhg và cách tiếp cận riêng,

1.1.2.4. Quyền tự quyết của đối tượng
Quyền tự quyết, cùng sự tự do trong những quyết định của thân chủ là
một trong những quyên tắc căn bản của công tác xã hội cá nhân miễn sao hậu
quả của những quyết định ấy không làm ảnh hưởng, thậm chí gây tổn hại đến
người khác và bản thân họ, điều này có nghĩa, những quyết định này phải ở
trong những chuẩn mực hành vi mà xã hội có thể chấp nhận được và thân chủ
với tư cách là người ra quyết định phải tự chịu trách nhiệm thực hiện và gánh
lấy những hậu quả (nếu xảy ra) từ những quyết định của chính mình. Còn
nhân viên xã hội không được đưa ra những quyết định, lựa chọn hay vạch kế
hoạch giúp thân chủ đưa ra những giải pháp để thân chủ tự quyết định mà
thôi.
1.1.2.5. Sự tham gia của đối tượng trong việc giải quyết vấn đề
Kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc tự quyết là sự tham gia của thân chủ
trong việc giải quyết vấn đề. Thân chủ trở thành đối tuowngjchinhs trong việc
theo đuổi kế hoạch và thực hiện kế hoạch hành động và nhân viên xã hội đóng
vai trò là người tạo cơ hội cho thân chủ tham gia.
1.1.2.6. Sự bí mật của nhân viên xã hội
Sự chia sẽ thông tin của thân chủ với người khác của nhân viên xã hội cho
dù người đó ;à thành viên của gia đình mình hay một đồng nghiệp thân cận….
mà chưa có sự đồng ý của thân chủ thì đó là một điều tối kỵ trong hành nghệ
7


công tác xã hội cá nhân. Điều đó có nghĩa trong tiến trình công tác xã hội cá
nhân, có nhiều điều chỉ nhân viên xã hội mới được thân chủ chia sẽ. Những
thông tin này đòi hỏi nhân viên xã hội phải giữ bí mật. Có như vậy thì mối
quan hệ giữa nhân viên xã hội với thân chủ mới bền chặt và qua đó nhân viên
xã hội mới hiểu, cảm nhận được xúc cảm của thân chủ và nhìn nhận tình thế
của thân chủ như vấn đề của mình.
1.1.2.7. Tự ý thức của nhân viên công tác xã hội

viên xã hội tạo được ấn tượng tốt với thân chủ thì những bước sau sẽ thuận
tiện hơn.
Bước 2: Thu thập thông tin
Sau khi tiếp cận với thân chủ nhân viên xã hội phải tiến hành thu thập
thông tin nhằm xá định vấn đề thân chủ đang gặp khó khăn trong việc tìm ra
hướng giải quyết. Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình công tác xã hội cá
nhân, nó đóng vai trò quan trọng trong cá quá trình và kết quả của nó là sự
định hướng cho tất cá các bước tiếp theo bởi nếu nhận diện đúng sẽ dẫn tới
chẩn đoán và cách trị liệu đúng.
Bước 3: Chuẩn đoán
Gồm 3 bước: Chuẩn đoán, Phân tích, Thẩm định
- Chuẩn đoán xem xét tính chất của vấn đề và những trục trặc của nó trên
cơ sở các dữ liệu thu nhân được
- Phân tích là chỉ ra nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến khó khăn.
- Thẩm định là xem có thể giảm bớt những khó khăn này thông qua
những năng lực nào của thân chủ.
Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan
trong đó, nhân viên xã hội làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây mới chỉ
là kế hoạch tạm thời.
Để tiến hành chuẩn đoán tốt nhằm xây dựng kế hoạch trị liệu hiệu quả,
nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng một số công cụ như: Cây phả hệ;
Biểu đồ sinh thái; Bảng phân tích điểm mạnh và điểm yếu của thân chủ…để
có thể phân tích sâu và đưa ra chuẩn đoán chính xác.
Bước 4: Lên kế hoạch trị liệu

9


Trong giai đoạn này nhân viên xã hội sẽ xác định mục đích trị liệu và mục
tiêu cụ thể để đạt được mục đích. Nhiệm vụ của hoạt động này:



Bước 7: Kết thúc
Kết thúc là chấm dứt mối quan hệ giữa nhân viên xã hội với thân chủ
thường là khi nhân viên xã hội hoàn thành nhiệm vụ giúp thân chủ giải quyết
vấn đề hoặc là chuyển ca sang một cơ quan hoặc nhân viên xã hội khác giải
quyết và sự hiện điện của nhân viên xã hội là không còn cần thiết.

-

Việc kết thúc ca dựa trên:
Nhu cầu và quyền lợi của thân chủ.
Không kéo dài vì ý tưởng chủ quan của thân chủ.
Không kết thúc vì sự duy ý chí của nhân viên xã hội.
Trước khi kết thúc cần nới lỏng quan hệ.

1.2. Phụ nữ nghèo đơn thân
1.2.1. Khái niệm
Phụ nữ nghèo đơn thân là đối tượng trong tình trạng ly thân, ly hôn hoặc
là những bà mẹ tự túc (có con nhưng chưa kết hôn), người nuôi con một
mình, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần. Họ
thường bị cản trở trong việc gia nhập thị trường lao động hay tìm kiếm việc
làm vì phải chăm sóc con cái.
( Theo tạp chí “ Tiếp thị và gia đình”)
1.2.2.Đặc điểm
Phụ nữ nghèo đơn thân họ là những người ít có cơ hội tiếp cận với khoa
học, công nghệ, tín dụng và đào tạo…không những thế phụ nữ nghèo đơn thân
còn là những người thường gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống gia đình nhất
là trong việc tự quyết định các công việc trong gia đình một cách đơn độc.
Ngoài xã hội thì họ thường là những người dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt

+ Thôn An Thuyên: 97,09 ha
+ Thôn Kỳ Trân: 225,79 ha
-Địa hình:
Địa hình nhiều gò đồi, địa hình trũng nhất là 0,5m thuộc thôn Phước An
1, thôn Phước An 2, thường dễ bị ngập úng vào mùa mưa. Dọc theo địa hình
về phía Tây Nam của xã có con sông Trường Giang với lưu lượng nước khá
lớn là tiềm năng phát triển của xã.
-Địa hình đồi gò: Chiếm 27% diện tích tự nhiên, phân bổ phổ biến trên
toàn xã trải dài dọc theo xã từ Bắc xuống Nam. Do hiện tượng xói mòn, rửa
trôi đất xảy ra mạnh làm cho đất bị bạc màu, một số khu thích hợp phát triển
lâm nghiệp.
12


Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất
Hiện trạng năm

Tỷ lệ % so

2012

với đất tự

(ha)

nhiên

Khoản mục
Diện tích tự nhiên


4,09%

- Đất trồng cây lâu năm

17,19

1,37%

b. Đất nuôi trồng thuỷ sản

96,15

7,68%

c. Đất lâm nghiệp

381,43

30,48%

2. Đất phi nông nghiệp

410,61

32,81%

- Đất ở

95,53



0,24%

- Đất nghĩa trang nghĩa địa

70,58

5,64%

- Đất sông suối và mặt nước 145,33

11,61%

chuyên dung
3. Đất chưa sử dụng

81

6,47%

Khí hậu:

Theo tài liệu quan trắc của Đài khí tượng thủy văn Quảng Nam, các yếu
tố khí hậu thời tiết khu vực như sau:
25,80 C

+ Nhiệt độ trung bình hằng năm:
+ Lượng mưa trung bình hằng năm

:

-Tổng số người trong độ tuổi lao động là 3.112 LĐ, trong đó số người còn
khả năng lao động là 3.019 người, còn 93 người mất sức lao động do đau ốm,
bệnh tật chiếm 2,99%. Lao động nông, ngư nghiệp 2.945 người chiếm
94,63%, còn lại lao động trong các lĩnh vực thương mại - dịch vụ, TTCN và
ngành nghề khác chiếm 2,38%. Nhìn chung những năm qua mức độ chuyển
dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ
cao. Qua số liệu trên, ta thấy số hộ dân của xã sống bằng nghề nông nghiệp
còn khá cao, diện tích bình quân cho 1 lao động nông nghiệp là 0.13 ha/lao
động.
+ Nhân khẩu nông, ngư nghiệp: 6.007 người, ứng với 1.667 hộ;
+ Nhân khẩu phi nông nghiệp: 148 người, ứng với 41 hộ.
Tổng số hộ 1.708 hộ, 6.155 khẩu, trong đó lao động trong độ tuổi là
3.112 người (Nam: 1.570 người, nữ: 1.542 người)

14


-Là địa phương có số lao động tương đối dồi dào, song do địa bàn của xã sản
xuất nông nghiệp còn nhiều khó khăn, không chủ động nước, tiến độ phát
triển kinh tế của địa phương chậm, đời sống nhân dân còn nghèo nên đa số
lao động phổ thông chưa qua đào tạo. Vài năm gần đây được Nhà nước đầu tư
xây dựng 02 ao gom nước nhĩ, kênh mương nội đồng, nạo véc và nâng cấp ao
đìa, hàn gắn các đoạn đê ngăn mặn bị hư hỏng, xuống cấp, tập huấn chuyển
giao khoa học kỹ thuật trong nuôi trồng thủy sản, đầu tư con, giống có hiệu
quả nên ngành nông nghiệp có nhiều bước phát triển đáng kể, cộng vào đó,
đất đai dồi dào, lao động đảm bảo, nhân dân có truyền thống cần cù lao động,
đặc biệt là có Nghị quyết 26 của BCH Trung ương khóa X về Nông nghiệp Nông dân - Nông thôn, chắc chắn xã nhà sẽ phát triển tốt trên các lĩnh vực
kinh tế, văn hóa xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trong thời gian đến.
1.3.2.3.Tiềm năng của địa phương trong phát triển kinh tế xã hội
Địa phương có tiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp, đánh bắt

2.2. Lý thuyết tiếp cận
2.2.1 Lý thuyết phân tầng của Karl Marx và Max Weber
Xã hội học hiện đại, kể cả xã hội học hiện đại phương Tây nói chung
đều thừa nhận có hai ông tổ của lý thuyết phân tầng xã hội - đó là Karl Marx
và Max Weber. Bởi lý thuyết của ông tổng hợp lại đã cung cấp cho người ta
những nhận thức rất cơ bản về tiền đề và điều kiện (hay những nhân tố về

16


kinh tế, chính trị, văn hóa) dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp và
tầng lớp khác nhau.
a. Lý thuyết phân tầng xã hội của Karl Marx (1818- 1883)
Karl Marx là nhà triết học và kinh tế học Đức, nhà lý luận của phong
trào công nhân thế giới, nhà sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ
nghĩa cộng sản khoa học.
Theo tập thể các tác giả cuốn Nhập môn xã hội học (Tony Bilton và
cộng sự) - một cuốn sách giáo khoa tốt nhất, tổng hợp nhất và có giá trị nổi
bật, thì “Marx đã cung cấp cho xã hội học và chính trị học hiện đại một trong
những tiếp cận lý thuyết phân tầng bao quát mạnh mẽ nhất. Cũng lúc đó, cách
giải thích về xã hội của ông là một cách giải thích bị tranh luận gay gắt nhất
trong mọi học thuyết xã hội, bởi vì nó không chỉ là lý thuyết xã hội học, mà
cũng là một triết lý về con người và mộ cương lĩnh cho sự thay đổi cách mạng
trong xã hội…Các nhà xã hội học khác nhau đã chấp nhận những quan điểm
khác nhau đó, những người khác thì ở lưng chừng, nhưng điều chắc chắn là
bất cứ lý thuyết phân tầng nào đều vay mượn của Marx cách lý giải về giai
cấp…. Với Marx mối quan hệ giai cấp là chìa khóa mọi mặt của xã
hội”[43,56].
Marx cho rằng, sản xuất của cải vật chất là hoạt động trước tiên của
con người và nó phải đến trước mọi hoạt động khác. Chừng nào mà xã hội có

trong xã hội là tư sản vô sản vào thời đại của mình, ông không hề bỏ qua các
giai tầng xã hội khác như: giai cấp nông dân, giai cấp địa chủ, những người
sản xuất nhỏ, tầng lớp tăng lữ, tầng lớp tri thức xuất thân từ các giai cấp khác
nhau; tầng lớp công nhân “quý tộc”, tầng lớp vô sản “lưu manh” trong bản
thân giai cấp công nhân…[43, 108].
b. Lý thuyết phân tầng xã hội của Marx Weber (1864- 1992)
Marx Weber là kinh tế học, nhà sử học đặc biệt ông còn được tôn vinh
là một nhà xã hội học bách khoa toàn thư.

18


Marx Weber cũng là một người Đức nhưng thuộc thế hệ hậu sinh của
Marx, ông đã đưa ra lý thuyết phân tầng của mình, trong đó vừa có điểm “vay
mượn” của Marx vừa có những điểm phát triển thêm.
Ý kiến của Weber khác với Marx theo nhiều cách. Ông bác bỏ mục
đích và chính sách của các nhà xã hội chủ nghĩa Đức vì coi chủ nghĩa cộng
sản là một Utopia không thể đạt tới. Bao quát hơn, ông bác bỏ ý kiến cho rằng
các nhà xã hội học có thể khái quát hóa các cấu trúc xã hội bằng cách sử dụng
sự phân tích các phương thức sản xuất. Với Weber, mỗi xã hội về mặt lịch sử,
đều độc nhất và phức tạp.
Mặc dù không tán thành mục tiêu chính trị của Marx, hơn nữa ông
còn phê phán, bác bỏ quan niệm của Marx cho rằng những quan hệ kinh tế
luôn luôn là yếu tố giải thích cấu trúc xã hội và động lực đầu tiên của sự thay
đổi xã hội. Ông tin rằng những tư tưởng tôn giáo có một ảnh hưởng độc về
mặt lịch sử và rằng lĩnh vực chính trị thường là lực lượng kiểm soát cốt yếu
trong những thay đổi xã hội song khi bàn đến cơ cấu xã hội dưới chủ nghĩa tư
bản, Weber cũng phải thừa nhận rằng chính những quan hệ kinh tế đã tạo nên
cơ sở của sự bất bình đẳng, tức là tạo tiền đề và điều kiện cho sự phân chia xã
hội thành các giai cấp khác nhau. Chỉ có điều “Weber nhấn mạnh tầm quan

Tuy nhiên, khi đánh giá học thuyết của Weber thì có một số vấn đề
trong sự giải thích của ông: không thể có tiêu chuẩn để phân chia lực lượng –
lao động thành giai cấp và phân tầng. Nói một cách khác, sự phân tích của
Weber về khả năng thị trường sẽ đặt mỗi cá nhân vào một giai cấp riêng rẽ.
Một cách quan trọng hơn, những tiếp cận của Weber có xu hướng tập trung
vào công việc, coi nhẹ của cải như một yếu tố cốt yếu trong cấu trúc giai cấp.
Từ các lý thuyết phân tầng của Marx và Weber, xã hội học hiện đại đã
rút ra ba nhân tố cơ bản dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp và
tầng lớp là: Sở hữu tài sản; trí tuệ; quyền lực.
Như vậy, cả Marx và Weber đều coi xã hội phương Tây là xã hội tư
bản và cả hai đều thống nhất là những nét phân biệt cốt yếu của điều đó là sự
sở hữu tư nhân về các tài sản sản xuất và một thị trường lao động. Chính vì lẽ
đó mà tập thể tác giả cuốn nhập môn xã hội học đã đưa ra kết luận rằng những
20


tư tưởng của Marx và Weber có thể phối hợp một phần để tạo nên mô hình ba
giai cấp chính trong xã hội tư bản hiện đại. Tầng lớp trên ít ỏi gồm những ai
nắm được tư liệu sản xuất. Giai cấp này trùng với giai cấp tư sản của Marx.
Tuy nhiên, những người không sở hữu các tài sản sản xuất không thể được mô
tả tất thảy như là vô sản. Người nghèo theo lý thuyết phân tầng không chỉ bị rơi
xuống tầng đáy của thang bậc phân tầng xã hội mà gần như ở ngoài lề của hệ
thống thứ bậc đó. Lớp nghèo bị coi là giai cấp dưới trong hệ thống phân tầng,
có địa vị xã hội thấp kém, không có quyền lực, uy tín, không sở hữu của cải và
ở bên lề thị trường lao động.
Trong phạm vi nghiên cứu này sẽ vận dụng lý thuyết phân tầng của K.
Marx và M.Weber về quyền sở hữu tài sản, phân công lao động, khả năng thị
trường lao động, cơ may đời sống, uy tín xã hội… để phân tích và thấy rõ
những đặc trưng của người nghèo từ đó đưa ra các giải pháp tích cực để xây
dụng mô hình giảm nghèo hiệu quả, nhanh chóng rút ngắn ranh giới của sự

Nhu
được
tôn
trọng
được tôn
trọng

Nhu
cầucầu
xãxã
hộihội
Nhu

Nhu
cầu
anan
toàn
Nhu
cầu
toàn

Nhu
cầucầu
vậtvật
chất
Nhu
chất

Nhu cầu thể chất sinh lý:
Đó là nhu cầu về thức ăn, nước uống, không khí, tình dục… Ông cho

2.3.1. Tiếp cận đối tượng
Tiếp xúc với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ có hoàn cảnh khó khăn
là một vấn đề không hề đơn giản bởi họ luôn có những mặc cảm, tự ti, sống
khép mình, ít giao tiếp với mọi người xung quanh,…Vì vậy, ngay từ đầu
NVCTXH cần phải thật linh hoạt, chân thành để tạo sự tin tưởng với thân chủ.
Được sự giới thiệu của Ban Văn hóa- xã hội xã Bình Hải và Hội Phụ nữ
xã Bình Hải, NVCTXH đã tìm đến gặp gỡ trao đổi với cán bộ phụ nữ thôn
Hiệp Hưng, xã Bình Hải.

23


Mục tiêu của buổi làm việc là nhằm thiết lập mối quan hệ với cán bộ cơ
sở qua đó tìm hiểu một số thông tin về tình hình phụ nữ nghèo đói trên địa
bàn thôn thông qua việc trao đổi trực tiếp với cán bộ phụ nữ xã, thôn và hồ sơ
hộ nghèo lưu trữ tại nhà văn hóa thôn.
Sau khi có được danh sách và một số thông tin về những hộ nghèo do phụ
nữ làm chủ hộ, NVCTXH đặc biệt quan tâm đến chị Nguyễn Thị Lài bởi chị
không chỉ thiếu thốn về vật chất mà thiếu hụt về tình cảm, hơn nữa chị lại
mặc cảm với mọi người xung quanh và mang nỗi lo âu khi đứa con trai duy
nhất của chị lại bị tật nguyền bẩm sinh.
2.3.2. Thu thập thông tin
Từ hồ sơ hộ nghèo tôi thu thập được một số thông tin về thân chủ như
sau:
Tên
Giới tính
Sinh năm
Mối quan hệ
Biến cố



đích, nguyên tắc của NVCTXH,…nhằm xây dựng niềm tin với thân chủ, giúp
thân chủ hiểu hơn về CTXH đồng thời giúp thân chủ cởi mở hơn trong việc
giao tiếp và làm việc với NVCTXH. Qua buổi tiếp xúc, trò chuyện đầu tiên
này, NVCTXH cũng nhận thấy thân chủ có phần bi quan trong cuộc sống nên
đã sử dụng kỹ năng khích lệ, đồng cảm nhằm giúp cho thân chủ bớt bi quan
trong cuộc sống và tự ti trong giao tiếp.
Trong buổi trò chuyện này, NVCTXH cũng tranh thủ thu thập một số
thông tin để xác định vấn đề ban đầu thông qua thân chủ.
“ Chị sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông, nghèo bố mẹ mất
sớm. Năm 2005 chị lấy chồng, hai vợ chồng như hai mảnh ghép cuộc đời đều
là những đứa trẻ mồ côi cha mẹ lớn lên trong sự yêu thương của họ hàng.
Chồng chị làm nghề đi câu mực ở biển khơi khoảng 3 tháng mới về nhà một
lần. Năm 2006 khi đang làm việc trên biển thì cơn bão Chan Chu đã đổ bộ
vào biển Đông cướp đi sinh mạng người chồng của chị . Trong khi đó chị
đang mang thai đứa con được 2 tháng. Rồi cũng tới ngày sinh Hậu chỉ có một
mình chị, nhìn đứa con tật nguyền ra đời chị thấy tủi thân. Nhiều lúc chị chỉ
muốn ôm con chết theo chồng cho bớt khổ”.
Sau những buổi vãng gia, thăm và trò chuyện với thân chủ NVCTXH
nhận thấy thân chủ và gia đình đã dành cho mình sự tin cậy và quý mến nhất
định, NVCTXH đã tiến hành thu thập thông tin.
Công việc thu thập thông tin được tiến hành trong suốt quá trình can
thiệp. NVCTXH đã thông qua một số nguồn có thể tiếp cận như thân chủ,
hàng xóm, những người thân, Hội phụ nữ thôn Hiệp Hưng để thu thập thông
tin. Để thu thập được những thông tin cần thiết NVCTXH đã sử dụng nhiều
kỹ năng như: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, kỹ năng khuyến khích làm
rõ ý, kỹ năng phỏng vấn sâu,… để khai thác và thu thập vấn đề của đối tượng.
2.3.3. Xác định vấn đề
Như vậy bằng kỹ năng thấu cảm, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng cung cấp
thông tin,kỹ năng quan sát,….đồng thời qua quá trình tiếp xúc và trò chuyện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status