BỘ
GIÁO
DỤC
VÀ
ĐÀO
TẠO
BỘ
Y
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP
CẢI THIỆN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG
BỆNH TAY – CHÂN - MIỆNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI
TẠI XÃ AN LÃO, BÌNH LỤC, HÀ NAM
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số chuyên ngành: 9720701
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2018
CÔNG TRÌNH NÀY ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Lê Thị Tài
Thị
Hương
(2016).
Kiến
thức,
thái
độ,
thực
hành
về
bệnh
tay
chân
miệng
của
người
dân
tại
xã
An
Lão,
Bình
Lục,
Hà
Nam
năm
2013.
Tạp
thái
độ,
thực
hành
về
bệnh
tay
chân
miệng
của
bà
mẹ
có
con
dưới
5
tuổi
sau
hai
năm
can
thiệp
bằng
truyền
thông
tại
xã
An
gian. Năm 2011, bệnh TCM bùng phát trên toàn quốc với số người mắc và tử vong cao nhất từ trước đến nay
và đã xuất hiện ở cả 63 tỉnh thành phố, với 112.370 ca bệnh, trong đó có 169 ca tử vong, số ca tử vong tăng
gấp 6 lần so với năm 2010.
Hiện nay, bệnh TCM chưa có vắc xin dự phòng và thuốc điều trị đặc hiệu, việc điều trị chủ yếu là điều
trị triệu chứng và biến chứng, do vậy, kiến thức, thực hành của các bà mẹ có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc phòng bệnh TCM. Với câu hỏi kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện
Bình Lục, tỉnh Hà Nam như thế nào? những giải pháp can thiệp nào có thể cải thiện kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM
của những bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại đây? Để trả lời các câu hỏi này chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá kết quả
can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão,
Bình Lục, Hà Nam” với 2 mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão và
Đồn Xá, huyện Bình Lục, Hà Nam năm 2013.
2. Đánh giá kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà
mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão, huyện Bình Lục, Hà Nam năm 2015.
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Để phòng bệnh TCM, Bộ Y tế khuyến cáo người dân chủ động phòng bệnh, tuy nhiên trong thực tiễn,
dịch bệnh TCM vẫn bùng phát ở một số địa phương, đặc biệt là những vùng có điều kiện vệ sinh môi trường
chưa tốt. Cộng đồng nông thôn Hà Nam nói chung, xã An Lão nói riêng phát triển chăn nuôi rất mạnh, nhưng
chưa giải quyết tốt vấn đề vệ sinh môi trường tạo điều kiện cho dịch bùng phát, trong đó có nguy cơ dịch bệnh
TCM.
Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng là hoạt động nghiên cứu mang tính khoa học, có giá trị cao,
kết quả đạt được thật sự là bằng chứng có sức thuyết phục đối với các nhà khoa học và các nhà quản lý. Hoạt
động can thiệp dựa trên nguồn lực sẵn có từ hệ thống y tế cơ sở, cá nhân và sự tham gia của cộng đồng là
chính, nên đảm bảo sự duy trì và tính bền vững.
Đề tài chứng minh được hiệu quả can thiệp TT-GDSK trên toàn cộng đồng. Về can thiệp đã có cái mới là đa
kênh, đa hình thức về truyền thông và có sự giám sát của hệ thống y tế, đánh giá được kiến thức, thực hành của bà mẹ
có con dưới 5 tuổi trong việc phòng bệnh TCM. Đây là cơ sở và là bằng chứng khoa học giúp cho các nhà quản lý vận
dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả hoạt động của chương trình dự phòng, phòng bệnh TCM
cho cộng đồng.
truyền thông gián tiếp.
Bệnh TCM hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy, để phòng bệnh
TCM cho cộng đồng, một trong những hoạt động thiết yếu cần ưu tiên phối hợp liên ngành thực hiện là TTGDSK, các CBYT, tuyên truyền viên, lãnh đạo cộng đồng là những người phải có kiến thức tốt về bệnh TCM
và thực hành đúng các hành vi phòng bệnh TCM đồng thời cần phải thực hiện các hoạt động TT-GDSK đến
tất cả các đối tượng trong cộng đồng, ưu tiên bà mẹ có con dưới 5 tuổi và người trực tiếp chăm sóc trẻ. Nội
dung TT-GDSK phòng bệnh chống TCM cho người dân, cần cụ thể, rõ ràng dễ đọc, dễ hiểu và có khả năng
thực hiện. Các nội dung này bao gồm kiến thức bệnh TCM như biểu hiện của bênh, đường lây truyền... và thực
hành phòng bệnh TCM như: rửa tay bằng xà phòng, thực hiện ăn chín, uống chín, thu gom rác thải, phân của
trẻ đổ nhà tiêu hợp vệ sinh ...., giúp cho người dân thay đổi được các thói quen, lối sống, thực hành các hành vi
có lợi, hạn chế hành vi có hại ảnh hưởng đến sức khoẻ và tránh sự lây lan của bệnh trong cộng đồng.
Đẩy mạnh công tác TT–GDSK phòng bệnh TCM là một chiến lược quan trọng giúp mọi người dân, cụ
thể là các bà mẹ chủ động phòng chống dịch bệnh nói chung và bệnh TCM nói riêng, từ đó có cách nhìn nhận
vấn đề sức khoẻ đúng đắn và hành động thích hợp. Để đảm bảo thành công trong các chương trình TT-GDSK
trong phòng bệnh TCM, không chỉ ngành y tế mà các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể cần phải tham gia
vào hoạt động TT-GDSK.
1.3. Một số nghiên cứu can thiệp phòng chống bệnh tay-chân-miệng trên thế giới và Việt Nam
Các chương trình phòng chống bệnh TCM tại cộng đồng đã được triển khai tại nhiều quốc gia. Các
chương trình này có nhiều điểm tương đồng, bao gồm những nội dung chính: Giáo dục vệ sinh tốt và vệ sinh
cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông sâu rộng; xây dựng và củng cố hệ thống giám sát dịch; hỗ trợ cho
trường học và các cơ sở chăm sóc trẻ; phổ biến những yếu tố nguy cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp
thực hành phòng bệnh. Các nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận và nhiều biện pháp khác nhau để phòng bệnh
TCM, triển khai các chương trình phòng bệnh TCM tại cộng đồng ở nhiều quốc gia như Trung Quốc,
Singapore..., nội dung chính gồm: Giáo dục vệ sinh tốt và vệ sinh cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông
sâu, rộng; Xây dựng và củng cố hệ thống giám sát dịch; hỗ trợ cho trường học và các cơ sở chăm sóc ban
ngày; Phổ biến những yếu tố nguy cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp thực hành phòng bệnh, các nghiên
cứu đều đạt kết quả tốt trong quá trình thực hiện.
Một số can thiệp YTCC hiệu quả đã được áp dụng phòng chống bệnh TCM tại Trung Quốc, Singapore,
Hồng Kông và được WHO khuyến cáo như: thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo dịch sớm, thường xuyên;
triển khai các chiến dịch truyền thông; triển khai các chiến dịch vệ sinh, rửa tay bằng xà phòng, chủ động xây
dựng kế hoạch, chính sách phòng bệnh TCM.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ: 6/2013 - 12/2015.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 2 xã thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam: xã An Lão (xã can thiệp) và xã
Đồn Xá (xã đối chứng).
2.2. Đối tượng nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu định lượng: Bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão và xã Đồn Xá của huyện
Bình Lục, Hà Nam.
• Đối tượng nghiên cứu định tính: CBYT, đại diện cán bộ chính quyền và một số ban/ngành của huyện,
xã, đại diện bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
4
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo hai giai đoạn.
- Giai đoạn 1: Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có
con dưới 5 tuổi tại xã An Lão và Đồn Xá.
- Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có nhóm chứng, để đánh giá thay đổi kiến thức, thực hành
phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có có dưới 5 tuổi.
2.3.2. Mẫu nghiên cứu
2.3.2.1. Cỡ mẫu
Ø Cỡ mẫu cho mục tiêu 1
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:
Đề tài này là một phần của đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu thực trạng, xây dựng mô hình dự báo, kiểm soát
một số nhóm bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam” mã số ĐTĐL.2012- G/32. Từ những người
được phỏng vấn của mỗi xã chúng tôi chỉ lấy bà mẹ có con dưới 5 tuổi để phân tích mô tả thực trạng kiến thức,
thực hành phòng bệnh TCM. Kết quả có 105 bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An Lão và 91 bà mẹ có con dưới 5
Giám đốc TTYTDP của huyện. Tuyến xã: Chúng tôi chọn phó chủ tịch xã phụ trách y tế, văn hoá của
xã; Trạm trưởng trạm y tế xã.
. Thảo luận nhóm: Tuyến huyện: Chúng tôi chọn các CBYT ở khoa kiểm soát dịch bệnh và phòng
truyền thông thuộc TTYTDP của huyện. Tuyến xã: Chúng tôi chọn tất cả các CBYT xã và y tế thôn.
. Bà mẹ có con dưới 5 tuổi: Chúng tôi chọn những người đại diện biết nhiều thông tin về cộng đồng
(chúng tôi tham khảo ý kiến của CBYT để chọn được các bà mẹ này).
• Chọn mẫu cho mục tiêu 2:
- Chọn xã can thiệp: xã An Lão được được chọn để thực hiện can thiệp, xã Đồn Xá là xã đối chứng.
- Chọn đối tượng can thiệp: Đề tài thực hiện can thiệp trên toàn cộng đồng và ưu tiên đối tượng là các bà
mẹ có con dưới 5 tuổi để đánh giá sự thay đổi về kiến thức thực hành phòng bệnh TCM. Chọn chủ đích
các đối tượng để thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm như ở giai đoạn 1.
2.4. Nội dung, các biến số và chỉ số nghiên cứu
2.4.1. Nội dung, biến số và chỉ số cho mục tiêu 1
5
* Thông tin chung của ĐTNC gồm: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế hộ gia đình, nguồn nước sử
dụng, nhà tiêu, phương tiện thông tin hiện có.
* Thực trạng kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi gồm: Kiến thức về biểu hiện
của bệnh, đường lây truyền, các biện pháp phòng bệnh và các yếu tố liên quan. Thực hành phòng bệnh TCM
của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
2.4.2. Nội dung, biến số và chỉ số cho mục tiêu 2
Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành về phòng bệnh TCM, so sánh sự thay đổi kiến thức, thực hành
của ĐTNC ở mỗi xã trước và sau can thiệp, tính hiệu quả can thiệp.
Tính bền vững của hoạt động can thiệp TT-GDSK: tính phù hợp, khả năng huy động sự tham gia của
cộng đồng và nhân rộng các hoạt động can thiệp.
2.5. Hoạt động can thiệp phòng bệnh tay-chân-miệng tại xã An Lão
Cơ sở xác định hoạt động can thiệp: Từ kết quả điều tra thực trạng, nhận thấy kiến thức, thực hành
phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Cần phải xây dựng các hoạt động can thiệp để có tác động
đến nâng cao kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM. Cộng đồng sẵn sàng tham gia các hoạt động phòng bệnh
phần đánh giá thực hành là 11 điểm.
- Thực hành phòng bệnh TCM đạt: ĐTNC trả lời được 6 điểm/11 điểm, trong đó thực hiện được ít nhất 3
trong 6 biện pháp khuyến cáo của Bộ Y tế.
- Thực hành phòng bệnh TCM không đạt: ĐTNC trả lời dưới 6 điểm/11 điểm, trong đó không thực hiện được ít nhất 3
trong 6 biện pháp khuyến cáo của Bộ Y tế
• Đánh giá kết quả can thiệp:
- Tính tỷ lệ % cải thiện sau can thiệp:
!! !!!
! !!
𝑥 100; CSHQchứng (%) = ! ! 𝑥 100
!!
Trong đó: CSHQ: là chỉ số hiệu quả của nhóm can thiệp và nhóm chứng, pT: là tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu trước
can thiệp, pS: là tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu sau can thiệp. Hiệu quả can thiệp: HQCT (%) = CSHQ can thiệp –
CSHQ chứng
- Sử dụng phương pháp DID (Difference-in-Difference) để so sánh kết quả giữa nhóm can thiệp và nhóm
chứng sau thời gian can thiệp, ước tính những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành phòng bệnh
TCM. DID thường được thực hiện như là sự tương tác giữa thời gian và can thiệp thông qua các biến giả
trong mô hình hồi qui.
CSHQcan thiệp (%) =
!!
6
-
Các biến giả:
THPT trở lên
Nghề nghiệp
Cán bộ/ CNV
Làm ruộng/khác (buôn bán,
nội trợ, ..)
Trước can thiệp
Sau can thiệp
An Lão (1) Đồn Xá (2)
An Lão
n=105
n=91
(3) n=250
n
%
n
%
n
%
Đồn Xá (4)
n=250
n
%
p(1,2)
p(3,4)
10
77,1
22,9
76
15
83,5
16,5
160
90
64,0
36,0
155
95
62,0
38,0
>0,05
>0,05
12
11,4
4
Nhận xét: Các đặc điểm chung của ĐTNC như: nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp ở xã An Lão và xã
Đồn Xá không có sự khác biệt trước và sau can thiệp, giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng.
3.2. Thực trạng kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi năm
2013.
3.2.1. Kiến thức phòng chống bệnh tay-chân-miệng
Bảng 3.3: Kiến thức về bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Xã An Lão Xã Đồn Xá
(n=105)
(n=91)
Kiến thức
p
n
%
n
%
Khả năng lây bệnh và phòng bệnh
1 Bệnh TCM là bệnh lây
94 89,5 71 78,5
>0,05
2 Bệnh có thể phòng ngừa được
88 83,8 70 76,9
>0,05
3 Trẻ em là đối tượng dễ mắc bệnh
86 81,9 66 72,5
>0,05
Đường lây truyền
4 Ăn uống/tiêu hóa
15 14,3 18 19,8
>0,05
11 Không biết về các biểu hiện của bệnh
19 18,1 14 15,4
>0,05
Nhận xét: Kiến thức về bệnh TCM như: khả năng lây bệnh và phòng bệnh, đường lây truyền và biểu hiện
bệnh các bà mẹ biết chưa được đầy đủ ở hai xã. Không có sự khác biệt về tỷ lệ kiến thức bệnh TCM của bà mẹ
có con dưới 5 tuổi ở 2 xã An Lão và Đồn Xá.
Bảng 3.4: Kiến thức về các biện pháp phòng bệnh TCM.
Xã An Lão Xã Đồn Xá
(n=105)
(n=91)
Kiến thức về các biện pháp phòng bệnh TCM
p
n
%
n
%
1.
Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy
40 38,1 38
41,8
>0,05
2.
Cho trẻ ăn chín, uống sôi
17 16,2 21
23,1
>0,05
Rửa sạch vật dụng chế biến thức ăn và cho ăn trước khi sử
3.
9
8,6
>0,05
Không cho trẻ có biểu hiện bệnh đến lớp và tiếp xúc với trẻ
8.
6
5,7
3
3.3
>0,05
bệnh.
9.
Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ
32 30,5 20
22,0
>0,05
Nhận xét: Các bà mẹ biết kiến thức về bệnh không được đầy đủ ở hai xã. Không có sự khác biệt về tỷ lệ kiến
thức các biện pháp phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An Lão và Đồn Xá.
Bảng 3.5: Mức độ kiến thức về bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Xã An Lão
Xã Đồn Xá
(n=105)
(n=91)
p
n
%
n
%
Không đạt
Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng
Xã An Lão
(n=105)
n
%
34 32,4
Xã Đồn Xá
(n=91)
n
%
32
35,2
p
>0,05
8
2
3
4
5
6
7
8
Cho trẻ ăn chín, uống chín
11,0
3,3
1,1
12,1
28,6
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
5
4,8
1
1,1
>0,05
Nhận xét: Không có sự khác biệt về tỷ lệ thực hành các biện pháp phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5
tuổi ở xã An Lão và Đồn Xá.
Bảng 3.7: Mức độ thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Mức độ thực
Nhận xét: Hầu hết các bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở 2 xã đều có thực hành phòng bệnh TCM không đạt. Không
có sự khác biệt về tỷ lệ thực hành phòng bệnh TCM đạt và không đạt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An
Lão và Đồn Xá.
3.2.3. Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng
Biểu đồ 3.4: Mối liên quan giữa điểm kiến thức và điểm thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ của bà mẹ có
con dưới 5 tuổi.
Phương trình tuyến tính:
Thực hành phòng bệnh TCM = 0,343 x Kiến thức về bệnh TCM - 0,551
Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM cho trẻ của các bà mẹ có con dưới 5
tuổi (p
n=250
n
%
n
%
n
%
n
%
Khả năng lây truyền và phòng bệnh
Bệnh TCM là bệnh lây
94
89,5
243
97,2 71 78,5 218 87,2 >0,05
0,05
0,05
Mệt mỏi
4
3,8
204
81,6
5 5,5
26 10,4 >0,05
0,05
0,05
Sau
(3)
(4)
n=91
n=250
n
%
n
%
p(1,3)
p(2,4)
Hiệu quả
can thiệp
(%)
40
38,1
247
98,8
38
41,8
323,4
9
8,6
205
82,0
13
14,3
53
21,2
>0,05
4,0
>0,05
0,05
2536,5
6
5,7
181
72,4
3
3,3
19
7,6
>0,05
p(1,3)
p(2,4)
thức
(%)
CT (1)
CT (2)
CT (3)
CT (4)
n
%
n
%
n
%
n
%
Đạt
6
5,7
244 97,6
2
2,2
11
4,4
1900
>0,05
Làm sạch đồ chơi, những
nơi trẻ hay bám tay,
Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ,
Thu gom, xử lý phân, chất
thải của trẻ và đổ vào nhà
tiêu hợp vệ sinh,
Nhóm can thiệp
(xã An Lão)
Trước
Sau
CT (1)
CT (2)
n=105
n=250
n
%
n
%
Nhóm chứng
(xã Đồn Xá)
Trước (3)
n=91
Sau (4)
n=250
n
0,05
50
20,0
>0,05
0,05
97,2
26
28,6
115
46,0
>0,05
CT (2)
n
%
n
%
n
%
n
%
Đạt
5
4,8
239 95,6
3
3,3
6
2,4
1918,9
>0,05
2,68
0,531
13,71
(β3) Tương tác
5,769
0,000 320,32
42,295
425,95
(Thời gian * can thiệp)
* p (của mô hình)
động Ứng phó nhanh với dịch bệnh liên quan đến biến đổi khí hậu trong đó có bệnh TCM để khẳng định các
hoạt động can thiệp tại xã An Lão có hiệu quả, được cộng đồng đánh giá cao.
Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão và
xã Đồn Xá, huyện Bình Lục, Hà Nam năm 2013 và một số yếu tố liên quan
Kiến thức về bệnh và phòng TCM của các ĐTNC chưa được tốt (bảng 3.3, bảng 3.4, bảng 3.5), các bà mẹ
chưa có kiến thức đầy đủ về bệnh TCM cũng như về nguồn lây bệnh, đường lây truyền, dấu hiệu nhận biết
bệnh và các biện pháp phòng bệnh. Trong bảng 3.6, bảng 3.7 cho thấy, việc thực hành các biện pháp phòng
12
bệnh của ĐTNC chưa được toàn diện, việc lau rửa vệ sinh sàn nhà, đồ chơi, đồ dùng, của trẻ hàng ngày chưa
được các bà mẹ quan tâm thực hiện. Vì vậy, trong các hoạt động can thiệp, cần tập trung công tác tuyên
truyền, tập huấn bổ sung kiến thức cho các bà mẹ để các bà mẹ biết đầy đủ kiến thức về bệnh TCM, để các bà
mẹ chủ động trong việc phòng bệnh cho con mình, sớm phát hiện bệnh kịp thời, tránh để bệnh TCM chuyển
nặng, gây tử vong ở trẻ.
Các bà mẹ cũng mong muốn tìm hiểm về bệnh TCM qua ti vi, qua CBYT, và qua tờ rơi, do vậy cần phải nâng
cao kiến thức phòng bệnh TCM cho các CBYT và kỹ năng TT-GDSK, đồng thời thiết kế tờ rơi rõ ràng, dễ hiểu, thu
hút.
Trên cơ sở chấm điểm để đánh giá kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi,
kết quả biểu đồ 3.4 cho thấy có mối liên quan tuyến tính giữa điểm kiến thức về bệnh TCM với điểm thực
hành phòng bệnh TCM cho trẻ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Những bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức
phòng bệnh TCM tốt có xu hướng thực hành phòng bệnh TCM tốt hơn so với những bà mẹ có kiến thức chưa
tốt. Vì vậy, cần quan tâm tuyên truyền kiến thức về bệnh, phòng bệnh TCM đến các bà mẹ có con nhỏ nói
kênh thông tin, giúp người dân nhớ được những kiến thức về bệnh và thường xuyên có các việc làm cụ thể, góp
phần phòng chống bệnh tật nói chung và bệnh TCM nói riêng.
4.2.2. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có
con dưới 5 tuổi
• Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5
tuổi.
Sau thời gian can thiệp, sự thay đổi kiến thức về bệnh TCM của ĐTNC đã cho kết quả rõ rệt, kết quả này
phần nào đã thể hiện các hoạt động TT-GDSK được thực hiện là phù hợp. Các hoạt động can thiệp đã được
ĐTNC tích cực hưởng hứng thể hiện thông qua hiểu biết kiến thức của bệnh (bảng 3.13, bảng 3.14, bảng
3.15). ĐTNC không chỉ quan tâm đến các biểu hiện của bệnh rõ ràng mà còn quan tâm đến các biểu hiện sớm,
để có biện pháp xử trí kịp thời, tránh bệnh trầm trọng. Kết quả này cũng cho thấy hiệu quả của chương trình
can thiệp phòng bệnh TCM tại xã An Lão, các bà mẹ có kiến thức phòng bệnh TCM tốt sẽ thực hành phòng
bệnh TCM tốt hơn.
Như vậy hoạt động can thiệp phòng bệnh TCM của đề tài tại xã An Lão đã đạt được kết quả nhất định,
kiến thức về bệnh TCM đã tăng lên đáng kể so với trước can thiệp và so với nhóm chứng. Tỷ lệ ĐTNC có kiến
thức chung về bệnh TCM đạt của xã can thiệp là 97,6% cao hơn nhiều so với trước can thiệp là 5,7%, hiệu quả
13
can thiệp đạt 1900%, tuy nhiên vẫn còn 2,4% bà mẹ có kiến thức về bệnh TCM chưa đạt, do vậy các hoạt
động can thiệp tại xã tiếp tục phải được đẩy mạnh và duy trì thường xuyên, việc phòng bệnh tại địa phương
được tốt hơn. Để phòng bệnh TCM, ngoài việc biết kiến thức về bệnh thì các bà mẹ cần phải biết các dấu hiệu
bệnh TCM chuyển nặng là rất quan trọng, vì trẻ có những dấu hiệu này sẽ được đưa đến bệnh viện sớm để theo
dõi và điều trị kịp thời, giúp giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong ở trẻ.
• Hiệu quả can thiệp thay đổi thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5
tuổi.
Sau can thiệp, tỷ lệ ĐTNC thực hành các biện pháp phòng bệnh tăng lên ở cả hai xã nhưng xã can thiệp
tăng nhiều hơn so với xã đối chứng và so với trước can thiệp (bảng 3.16, bảng 3.17). Tỷ lệ ĐTNC có thực
hành chung về bệnh TCM đạt của xã can thiệp là 95,6% cao hơn nhiều so với trước can thiệp là 4,8%, hiệu
quả can thiệp đạt 1918,9%. Sự vào cuộc của các cấp chính quyền, của các lãnh đạo cộng đồng và của người
KẾT LUẬN
1. Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An Lão và xã
Đồn Xá, Bình Lục, Hà Nam năm 2013.
Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM năm 2013 của bà mẹ có con dưới 5 tuổi rất hạn chế, cần
tập trung công tác tuyên truyền, tập huấn bổ sung kiến thức cho các bà mẹ để các bà mẹ biết đầy đủ đường lây
truyền, biểu hiện của bệnh và các biện pháp phòng bệnh TCM. Không có sự khác biệt giữa nhóm can thiệp và
nhóm chứng.
Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức về bệnh và phòng chống bệnh TCM đạt chỉ 5,7%, không đạt
chiến 94,3%. Tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có thực hành phòng bệnh TCM đạt chỉ chiếm 4,8%, không đạt
chiếm 95,2%.
2. Kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới
5 tuổi tại xã An Lão, Bình Lục, Hà Nam năm 2015
Hoạt động can thiệp được thực hiện tại xã An Lão, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã thu hút được sự
tham gia của chính quyền, ban ngành, đoàn thể trong việc phòng chống bệnh TCM. Kiến thức, thực hành
phòng chống bệnh TCM sau can thiệp của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tăng lên đáng kể. Có sự khác biệt kiến
14
thức, thực hành phòng chống bệnh TCM giữa trước và sau can thiệp, giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng. Tỷ
lệ ĐTNC có kiến thức mức đạt về bệnh và phòng bệnh TCM sau can thiệp đạt chiếm 97,6%. Hiệu quả can
thiệp thay đổi kiến thức phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi mức đạt là 1900%, kiến thức đạt tăng
thêm 91,9%.
Tỷ lệ ĐTNC thực hành phòng chống bệnh TCM mức đạt của các bà mẹ chiếm 95,6%. Hiệu quả can thiệp