BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
NGUYỄN TIẾN DŨNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
CỦA VẾT THƯƠNG MẠN TÍNH VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ
CỦA GHÉP TẾ BÀO GỐC TỪ MÔ MỠ TỰ THÂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2018
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ, ký hiệu viết tắt trong luận văn
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hình
ĐẶT VẤN ĐỀ …………………………………………………………….
CHƯƠNG 1: TỒNG QUAN TÀI LIỆU ………………………………..
1.1.Quá trình liền vết thương …………………………………..............
1.2. Một số đặc điểm vết thương mạn tính …………………….............
1.3. Một số biện pháp chăm sóc, hỗ trợ điều trị vết thương ……….......
53
Trang
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ………………………
54
3.1. Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng vết thương mạn tính ..
54
3.1.1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu ………………….......
54
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng tại chỗ vết thương mạn tính ……………
55
3.1.3. Một số đặc điểm cận lâm sàng ở thời điểm T0 ........................
63
3.2. Kết quả ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân điều trị vết thương mạn tính
70
3.2.1. Một số đặc điểm của bệnh nhân tại thời điểm T1 ………........
70
3.2.2. Biến đổi lâm sàng tại chỗ vết thương mạn tính sau ghép tế
bào gốc từ mô mỡ tự thân .......................................................
72
3.2.3. Một số chỉ số máu ngoại vi và vi khuẩn bề mặt vết thương
mạn tính sau ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân … ………...
82
3.2.4. Hình thái cấu trúc vết thương mạn tính trên tiêu bản nhuộm
H&E sau ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân ……………......
3.2.5. Siêu cấu trúc vết thương mạn tính trước và sau ghép tế bào
gốc từ mô mỡ tự thân trên kính hiển vi điện tử truyền qua ....
3.2.6. Kết quả và thời gian điều trị vết thương mạn tính ……….......
đặc điểm vết thương mạn tính trước ghép tế bào gốc từ mô
mỡ tự thân ...............................................................................
4.3.2. Biến đổi da vùng cận tổn thương của vết thương mạn tính
sau ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân …...............................
4.3.3. Biến đổi nền vết thương mạn tính sau ghép tế bào gốc từ mô
mỡ tự thân ................................................................................
4.3.4. Biến đổi cấu trúc và siêu cấu trúc vết thương mạn tính sau
ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân ….....................................
4.3.5. Đặc điểm nhiễm khuẩn tại chỗ vết thương mạn tính sau ghép
tế bào gốc từ mô mỡ tự thân …...…………………................
4.3.6. Kết quả điều trị và tác động không mong muốn khi ghép tế
bào gốc từ mô mỡ tự thân ………………………………......
KẾT LUẬN ……………………………………………………………....
KIẾN NGHỊ ………………………………………………………….......
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................
PHỤ LỤC
109
110
110
115
117
122
128
130
133
135
136
G-CSF
Granulocyte-colony stimulating factor- G-CSF
(Yếu tố kích thích tạo cụm bạch cầu hạt)
6
7
8
GOT
GPT
HGF
Glutamate oxalate transaminase
Glutamate pyruvat transaminase
Hepatocyte growth factor
(Yếu tố tăng trưởng tế bào gan)
9
10
IL
IGF
Interleukin
Insulin-like growth factor
(Yếu tố tăng trưởng giống Insulin)
11
(Yếu tố hoại tử khối u)
DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TT
Phần viết tắt
Phần viết đầy đủ
17
18
19
TBG
TBGM
VEGF
Tế bào gốc
Tế bào gốc từ mô mỡ
Vascular endothelial growth factor
(Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu)
20
21
VT
VTMT
Vết thương
3.16
3.17
Số lượng vết thương mạn tính trên một bệnh nhân …………….
Tình trạng viêm cấp tính tại chỗ vết thương mạn tính .......…….
Tình trạng xơ chai, tăng sản và ẩm ướt da vùng cận tổn thương
của vết thương mạn tính ………..................................................
Tình trạng biểu mô hóa tại chỗ vết thương mạn tính ..................
Nhiệt độ vùng cận tổn thương của vết thương mạn tính và da lành
Diện tích, độ sâu và mô tại chỗ tích vết thương mạn tính ……..
Số lượng, màu sắc dịch tiết và pH bề mặt vết thương mạn tính
Một số chỉ số huyết học máu ngoại vi ….........…………….......
Một số chỉ số sinh hóa máu ngoại vi …………...……………....
Phân bố các chủng vi khuẩn trên bề mặt vết thương mạn tính
Số lượng vi khuẩn/ 1cm2 bề mặt vết thương mạn tính ..………
Độ sâu vết thương mạn tính được ghép tế bào gốc từ mô mỡ
tự
thân
……..................................................................................
Tình trạng xơ chai, tăng sản và độ ẩm da vùng cận tổn thương
của vết thương mạn tính sau ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân
Tình trạng biểu mô hóa và nhiệt độ da vùng cận tổn thương của
vết thương mạn tính sau ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân .......
Biến đổi mô và đặc điểm dịch tiết tại chỗ vết thương mạn tính
sau ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân …………………………
Biến đổi pH bề mặt vết thương mạn tính sau ghép tế bào gốc từ
mô mỡ tự thân ………………………………………………….
56
56
82
Những can thiệp giúp vết thương mạn tính liền hoàn toàn .........
95
3.22
Tác dụng không mong muốn khi ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân
95
4.1
Thời gian điều trị vết thương mạn tính bằng các biện pháp khác nhau
132
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
1.1
Quá trình liền vết thương và vai trò của tế bào gốc trung mô
24
85
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
1.1 Cơ chế tạo dịch tiết tại chỗ vết thương …………………………….
10
1.2 pH của vết thương cấp tính, vết thương mạn tính và quá trình liền
vết thương theo thời gian ..................................................................
12
1.3 Tế bào gốc trung mô biệt hóa thánh các loại mô khác nhau .............
25
1.4 Tê bào gốc trong mô mỡ …………………………………………...
27
1.5 Vai trò của tế bào gốc từ mô mỡ trong tái tạo và phục hồi da ……..
29
1.6 Quy trình lấy mô mỡ, xử lý mô, nuôi cấy tạo tấm tế bào, chuẩn bị
nền vết thương và ghép cho bênh nhân …………………………….
31
2.1 Tấm tế bào gốc từ mô mỡ tự thân trong transwell………………….
35
2.2 Xác định kích thước vết thương bằng phần mềm Image Pro Plus
4.5 chế độ polygon ............................................................................
42
2.3 Xác định pH tại chỗ vết thương mạn tính bằng giấy quỳ .................
44
2.4 Vị trí phẫu thuật lấy mô mỡ trên người
45
3.12
3.13
3.14
3.15
3.16
3.17
3.18
3.19
3.20
3.21
3.22
3.23
3.24
3.25
3.26
3.27
3.28
3.29
Vi thể vết thương mạn tính khi mới vào viện .......………………....
DANH MỤC CÁC HÌNH
66
Tên hình
Trang
Vi thể vết thương mạn tính khi mới vào viện ...................................
66
Vi thể vết thương mạn tính khi mới vào viện ...................................
66
Vi thể vết thương mạn tính sau 7 ngày ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân
88
Vi thể vết thương mạn tính sau 15 ngày ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân
89
Vi thể vết thương mạn tính sau 20 ngày ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân
89
Siêu cấu trúc mảnh sinh thiết mô vết thương mạn tính trước khi
ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân ....................................................
90
Siêu cấu trúc mảnh sinh thiết mô vết thương mạn tính trước khi
ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân ....................................................
91
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
3.30 Siêu cấu trúc mảnh sinh thiết mô vết thương mạn tính sau khi
ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân 7 ngày ........................................
91
3.31 Siêu cấu trúc mảnh sinh thiết mô vết thương mạn tính sau khi
ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân 7 ngày ........................................
92
3.32 Siêu cấu trúc mảnh sinh thiết mô vết thương mạn tính sau khi
ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân 15 ngày .......................................
92
3.33 Siêu cấu trúc mảnh sinh thiết mô vết thương mạn tính sau khi
ghép tế bào gốc từ mô mỡ tự thân 15 ngày .......................................
93
3.34 Siêu cấu trúc mảnh sinh thiết mô vết thương mạn tính sau khi
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xã hội hiện đại, khi chất lượng cuộc sống người dân tăng lên thì
tỷ lệ bệnh nhân có vết thương mạn tính cũng tăng theo cùng với sự gia tăng
của những mặt bệnh như béo phì, đái tháo đường, bệnh lý tim mạch. Vết
thương mạn tính là thách thức đối với các chuyên gia chăm sóc vết thương và
đòi hỏi một nguồn lực y tế lớn trong chăm sóc và điều trị. Trong năm 20052006, chỉ tính riêng chi phí điều trị cho ba nhóm bệnh nhân bị loét tĩnh mạch
chi dưới, loét bàn chân do bệnh đái tháo đường và loét do tỳ đè là 2,3-3,1 tỷ
bảng Anh [1]. Trong năm 2014, trong số 430 bệnh nhân vào khoa Liền vết
thương, Viện bỏng Quốc gia điều trị thì có tới 87,67% bệnh nhân có vết
thương mạn tính do các nguyên nhân khác nhau [2]. Ở những bệnh nhân có
vết thương mạn tính, bệnh lý nền thường là nguyên nhân làm cho quá trình
liền vết thương không thực hiện được và cũng chính bệnh lý nền làm cho vết
thương mạn tính cũng có đặc điểm hết sức phong phú và tạo ra nhiều loại vết
thương mạn tính khác nhau [3].
Hiện nay, tại các trung tâm liền vết thương ở các nước phát triển như
Mỹ, Pháp, Canada việc nghiên cứu các biện pháp chăm sóc và điều trị vết
thương mạn tính tập trung vào tối ưu hóa vi môi trường tại chỗ vết thương
như duy trì cân bằng ẩm, phục hồi tưới máu, kiểm soát nhiễm khuẩn, trị liệu
tế bào. Trị liệu tế bào nhằm khắc phục những khiếm khuyết mô tại chỗ vết
thương đang được ứng dụng rất rộng rãi, trong đó có trị liệu tế bào gốc từ mô mỡ.
Tế bào gốc phân lập được từ mô mỡ là tế bào gốc trung mô có hình
dáng nguyên bào sợi, có khả năng tạo colony và biệt hóa thành nhiều loại mô
khác nhau [4], [5], [6], [7]. Hiện nay tế bào gốc từ mô mỡ được ứng dụng
nhiều trong y học tái tạo và sửa chữa trong đó có điều trị các vết thương mạn tính.
Đối với vết thương mạn tính, tại chỗ vết thương tiết quá nhiều cytokin
tiền viêm và các enzyme phân hủy protein, kèm theo các tế bào thì lão hóa,
nhiễm trùng dai dẳng và thiếu hụt các tế bào gốc [3]. Trên thực nghiệm, tế bào
1.1. Quá trình liền vết thương
Quá trình liền vết thương (LVT) diễn ra theo tiến trình 3 giai đoạn là
giai đoạn viêm (Inflammation), giai đoạn tăng sinh (Proliferation) và giai
đoạn liền sẹo (Remodelling) [10].
1.1.1 Giai đoạn viêm (Inflammation)
Giai đoạn viêm thường kéo dài tới 4 ngày sau chấn thương và có các
dấu hiệu lâm sàng điển hình là sưng, nóng, đỏ, đau [11]. Khởi đầu giai đoạn
viêm là quá trình đông máu, quá trình này không chỉ dừng lại ở việc làm
ngừng chảy máu mà nó còn cung cấp một số marker sinh học tham gia vào
quá trình LVT. Ngay sau khi xuất hiện vết thương, bằng việc giải phóng ra các
amin hoạt mạch làm các mạch máu xung quanh vị trí tổn thương lập tức co lại
để làm giảm chảy máu. Dưới ảnh hưởng của Adenosine Diphosphate (ADP)
được tiết ra từ các mô bị tổn thương, các tiểu cầu được huy động, kích hoạt
và tập trung về vùng có vết thương. Các tiểu cầu kích hoạt sẽ tiết ra
Glycoprotein có tác dụng kết dính các tiểu cầu lại với nhau. Bên cạnh đó tiểu
cầu cũng tiết ra các yếu tố kích thích quá trình đông máu, thông qua việc sản
xuất thrombin, mà ban đầu từ việc hình thành fibrin từ fibrinogen. Các fibrin
hình thành mạng lưới giúp tăng việc ngăn và giữ tiểu cầu tại chỗ vết thương,
làm cho cục máu đông ổn định [11]. Tiểu cầu cũng tiết ra các yếu tố tăng
trưởng như yếu tố tăng trưởng nguồn gốc tiểu cầu (Platelet derived growth
factor-PDGF), yếu tố tăng trưởng chuyển dạng an pha và bê ta (Transforming
growth factor – α và- β (TGF-α và TGF - β)), yếu tố tăng trưởng biểu bì
(Epidermal growth factors -EGFs), yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi
(Fibroblast growth factor-2 (FGF-2)) [12]. Các yếu tố tăng trưởng này là một
trong những yếu tố đầu tiên trong việc khởi xướng các giai đoạn tiếp theo của
quá trình LVT.
14
1.1.2. Giai đoạn tăng sinh (Proliferation)
Giai đoạn này bắt đầu từ ngày thứ 3 sau chấn thương và kéo dài tới 2
tuần sau đó. Biểu mô hóa, tăng sinh mạch, hình thành mô hạt là những đặc
trưng của giai đoạn này [10]. Biểu mô hóa thường diễn ra sớm, biểu hiện là
các tế bào sừng phát triển, di cư, bên cạnh việc tái hình thành lại các mô ở
phía dưới. Quá trình biểu mô hóa được định nghĩa như sự thay thế các lớp của
da và tổ chức mô dưới da sau khi đã mất do chấn thương. Quá trình biểu mô
hóa bắt đầu từ việc các tế bào biểu mô từ các phần phụ của da như nang lông,
tuyến mồ hôi và vùng mép của vết thương di cư vào trung tâm vết thương. Từ
24 giờ đến 48 giờ sau chấn thương, các tế bào biểu mô ở vùng mép vết thương
bắt đầu tăng sinh để đảm bảo việc cung cấp đủ tế bào cho quá trình LVT.
* Tăng sinh và di cư của nguyên bào sợi: Nguyên bào sợi xuất hiện tại
chỗ vết thương khoảng ngày thứ 2 đến ngày thứ 4. Sau khi tổn thương,
nguyên bào sợi được kích thích, di cư từ các mô vùng lân cận vết thương vào
những vùng khiếm khuyết của vết thương, chúng tăng sinh và sản xuất ra các
protein cho chất đệm gian bào như fibronectin, hyaluronan, sau đó là collagen
và proteoglycan [13]. Các yếu tố kích thích nguyên bào sợi di cư bao gồm
PDGF, TGF-β, yếu tố tăng trưởng biểu bì (Epidermal Growth Factor - EGF)
và fibronectin. Trong đó PDGF và TGF-β đóng vai trò quan trọng trong vai
trò làm tăng sinh chất nền tạo điều kiện cho nguyên bào sợi di cư [12].
* Tổng hợp collagen: Collagen được tổng hợp bởi các nguyên bào sợi.
Collagen cũng là một thành phần quan trọng của tất cả các giai đoạn trong
quá trình LVT. Ngay sau khi xuất hiện vết thương, collagen được tiết ra, đi
vào trong vết thương liên kết với các thành phần của máu, kích hoạt tiểu cầu
hoạt động, cũng như kích hoạt các yếu tố miễn dịch để đáp ứng với tổn
thương. Sau đó collagen tham gia vào thành phần của chất đệm gian bào tại
chỗ vết thương. Các nguyên bào sợi tổng hợp và tiết ra collagen týp I và III
tham gia tạo thành chất đệm gian bào mới [13].
sinh tế bào biểu mô [13].
17
1.1.3. Giai đoạn liền sẹo (Remodelling)
Bình thường, giai đoạn này diễn ra từ ngày thứ 8 sau tổn thương và có
thể kéo dài đến 1 năm. Trong giai đoạn này các collagen sẽ được sắp xếp lại
một cách có tổ chức. Quá trình tăng sinh và sắp xếp các collagen phụ thuộc
vào chế độ ăn và bệnh kết hợp. Nếu quá trình tổng hợp collagen diễn ra quá
mức thì sẽ dẫn tới tình trạng sẹo lồi hoặc sẹo phì đại [15].
So với collagen ở vùng da không tổn thương, collagen được tổng hợp
trong quá trình LVT mỏng hơn và được định hướng song song với bề mặt da.
Theo thời gian, những collagen ban đầu được tái hấp thu, lắng đọng dày và
xếp dọc thành từng bó. Những thay đổi này đi liền với tình trạng tăng co kéo
tại chỗ vết thương. Collagen được tìm thấy trong mô hạt có cấu trúc sinh- hóa
học khác so với collagen ở vùng da không tổn thương. Collagen ở mô hạt có
lượng hydroxyl và glycosyl dư lysine lớn hơn so với vùng da không bị tổn
thương. Sự tăng glycosyl liên quan với kích thước mỏng hơn của bó sợi.
Collagen trong sẹo (ngay cả khi sau 1 năm vết thương liền) sẽ không bao giờ
sắp xếp được như ở vùng da không bị tổn thương. Việc co kéo vết thương
cũng không bao giờ giúp vết thương có thể liền hoàn toàn. Tại thời điểm 1
tuần sau tổn thương, vết thương chỉ co kéo được khoảng 3%. Tại thời điểm 3
tuần sau khi có vết thương, vết thương co kéo được 30% và 3 tháng co kéo
được khoảng 80% [12].
1.2. Một số đặc điểm vết thương mạn tính
1.2.1. Đặc điểm chung
Hiện nay có nhiều khái niệm về VTMT, theo Gerald S.Lazarus và cộng
sự (cs) năm 1994, VTMT là vết thương không thể tự liền, vết thương có quá
trình LVT không diễn ra theo trình tự sinh lý và thời gian bình thường của quá
* Mô hoại tử (Necrotic tissue): Hoại tử tế bào thường liên quan tới điều
kiện bệnh lý nào đó như thiếu máu, chấn thương, nhiễm độc, bệnh lý thần
kinh, nhiễm khuẩn. Tế bào thường có biểu hiện tổn thương ADN. Đây là
nguyên nhân làm tăng hoạt động của enzyme Poly-(ADP-ribose) polymeraseI (PARP-I), dẫn tới hoại tử tế bào [22]. Có hai loại mô hoại tử là hoại tử khô
19
và hoại tử ướt. Vết thương có hoại tử khô, bề mặt vết thương bị che bởi một
lớp mô đã hoại tử có màu đen hoặc nâu. Ở vùng hoại tử khô, ban đầu mô
mềm mất nước một cách nhanh chóng, bề mặt trở nên khô và cứng, chuyển
màu nâu hoặc đen. Hoại tử khô làm chậm quá trình LVT. Hoại tử ướt: Là tổ
chức mềm, màu vàng, bám trên bề mặt vết thương. Hoại tử ướt có thể phủ
toàn bộ vết thương, hoặc có thể ở dạng sợi, dải bám trên nền vết thương [23].
* Mô hạt (Granulation tissue) và mô hạt phì đại (Hypergranulation):
Mô hạt có màu đỏ, ướt, mềm mại, bề mặt có hạt nhỏ, không đồng đều. Trong
cấu trúc mô hạt, chất nền ngoại bào chứa nhiều mạch máu nhỏ mới hình
thành, các tế bào viêm, nguyên bào sợi và collagen týp III. Các tế bào miễn
dịch ở mô hạt là đại thực bào, bạch đa nhân trung tính. Các tế bào này có vai
trò bảo vệ mô hạt chống lại các tác nhân gây nên tình trạng nhiễm khuẩn. Mô
hạt phì đại là tình trạng mô hạt phát triển quá mức, vượt ra khỏi phạm vi vết
thương, gây trở ngại cho quá trình LVT. Do đó mô hạt phì đại cần phải được
cắt bỏ để tạo điều kiện cho quá trình biểu mô hóa có thể thực hiện được.
* Mô biểu mô (Epithelial tissue): Quá trình tái tạo kết thúc bằng việc
phủ kín mô hạt bằng lớp tế bào biểu mô [24]. Tế bào biểu mô là lớp mô mỏng
có màu hồng/ trắng, có khả năng di cư từ mép vết thương, từ nang lông hoặc
tuyến bã che phủ bề mặt mô hạt. Đây là dấu hiệu của quá trình LVT.
* Mô nhiễm khuẩn (Infected tissue): Mô nhiễm khuẩn làm trì hoãn quá
trình LVT do có thể làm kích thước vết thương lớn hơn, phá hủy mô lành.
Dấu hiệu của nhiễm khuẩn là nền vết thương và tổ chức da lành xung quanh
thường nhờ tác dụng duy trì độ ẩm tại chỗ vết thương, kích thích quá trình
LVT thông qua cung cấp dinh dưỡng, kích thích chuyển hoá của tế bào giúp
21
cho quá trình tăng sinh và di cư của các tế bào diễn ra thuận lợi. VTMT đặc
trưng bởi môi trường vết thương có nồng độ cao các enzyme phân hủy
protein, điển hình là 4 nhóm enzyme: serine proteinases, metalloproteinases,
cysteine proteinases và aspartic proteinase. Các enzyme này thường ức chế quá
trình quá trình LVT [28].
Khi nghiên cứu vết loét tĩnh mạch chi dưới, Beidler SK và cs (2008) đã
nhận định so với mô bình thường MMPs 1, MMPs 2, MMPs 3, MMPs 8,
MMPs 9,MMPs 12 và MMPs 13 tăng cao ở mô ổ loét. Các enzyme phân hủy
protein tăng cao gây ăn mòn vết thương, kích thích phản ứng viêm xung
quanh vết thương cũng như phản ứng dị ứng vùng da lành xung quanh
vết thương [29].
1.2.5. pH bề mặt vết thương mạn tính
Xác định pH thực chất là xác định nồng độ ion H +. Hệ đệm protein
trong máu và mô là hệ đệm có hoạt động phong phú nhất giúp ổn định pH.
Protein có thể lấy ion H+ ra khỏi dung dịch và liên kết chúng với nhau, qua đó
làm giảm nồng độ ion H+ trong dung dịch và giảm thiểu thay đổi pH. Hệ đệm
Hemoglobin là hệ đệm nội bào, khi Hemoglobin giải phóng Oxy sẽ làm giảm
Hemoglobin có điện tích âm, mà những Hemoglobin này có khả năng giữ ion
H+ [30]. Da bình thường có pH là axít. pH này có vai trò hỗ trợ như là một
hàng rào bảo vệ tự nhiên giúp cơ thể tránh khỏi sự xâm nhập của vi khuẩn.
VTMT và vết thương nhiễm khuẩn (có mật độ vi khuẩn cao) có pH lớn hơn
7,3. Các VTCT, VTMT đang liền có pH là axít. Giá trị pH tại chỗ vết thương
rất biến động, nó có thể thay đổi rất nhanh phụ thuộc vào tác động của biện
pháp điều trị [31].
khuẩn sâu (bảng 1.1).
23
Bảng 1.1. Tình trạng nhiễm khuẩn tại chỗ vết thương theo
N
E
R
D
S
khái niệm "NERDS" và "STONES"
Nhiễm khuẩn bề mặt
Nhiễm khuẩn sâu
Nonhealing wounds
S Size is bigger
Vết thương không liền
Vết thương kích thước to ra
Exudative wouds
T Temperature is increased
Dịch tiết vết thương
Nhiệt độ tăng lên
Red and bleeding wound
O Os probe to or exposed bone
surface granulation tissue
Xương rò hoặc lộ xương
Mô hạt đỏ, dễ chảy máu
24
chủ yếu là P.aeruginosa (20%), S.aureus (10%) và các vi khuẩn khác như
E.coli (5%), P.mirabilis (5%) và P.fluorencens (5%) [40].
1.2.7. Một số đặc điểm cấu trúc tại chỗ vết thương mạn tính
1.2.7.1. Nguyên bào sợi tại chỗ vết thương mạn tính
Nguyên bào sợi là tế bào phổ biến nhất trong mô liên kết. Tế bào có
dạng hình sao, với nhiều nhánh bào tương, nhân lớn. Nguyên bào sợi có chức
năng trong việc tạo ra các glycoprotein, glucosaminoglycan và những chất
cần thiết cho việc hình thành chất căn bản và các sợi liên kết [41]. Nguyên
bào sợi trong lớp biểu bì da có hai chức năng là tế bào tham gia sản xuất, tổng
hợp ra chất nền ngoại bào và chế tiết ra các yếu tố tăng trưởng tham gia vào
quá trình sửa chữa mô. Tại chỗ VTMT, nguyên bào sợi bị lão hóa, giảm khả
năng phân chia hoặc không tồn tại. Theo Ivan B. Wall và cs (2008), so với
nguyên bào sợi bình thường thì nguyên bào sợi ở VTMT có tuổi thọ ngắn
hơn, bị lão hóa và có khoảng cách lặp lại của các nucleotide ở mỗi đầu nhiễm
sắc thể (gọi là telomeres) dài hơn. Bình thường nguyên bào sợi có khả năng
hướng hóa bạch cầu trung tính khi bị kích thích sau 6 giờ và kéo dài 18 giờ.
Nguyên bào sợi tại chỗ VTMT sau 6 giờ không có kích thích hoặc kích thích
yếu ớt, có khi tới tận 24h sau mới có biểu hiện hướng hóa bạch cầu trung tính
[42]. Về cơ chế lão hóa của nguyên bào sợi tại chỗ VTMT, theo Manuel V.
Mendez (1998), khi nghiên cứu bệnh nhân có vết loét tĩnh mạch chi dưới
nhận định nguyên bào sợi tại chỗ vết loét tĩnh mạch có tốc độ tăng trưởng
chậm hơn so với vùng da bình thường chân bên đối diện. Tình trạng lão hóa
nguyên bào sợi tại chỗ vết thương liên quan tới tăng β-galactosidase (β-Gal)
và tình trạng viêm tại chỗ VTMT [21], [43].
1.2.7.2. Tế bào sừng tại chỗ vết thương mạn tính
Có rất ít nghiên cứu về sự lão hóa của tế bào sừng. Như đã trình bày ở
phần 1.2.3, có nhiều yếu tố bất thường của nguyên bào sợi tác động tới tế bào
thương [45], [46].
* Bạch cầu Lympho: Bạch cầu Lympho thường được biết đến nhờ vai
trò tham gia vào hệ thống miễn dịch của cơ thể. Bạch cầu Lympho có 3 kiểu
hình là tế bào giết tự nhiên (Natural killer cells), bạch cầu Lympho T và
Lympho B. Trong ba kiểu hình này thì bạch cầu Lympho T hay còn gọi là tế