MỤC LỤC
STT
Nội dung
Trang
1.Mở đầu
1
2
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng
2.3. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.3. 1. Nguyên tắc thiết kế trò chơi
2.3. 2. Nguyên tắc vừa sức thể hiện
2.3.3.Nguyên tắc khai thác và thực hành
2.3.4. Quy trình tổ chức trò chơi
2.3. 5. Một số dạng trò chơi
2.3.5.1. Trò chơi: “Hoa điểm 10”
2.3.5.2. Trò chơi: “Bức tranh bí ẩn”
2.3.5.3. Trò chơi giải ô chữ:
2.3.5.4. Trò chơi ong tìm tổ
2.4.Kết quả đạt được
1.1. Lý do chọn đề tài:
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi người giáo viên bên cạnh việc có
kiến thức tốt còn phải có kỹ năng truyền đạt kiến thức sao cho kiến thức đến với
người học ngắn nhất, dễ hiểu nhất
Công nghệ là bộ môn khoa học thực nghiệm có vai trò quan trọng trong
nhà trường. Môn công nghệ cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức phổ
thông, cơ bản và thiết thực.
Đổi mới phương pháp dạy học môn Công nghệ cũng không ngoại lệ.
Ngoài việc nâng cao hiệu quả dạy học bằng nhiều phương pháp khác nhau như:
phương pháp thực hành, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng công
nghệ thông tin …thì việc tạo hứng thú say mê học tập môn công nghệ cũng là
một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Do đó giáo viên bộ môn cần hình thành ở các
em lòng yêu thích môn học, những cách học dễ nhớ, phương pháp làm việc khoa
học là nền tảng cho việc giáo dục xã hội chủ nghĩa, phát triển năng lực hành
động và hình thành kỹ năng sống.
Khi nói đến môn Công nghệ ở trường trung học cơ sở, đa phần học sinh
đều cho rằng đây là một môn học phụ , khô khan. Hơn nữa với lứa tuổi học sinh
THCS đây là lứa tuổi chuyển giao từ trẻ em lên người lớn vì vậy các em thường
bị phân tán bởi những suy nghĩ bên ngoài, khó tập trung vào bài giảng, đồng
thời bên cạnh hoạt động học là chủ đạo thì nhu cầu chơi, giao tiếp với bạn bè
vẫn tồn tại, cần được thoả mãn. Nếu người giáo viên biết phối hợp nhịp nhàng
giữa nhiệm vụ của hoạt động học với sự thỏa mãn nhu cầu chơi, giao tiếp của
các em "Học mà chơi, chơi mà học" thì các em sẽ hăng hái say mê học tập và tất
yếu sẽ nâng cao chất lượng môn học.
Xuất phát từ những lý do trên cùng với suy nghĩ làm thế nào giúp học
sinh ham học và yêu thích môn học, tạo tiền đề cho việc phát triển tư duy của
đến nhiều kiến thức do sự liên kết các kiến thức là không có. Bên cạnh đó một
số giáo viên chỉ chú trọng vào rèn kĩ năng, phương pháp giải các dạng bài tập
mà chưa chú ý nhiều đến việc liên hệ kiến thức thực tế với kiến thức bài học,
phương pháp làm cho bài giảng sinh động… Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới
việc nâng cao hiệu quả bài dạy, chưa phát huy được tính tích cực chủ động sáng
tạo của học sinh, học sinh không có động cơ học tập đúng đắn, kiến thức thực tế
còn nhiều thiếu xót. Điều đó đã thôi thúc tôi cần phải thực hiện vận dụng đề tài
để góp phần đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng.
Qua khảo sát khi chưa áp dụng phương pháp sử dụng trò chơi công nghệ
vào giảng dạy bộ môn thì nhiều học sinh ngại học, chất lượng làm bài tập, kiểm
tra bài cũ và khả năng liên hệ, giải thích hiện tượng thực tế của các em học sinh
qua từng năm học còn thấp, cụ thể:
2015 - 2016
2016 - 2017
2017 - 2018
(Sĩ số: 44HS)
(Sĩ số: 49HS)
(Sĩ số: 40HS)
Năm Học
SL
%
SL
%
SL
%
Thái độ
môn học
Bình thường
6
13.6
7
14.3
4
10.0
Thích
3
6.8
3
6.1
1
2.5
Yếu, kém
9.1
5
10.2
2
5.0
Giỏi
0
0
1
2.0
1
2.5
Bản thân tôi là một giáo viên được phân công công tác tại trường THCS
Tam Lư - một trường học vùng cao, với điều kiện còn nhiều khó khăn, thiếu
trang thiết bị, không có phòng học bộ môn; đồng thời tất cả học sinh là dân tộc
thiểu số với trình độ còn hạn chế, năng lực tư duy chưa cao và sự đầu tư cho học
tập của đại đa số gia đình là không có. Vì vậy trong quá trình giảng dạy và học
tập gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là với bộ môn thực nghiệm như môn Công
nghệ. Tuy nhiên bản thân tôi luôn trăn trở để tìm ra những hướng đi, cách giải
quyết vấn đề sao cho ngắn gọn, dễ hiểu và dễ nhớ. Trong sáng kiến này tôi xin
trình bày những kinh nghiệm của bản thân trong quá trình sử dụng trò chơi công
nghệ vào trong giảng dạy góp phần làm giảm sự khô cứng, tăng sinh động cho
bài giảng, nâng cao hứng thú học tập của học sinh với bộ môn Công nghệ.
2.3. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.3.1. Nguyên tắc thiết kế trò chơi
khoa, căn cứ vào thời gian, mục tiêu đề ra ở mỗi tiết học cũng như đối tượng
học sinh, môi trường học tập ở đơn vị để người GV thiết kế và vận dụng các trò
chơi vào từng bài cụ thể sao cho phù hợp
2.3.4. Quy trình tổ chức trò chơi:
Trò chơi được thực hiện thông qua 4 bước:
- Bước 1: GV giới thiệu tên, mục đích của trò chơi
- Bước 2: GV phổ biến luật chơi, hướng dẫn người chơi. Bước này bao
gồm các công việc sau:
+ Phổ biến luật chơi: cách chơi, cách tính điểm, quy định thời gian, những
điều người chơi không được làm…
+ Chọn người chơi, đội chơi, trọng tài, hướng dẫn chơi…
+ Bố trí các dụng cụ dùng để chơi
- Bước 3: Tiến hành chơi
- Bước 4: Đánh giá, công bố kết quả: Nhận xét thái độ của người chơi, kết
quả chơi. Từ đó học sinh lĩnh hội kiến thức
2.3.5. Một số dạng trò chơi:
2.3.5.1. Trò chơi: “Hoa điểm 10”
Có các câu hỏi mang thông tin cần truyền đạt. Mỗi câu hỏi có 4 phươngán
5
lựa chọn A, B, C, D và chỉ có 1 đáp án đúng.
Người chơi phải suy nghĩ trong khoảng thời gian 10 giây để đưa ra câu trả
lời đúng bằng cách đồng loạt giơ cao phương án lựa chọn
HS nào trả lời đúng thì có quyền trả lời câu hỏi tiếp theo
HS nào trả lời sai hoặc hết thời gian suy nghĩ mà không có câu trả lời thì
dừng cuộc chơi.
Kết thúc trò chơi HS nào còn bảng trên tay với câu trả lời cuối cùng đúng
thì giành được điểm 10
* Chuẩn bị:
D. Hình biểu diễn, kích thước, khung tên, phân tích chi tiết.
Câu 3: Trình tự đọc bản vẽ nhà như thế nào là đúng?
A. Hình biểu diễn, khung tên, kích thước, các bộ phận.
B. Khung tên, kích thước, hình biểu diễn, các bộ phận.
C. Khung tên, hình biểu diễn, kích thước, các bộ phận.
D. Khung tên, hình biểu diễn, các bộ phận, kích thước.
6
Câu 4: Trong bản vẽ nhà, hình biểu diễn nào là quan trọng nhất?
A. Mặt đứng
B. Mặt cắt
C. Mặt bằng
D. Cả A, B, C đều đúng.
2.3.5.2. Trò chơi: “Bức tranh bí ẩn”
Có một bức tranh mang thông tin cần truyền đạt được che bằng các miếng
ghép. Mỗi miếng ghép tương ứng với một câu hỏi liên quan. Để mở miếng ghép,
người chơi cần phải trả lời đúng được câu hỏi. Sau khi các miếng ghép được mở
hết, bức tranh sẽ được hiện ra, GV có thể đặt ra một số câu hỏi về nội dung của
bức tranh.
Thông qua việc trả lời các câu hỏi dưới dạng mở miếng ghép và giải mã
bức tranh, HS sẽ lĩnh hội được các kiến thức mà GV cần truyền đạt.
* Chuẩn bị:
- GV: Các miếng bìa catton, giấy A0, nam châm hoặc máy chiếu (nếu có)
GV cắt bìa thành các miếng nhỏ tương ứng với các miếng ghép có ghi số
thứ tự, gắn trên một bức tranh có nội dung cần truyền đạt.
* Tổ chức trò chơi:
- GV phổ biến luật chơi
- HS có thể lựa chọn miếng ghép tùy ý hoặc theo thứ tự lần lượt
- GV đưa ra câu hỏi tương ứng với miếng ghép HS đã chọn
máy thuyr điện lớn nhất Đông nam á
2.3.5.3. Trò chơi giải ô chữ:
Trò chơi này có thể dùng khi giới thiệu bài, củng cố hoặc truyền tải nội
dung của bài học
Có các ô chữ hàng ngang và một ô chữ chìa khóa, mỗi ô chữ đều có một
gợi ý đi kèm. Mỗi ô chữ hàng ngang có một hoặc nhiều chữ cái trong ô chữ chìa
khóa được sắp xếp theo thứ tự hoặc lộn xộn. HS căn cứ vào các gợi ý để giải mã
các ô chữ hàng ngang và tìm ra ô chữ chìa khóa.
Kết thúc trò chơi ai tìm ra được ô từ khóa chính xác sẽ là người chiến
thắng.
* Chuẩn bị:
- GV thiết kế ô chữ có câu hỏi gợi ý
- Máy chiếu hoặc giấy A0 ghi ô chữ
- Đồng hồ bấm giờ
* Cách thực hiện:
Cả lớp cùng chơi.
- GV phổ biến luật chơi.
- GV lựa chọn HS ngẫu nhiên
- HS nào được gọi tên sẽ chọn ô chữ của mình, sau đó nghe lời gợi ý của
GV và suy nghĩ trong vòng 10 giây nếu trả lời đúng đáp án sẽ được điểm, nếu
trả lời sai thì nhường cơ hội cho các HS còn lại.
Tiếp tục như vậy cho đến khi ô chữ được giải mã
- GV nhận xét, tổng kết trò chơi
- Khi giáo viên thực hiện việc nhận xét học sinh chú ý đến một số điểm
cần lưu ý trong bài học , gi áo viên có thể củng cố lai kiến thức về đồ dùng điện
nhiệt như sau đây là đồ dùng rất phổ biến trong mỗi gia đình của chúng ta như,
Nồi cơm điện, bếp điện, bàn là, bình nóng lạnh.......
Vì vậy khi sử dùng cần phải lưu ý bộ phận quan trọng nhất của nó là dây
đốt nóng và các yêu càu kĩ thuật của dây đốt nóng như sau :
- Dây đốt nóng làm bằng vật liệu dẫn điện có điện trở suất lớn như dây
Ó N G
N
I
K
E
N
C
R O M
Đ
I
Ệ
N
N
Ă
N
Ạ
C
H
8
Đ Ó N
9
N
N
G
2
3
4
5
6
G Đ
I
Ệ
9
Kết thúc trò chơi, HS nào tìm đúng, tìm nhanh bạn mình nhất thì ghi được
10 điểm. Bạn nào tìm sai thì phải tự nhẩm lại để tìm đúng bạn mình.
* Chuẩn bị:
- GV chuẩn bị các tấm bìa cứng ghi nội dung cần truyền tải, số lượng theo
nội dung câu hỏi.
- Đồng hồ bấm giờ
* Cách thực hiện:
- GV lựa chọn một số HS tham gia trò chơi (số lượng tùy thuộc vào nội
dung câu hỏi), chia HS thành 2 đội: đội A có số lượng HS bằng hoặc nhiều hơn
đội B (các phương án nhiễu).
- HS lựa chọn thẻ. Sau đó 2 đội tập hợp thành 2 hàng. HS có 10 giây để
quan sát và phân tích nội dung thẻ của mình và nội dung thẻ của các bạn
- Sau 10 giây, GV hô khẩu lệnh “ Tìm bạn! Tìm bạn!”, HS ở đội B phải
nhanh chóng tìm và chạy về với bạn chơi ở đội A mang tấm thẻ có nội dung ăn
khớp với nội dung thẻ của mình.
- GV nhận xét và tổng kết lượt chơi.
Sau một lượt giáo viên đổi thẻ lẫn lộn, sau đó cho các em tiếp tục chơi
hoặc nhóm khác chơi.
* Ví dụ minh họa:
VD1: Tiết 29 – bài 32– Vai trò của điện năng trong sản xuất và đời sống
(Công nghệ 8)
Để rèn luyện và củng cố kiến thức về các nhà máy điện, GV chuẩn bị 2
loại thẻ: 1 loại là một số nhà máy điện sản xuất điện năng ở nước ta (VD: Thủy
điện, nhiệt điện, nhà máy điện nguyên tử… ), 1 loại là tên các nhà máy tương
ứng (VD: Hòa bình, trị an Đa nhim, Ô môn, Phả lại, Uông bí)…)
HS lựa chọn và rút thẻ ngâu nhiên, và tập trung thành 2 hàng. Sau 10 giây
quan sát và suy nghĩ GV ra khẩu lệnh, HS chạy tới tìm bạn có nội dung ăn khớp
vật chất (phòng học bộ môn), trang thiết bị dạy – học (Máy chiếu, dụng cụ) để
đảm bảo điều kiện cho quá trình dạy và học.
Cần có chế độ đãi ngộ, khuyến khích các giáo viên sáng tạo, học tập nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Tăng cường tổ chức các buổi thảo luận, học tập chuyên đề để giáo viên có
cơ hội trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
Tam Lư, ngày 26 tháng 04 năm 2018
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm của mình viết, không sao
chép của người khác.
Giáo viên
Hà Văn Đương
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK Công nghệ 8
2.SGV Công nghệ 8
3. Trên Internet
https://123doc.org/document/2496926-skkn-thiet-ke-va-to-chuc-tro-choi-o-chutrong-hoat-dong-day-hoc-hoa-hoc-bac-thcs.htm
12