SKKN Kết hợp một số phương pháp dạy học với phương pháp sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) trong dạy học Lịch sử 6 - Pdf 49

Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

MỤC LỤC
PHẦN A MỞ ĐẦU .............................................................2
PHẨN B NỘI DUNG THỰC TRẠNG………………….5
I/ THỰC TRẠNG…...................................……………….5
II/ GIẢI PHÁP…………....………………………………. 7
III. QUY TRÌNH TIẾN HÀNH KHI ÁP DỤNG VÀO
BÀI GIẢNG:………………….......................……….10
IV.1 Tạo lập BĐTD phối hợp với các phương pháp khác…….…10
IV.2 Trình bày sản phẩm BĐTD. …………………………………20
IV.3 Hoàn thiện bản đồ tư duy cùng tập thể:…………………… 21
IV.4 Vai trò của giáo viên :…………………………………………22

V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:……………………………23
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI………………….……...24

------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 1 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

BÁO CÁO
KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ NGHỊ TẶNG THƯỞNG DANH HIỆU “CHIẾN SỸ THI CẤP
ĐUA TỈNH ” NĂM 2017
Phần A : MỞ ĐẦU
1. Họ và tên tác giả: Đặng Quang Minh
2. Chức vụ: giáo viên


Thời xưa, vị trí của những người chép Sử được coi trọng vô cùng và sử
sách là thứ được giữ gìn cẩn trọng. Nước ta là một nước văn hiến, mà theo nghĩa
văn hiến thì có nghĩa là “có nhiều vở, thư tịch”.
Đối với cá nhân tôi, tôi luôn khẳng định bộ môn Lịch sử trong trường
THCS có ý nghĩa rất quan trọng góp phần vào nhiệm vụ thực hiện mục tiêu giáo
dục, góp phần đào tạo nên những công dân toàn diện cho công cuộc xây dựng,
bảo vệ và phát triển đất nước.
Trong quá trình công tác tại trường THCS Phú Sơn và hiện nay là THCS
Quang Trung và qua những thông tin trên các phương tiện thông tin nghe nhìn về
tình trạng chất lượng giáo dục bộ môn tôi nhận thấy có nhiều nguyên nhân khiến
cho chất lượng dạy và học bộ môn Lịch sử sa sút nghiêm trọng, và đặc biệt qua
thực tế đứng lớp tôi thấy như sau:
+ Bản thân tôi đang sử dụng các phương pháp dạy học như: Phát vấn, nêu
và giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm, kể chuyện, đồ dùng trực quan, khai thác
kênh hình, quy nạp và diễn giải, thuyết trình, đàm thoại, đóng vai, kiểm tra đánh
giá, trò chơi…nhưng chưa tìm ra phương pháp tăng tính tác động đến sự chủ
động, tích cực hơn nữa khi học bộ môn cho học sinh.
+ Học sinh chưa tìm ra cách học cho riêng mình, thụ động trong tiếp thu
kiến thức. Có những học sinh khi cô giáo giảng bài chỉ cắm cúi ghi vào trong vở
của mình, về nhà mở sách, vở ra học mặc dù ghi được rất nhiều nhưng đọc mãi
mà vẫn không hiểu kiến thức hoặc có hiểu được thì kiến thức không thành hệ
thống. Việc học như vậy khiến các em mất nhiều thời gian mà chưa đem lại hiệu
quả cao. Và bây giờ học sinh quay lưng lại với học Sử, chỉ vì với lý do là học Sử
khô khan, không hấp dẫn, nặng nề, khó nhớ, …
Vậy trong cách giảng dạy có điểm nào bất cập, chưa hợp lý? Đó là câu hỏi
mà bản thân tôi luôn trăn trở và cố gắng tìm ra hướng khắc phục.
Trong quá trình công tác, tôi nhận được sự động viên cũng như tạo cơ hội
cho việc nâng cao năng lực nghiệp vụ chuyên môn từ phía lãnh đạo nhà trường
dành cho đội ngũ giáo viên trong trường bằng nhiều hình thức phong phú, thiết

giải quyết vấn đề,… sau đó cho các em trình bày sản phẩm của mình bằng một số
phương pháp phù hợp như: thuyết trình vấn đề (hay nội dung đã được học), kể
chuyện từ bản đồ tư duy của các em. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng
rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh.. Điều đó chứng minh rằng việc phối hợp
một số phương pháp dạy học với phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy
học lịch sử 6 giúp học sinh yêu thích hơn, hứng thú hơn và học tập có kết quả tốt
hơn đối với môn Lịch sử.

------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 4 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

6. Thời gian nghiên cứu:
Khi thực hiện đề tài này tôi đã bắt đầu nghiên cứu từ năm học 2014 -2015 và
2015 – 2016, khi tôi được phân công giảng dạy ở khối lớp 6. Trong năm học
2016 – 2017 tội tiếp tục trao đổi lại với các đồng nghiệp được phân công giảng
dạy ở khối lớp 6 để tiếp tu6c thực hiện và đều thu được kết quả khả quan

PHẦN B : NỘI DUNG
I/. THỰC TRẠNG, TỒN TẠI, HẠN CHẾ.
Môn Lịch sử góp phần giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thẩm mỹ và một số kĩ năng sống cơ bản nhằm hình thành nhân cách con
người Việt Nam, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tuy nhiên lại đang có những thực
trạng như sau:
+ Lịch sử là môn học với nhiều lượng thông tin, các vấn đề Lịch sử cần
xâu chuỗi một cách logic nhằm giúp học sinh nhận biết được quy luật Lịch sử,
tiến trình lịch sử, vì vậy học sinh cần được “học cách học” điều đó sẽ giúp các

tốc kí của các nhà báo) nhưng đối với mỗi học sinh, đặc biệt là các em HS khối
đầu cấp - khối 6, việc ghi chép của các em gặp rất nhiều khó khăn vì trong suy
nghĩ của các em cần phải ghi tỉ mỉ những lời nói, lời giảng của cô giáo, như thế
việc lĩnh hội những kiến thức mới được đầy đủ.
Trong năm học 2014 -2015 tôi đã tiến hành khảo sát sự hứng thú học tập và chất
lượng học tập của học sinh kết quả thu được như sau:

Lớp

Sĩ số Số học sinh tham
Khảo sát chất lượng
gia học tập tích
Khá – giỏi
Trung bình
Yếu
cực

6A1

45

30 = 66,6 %

6 = 13,3 %

33 = 73,3 %

6 = 13,4 %

6A2

4= 8,5 %

37 = 78,7 %

6 = 12,7 %

6A8

47

29 = 61,7 %

9 = 19,1 %

29 = 61,7 %

9 = 19,1 %

Với những số liệu khảo sát trên đây cho thấy rằng số học sinh có hứng thú với
------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 6 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

việc học tập bộ môn lịch sử là không cao, kết quả học tập của học sinh ở mức
trung bình luôn chiếm khoảng 2/3 số học sinh trong các lớp.
Trong thực tế có những học sinh khi thầy cô giáo giảng bài chỉ cắm cúi
ghi vào trong vở của mình, về nhà mở vở ra học mặc dù ghi được rất nhiều
nhưng đọc mãi mà vẫn không hiểu kiến thức hoặc có hiểu được thì kiến thức

-------------------------------------------------------------------------------------------------------

Trước những yêu cầu thực tế đó chúng tôi đã vận dụng việc phối hợp một số
phương pháp dạy học và phương pháp sử dụng bản đồ tư duy để các tiết học sinh
động, lôi cuốn và hấp dẫn đối với học sinh nhằm đạt hiệu quả cao trong giờ học.
Những hình vẽ, kí hiệu, màu sắc đóng vai trò quan trọng trong tưởng
tượng vì chúng là những vật liệu “neo thông tin ”, nếu không có chúng thì không
thể tạo ra sự liên kết giữa các ý tưởng. Như vậy, trong sơ đồ tư duy, học sinh tự
do phát triển các ý tưởng, xây dựng mô hình và thiết kế mô hình để giải quyết
những vấn đề thực tiễn .
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng
và đào sâu các ý tưởng . Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng,
có thể miêu tả đó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh,
đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não,
giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.
Dựa vào cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy chúng ta có thể vận dụng
vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ
thống hoá kiến thức sau mỗi chương …
Chương trình Lịch sử 6 trong trường THCS có nhiều nội dung phù hợp,
phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức cho học sinh thiết kế Bản đồ tư duy.
Kĩ thuật bản đồ tư duy phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi 11 -> 15 muốn thể
hiện mình, muốn được bạn bè tôn trọng, thừa nhận khả năng, đồng thời khắc
phục sự nhàm chán của phương pháp dạy học thụ động, một chiều. Học sinh ghi
chép nhanh, tự do, linh hoạt sẽ gây hứng thú cho người học, kích thích tư duy
tích cực.
Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc
xung quanh. “Cái cây” ở giữa bản đồ là một ý tưởng chính, các nhánh lớn sẽ
được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm
thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn. Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến
thức, hình ảnh luôn được kết nối với nhau, sự liên kết này tạo ra một “bức tranh

Trình bày sản phẩm bản đồ tư duy.
+ Học sinh hoặc đại diện của các nhóm lên báo cáo, thuyết minh, kể chuyện,
diễn giải…. về Bản đồ tư duy mà nhóm mình hoặc mình đã tạo lập (GV hướng
dẫn kết hợp phương pháp thuyết trình, kể chuyện, thảo luận, ….. cho HS khi
đứng trước tập thể.)
+ Học sinh được rèn sự tự tin, khả năng thuyết trình …
- Hoàn thiện bản đồ tư duy. cùng tập thể.
+ Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện Bản đồ tư duy về kiến
thức của bài học.
+ Giáo viên sẽ là người cố vấn là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh Bản đồ tư
------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 9 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

duy.
+ Củng cố kiến thức bằng một Bản đồ tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc
một bản đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, học sinh lên
trình bày, thuyết minh về kiến thức đó .
-

Vai trò của giáo viên :

+ Hướng dẫn học sinh tạo lập Bản đồ tư duy.
+ Yêu cầu về nhà làm: tìm tư liệu và viết, vẽ theo cách hiểu của mình.
+ Khi ở trên lớp, giáo viên làm trọng tài, phân giải các cuộc tranh luận. Đồng
thời bổ sung những phần kiến thức mà các em chưa phân tích sâu.

III. QUY TRÌNH TIẾN HÀNH KHI ÁP DỤNG VÀO BÀI GIẢNG:

IV.1.3 Ví dụ minh họa:
IV.1.3.a. Tạo lập BĐTD phối hợp phương pháp phát vấn trong triển
khai nội dung bài mới.

Bài 6: VĂN HÓA CỔ ĐẠI.
Mục 1. Các dân tộc phương Đông thời cổ đại đã có những thành tựu
văn hóa gì?
Sau khi học sinh biết thế nào là bản đồ tư duy và cách tạo lập bản đồ tư duy “
thô”, giáo viên yêu cầu trong mục 1 bài 6 cả lớp học theo hình thức ghi vở bằng
bản đồ tư duy, các em chuẩn bị tâm thế, vật dụng - tạo lập bản đồ tư duy của cá
nhân trong vở.
Hướng dẫn học sinh tìm ý trung tâm bằng cách chắt lọc ý từ đề mục 1. Có thể
có những từ khóa như thế nào? => “ thành tựu văn hóa phương Đông cổ đại”,
hoặc “ Văn hóa phương Đông cổ đại”…
Tiếp tục tìm ý lớn cấp 1 bằng cách tìm trong các đoạn tư liệu nội dung sgk
mục 1 (trang 16) .
Ở đây có 4 đoạn, mỗi đoạn nói về một lĩnh vực văn hóa => có 4 ý lớn cấp
1, đó là 4 lĩnh vực nào? => Thiên văn; Chữ viết; Toán học; Kiến trúc.

-Trong lĩnh vực thiên văn, họ đã biết được điều gì? => Sự chuyển động của Mặt
Trời, Mặt Trăng và các hành tinh…….=> ý cấp 2.
------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 11 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

-Tại sao họ cần quan tâm tới điều đó? => ý cấp 3. Vì họ cần biết để thuận
lợi cho việc cày cấy đúng thời vụ và năng suất mùa vụ cao hơn.
-Từ những hiểu biết đó, người phương Đông đã sáng tạo ra điều gì? => ý

khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học. Sử dụng sơ đồ tư
duy giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và
hệ thống. Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn.
Mục tiêu cần đạt: chỉ cần nhìn vào sơ đồ tư duy, bất kỳ thành viên nào
của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học.
Sơ đồ tư duy cung cấp cho học sinh có cái nhìn chi tiết và cụ thể. Khi mọi
người tập trung vào chủ đề ở giữa thì bộ não của mỗi thành viên đều hướng
tới trọng tâm sẽ tạo nên sự đồng thuận tập thể, cùng hướng tới một mục tiêu
chung và định hướng được kết quả.
Các nhánh chính của sơ đồ tư duy đưa ra cấu trúc tổng thể giúp các thành
viên định hướng tư duy một cách logic. Bên cạnh đó, các nhánh phụ kích
------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 13 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

thích tính sáng tạo đồng thời hiểu được tư duy cũng như sự tích cực của mỗi
thành viên.
Như vậy sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nhóm đã phát huy được tính
sáng tạo, tối đa hoá khả năng của mỗi cá nhân đồng thời kết hợp sức mạnh cá
nhân thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách
hiệu quả. Sơ đồ tư duy tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giao lưu học hỏi
và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn.

Bài 6: VĂN HÓA CỔ ĐẠI.
Mục 2. Người Hi Lạp và Rô Ma đã có những đóng góp gì về văn
hóa?
-


- Giáo viên chuẩn bị một bản đồ tư duy trên bảng phụ hoặc vẽ khung bản đồ
tư duy trực tiếp trên bảng, chỉ có 4 ý lớn cấp 1, còn lại là các nhánh trống.
Chuẩn bị 13 ô nội dung kiến thức tương ứng nhưng cắt rời => Trò chơi lắp
ghép nhanh.

------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 15 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Thể lệ: Chia thành 13 ô dữ liệu phát xuống cho cả lớp.
Trong vòng 2 phút, học sinh phải xác định miếng ghép của mình sẽ nằm ở
đâu trên bản đồ tư duy rồi chạy lên dán vào đúng vị trí.
Yêu cầu: Các em phải nhìn ra được ý nghĩa nội hàm của các ý lớn cấp 1,
từ đó mới tìm ra vị trí miếng ghép của mình là ở đâu, như vậy sẽ hình thành
mạng lưới kiến thức theo kiểu “ ý gọi ý ” để chạy lên ghép đúng vị trí của ô kiến
thức.
Lưu ý: GV có thể linh hoạt biến tấu thành những trò chơi với những hình
thức và tên gọi khác nhau nhằm đem lại hứng thú cho học sinh hơn nữa, ví dụ:
- Trò chơi “ Thêm cánh cho hoa”: Thiết kế bản đồ tư duy trên bảng hoặc
bảng phụ theo hình dáng một bông hoa, có nhụy hoa là từ khóa trung tâm
hoặc hình ảnh chủ đề, sau đó phát triển ý thành mạng lưới kiến thức là những
cánh hoa, có thể xếp chồng lên thành hoa nhiều lớp cánh như kiểu ý cấp 1,
cấp 2.
- Trò chơi “ Tiếp sức”: Để hoàn thành một bản đồ tư duy trên bảng, có thể
theo hình thức chạy tiếp sức, học sinh thứ nhất chạy lên tạo nhánh nội dung
cấp 1 xong, chạy về vị trí, học sinh thứ hai tiếp tục, cứ như thế cho tới khi
hoàn thiện bản đồ tư duy hoàn chỉnh.
- Trò chơi “ Tôi đố bạn ”, Trò chơi “ Tớ là phóng viên”, Trò chơi “ Nếu –

từ nước ngoài hay không? Đó có thể gọi là quá trình tự đồng hóa hay không?

IV.1.3.e. Tạo lập bản đồ tư duy phối hợp phương pháp sử dụng phần
mềm ImindMap 5.3 và phần mềm PowerPoint

Bài 27: Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938.
Mục 1. Ngô Quyền chuẩn bị đánh quân xâm lược Nam Hán như thế nào?
Sau khi khai thác và giảng dạy nội dung tóm tắt về nhân vật Ngô Quyền,
thiết kế bằng phần mềm ImindMap 5.3 hai bản đồ tư duy (có thể như sau):

------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 17 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

Trong các nhánh sẽ tạo thứ tự cho các hiệu ứng và liên kết với các slide
mà GV muốn làm rõ cho nhánh đó. Sau đó trình chiếu kết hợp giảng dạy, giải
thích, phát vấn, thảo luận nhóm,…để tìm ra ý tiếp theo cho đến hết.
Yêu cầu: Học sinh phải thực sự theo dõi được quá trình tạo lập nên một bản
đồ tư duy với hệ thống câu hỏi và những phương pháp mà giáo viên sử dụng
kết hợp. (Cụ thể, chi tiết thể hiện trong giáo án, phần Phụ lục của đề tài).
Phần củng cố kiến thức:
1. Bài tập trắc nghiệm: Mỗi nhánh kiến thức là một câu trắc nghiệm, học
sinh sẽ tìm câu trả lời để điền vào nhánh kiến thức đó cho tới khi hoàn thành
bản đồ tư duy trên phần mềm PowerPoint.
2. Cho những dữ liệu kiến thức, sau đó các em hoàn thành bản đồ tư duy
cho từ khóa là “ CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG NĂM 938”, có thể chuẩn bị
BĐTD như sau:


tư thế bị động, phụ thuộc vào từ ngữ và trình bày một cách máy móc, mất đi sự
thoải mái trong lúc thuyết trình.
- Còn với bản đồ tư duy, học sinh đặt các chủ đề của bài thuyết trình ở
trung tâm của trang giấy và phát triển dựa trên các hình ảnh và từ khoá mà HS
định trình bày. Cách làm này rất khoa học giúp học sinh tự tin rất nhiều, ngoài ra,
học sinh sẽ phải tự tìm ra cách để diễn đạt các ý từ ý trung tâm tới ý các nhánh
bằng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ biểu cảm.
- Bản đồ tư duy được hình thành, các nhánh, các ý trung tâm sẽ được sắp
xếp theo trật tự, làm nổi bật vấn đề và liên kết giữa các nhánh.

IV.3 Hoàn thiện bản đồ tư duy cùng tập thể:
Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện Bản đồ tư duy về
kiến thức của bài học. Giáo viên sẽ là người cố vấn là trọng tài giúp học sinh
hoàn chỉnh Bản đồ tư duy, từ đó dẫn đến kiến thức của bài học bằng cách đặt câu
hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh phát biểu, sắp xếp ý tưởng để hoàn thành sơ đồ,
học sinh ghi nhớ nhanh , không phải đọc – chép .
Sau khi các em vẽ xong rất nhanh “Tác phẩm kiến thức – hội hoạ” và trình
bày lại cho cả lớp nghe một cách hào hứng nên một lần nữa các em thuộc bài rất
nhanh, thêm được một lần ghi nhớ rất sâu kiến thức và rèn tính tự tin , khả năng
thuyết trình, phát triển khả năng thẩm mỹ, sắp xếp ý tưởng một cách khoa học, hệ
thống, ghi nhớ sâu kiến thức … là những điểm còn yếu của học sinh hiện nay
Củng cố kiến thức bằng một Bản đồ tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc
một bản đồ tư duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, học sinh lên
trình bày, thuyết minh về kiến thức đó .
Lưu ý : Bản đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các
nhóm học sinh có chung một kiểu Bản đồ tư duy, giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho
học sinh về mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức .
Trước đây tiết ôn tập chương, học kỳ tôi cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ
sẵn và cả lớp có chung một cách trình bày như giáo viên chứ không phải do học
------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 20 - Trường THCS Quang Trung

học tập bộ môn lịch sử đã khả quan hơn. Đa số các HS yếu đã có được sự nhận
biết, thông hiểu và vận dụng kiến thức môn lịch sử trong quá trình học tập.
Đa số các em học sinh đã chủ động khi tham gia việc học tập với bản đồ
tư duy, tất cả các em đều cảm thấy thích thú hơn khi tự mình lĩnh hội kiến thức,
được thể hiện mình qua việc tạo lập bản đồ tư duy.

------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 21 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

Sau khi áp dụng các giải pháp đã nêu tôi thấy kết quả HS học tập môn
lịch sử đã khả quan hơn. Đa số các HS yếu đã biết nắm bắt kiến thức trọng tâm,
trả lời được một số câu hỏi liên quan đến nội dung bài.
Tất cả các học sinh đã chủ động khi tham gia tạo lập bản đồ tư duy và
trình bày sản phẩm của mình trước tập thể, tất cả các em đều cảm thấy thích thú
hơn khi cùng làm bản đồ tư duy theo nhóm hoặc theo cá nhân.

Hình 1. Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước và sau khi áp dụng
giải pháp
Bảng khảo sát chất lượng trước và sau khi áp dụng giải pháp hữu ích
NĂM HỌC 2015-2016
Lớp Sĩ số Số học sinh tham
Khảo sát chất lượng
gia học tập tích
Khá – giỏi
Trung bình
Yếu
cực

tiếp thu kiến thức cho học sinh, học sinh tích cực, hứng thú học tập hơn, đồng
thời tạo được hứng thú trong quá trình giảng dạy cho cả thầy và trò. Nhờ đó mà
học sinh khi học Lịch sử có sự tập trung cao độ đối với môn học. Lớp học sôi nổi
và tất cả các em đều được tham gia hoạt động về cả thể chất lẫn tinh thần. Các
em hăng hái vào hoạt động học tập, tinh thần thoải mái.

V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Trong quá trình áp dụng những thực nghiệm như trên, tôi nhận thấy điều
cơ bản nhất trong mỗi tiết dạy là giáo viên phải tích cực, nhiệt tình để hướng dẫn
cho các em như vừa học vừa chơi để làm quen vơi bản đồ tư duy. Giáo viên phải
truyền đạt chính xác, ngắn gọn nhưng đầy đủ các bước tiếp cận với bản đồ tư
duy, không được nóng vội để nội dung truyền đạt tới được đích định hướng.
Những tiết lý thuyết, thực hành cũng như tiết bài tập giáo viên phải chuẩn
bị chu đáo bài dạy, hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài theo ý định của giáo viên, có
như vậy giáo viên mới cảm thấy thoải mái trong giảng dạy, từ đó khắc sâu được
kiến thức và phương pháp dạy và học với bản đồ tư duy
Thường xuyên nhắc nhở các em có học lưc yếu, động viên, biểu dương
các em khá giỏi, cập nhật vào sổ theo dõi và kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để
có biện pháp giúp đỡ kịp thời, kiểm tra thường xuyên việc học tập với bản đồ tư
duy vào đầu giờ trong mỗi tiết học, làm như vậy để cho các em có khả năng tư
duy tích cực theo đúng mục tiêu của các chuỗi thực nghiệm của GV, giúp các em
có một thái độ đúng đắn, một nề nếp tốt trong học tập.
Đối với một số học sinh chậm tiến bộ thì phải thông qua sự giúp đỡ của
các bạn trong tổ, trong nhóm, trong lớp giúp đỡ.
Qua thời gian áp dụng việc phối hợp một số phương pháp dạy học với
phương pháp sử dụng bản đồ tư duy , học sinh đã phát huy tính chủ động, tích
cực khi nắm được phương pháp học mới.

------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 23 - Trường THCS Quang Trung


được trải nghiệm, có ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lượng dạy và học môn
Lịch sử 6.
Với giải pháp này, học sinh đã tích cực, chủ động hơn trong việc tiếp thu
kiến thức – đáp ứng được mong mỏi của giáo viên đứng lớp.
------------------------------------------------------------------------------------------------------Giáo viên : Đặng Quang Minh - 24 - Trường THCS Quang Trung


Giải pháp hữu ích : Phối hợp một số phương pháp……………………
-------------------------------------------------------------------------------------------------------

IV .1.2 Những mặt hạn chế:
- Việc hướng dẫn học sinh tiếp xúc với một phương pháp mới mẻ, trong
khi đó các em có mặt bằng nhận thức còn thấp, lứa tuổi còn nhỏ ( lớp 6 đầu cấp)
vì vậy còn phải hướng dẫn mất nhiều thời gian cho việc làm quen với bản đồ tư
duy trước khi sử dụng phối hợp với các phương pháp khác.
- Chưa thu hút được một số học sinh yếu kém vì các em cho rằng học như
cũ tốt hơn vì phương pháp này mất nhiều thời gian, khó trình bày.
Với những kết luận trên, đó sẽ là cơ sở, là bài học kinh nghiệm quí báu
cho tôi trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tới.
Ngoài ra, theo tôi giải pháp này hoàn toàn có thể được áp dụng cho bộ
môn Lịch sử nói chung chứ không riêng gì khối lớp 6 đồng thời đối với một số
bộ môn khác, vì đây là một đề tài mang tính mở - bàn luận về phương pháp dạy
học nói chung, tùy theo từng trường, từng lớp, từng phân môn mà chúng ta điều
chỉnh sao cho phù hợp.
Chính vì giải pháp có tính chất khái quát, là một phương pháp chung, có
thể phát huy được vai trò tích cực của người học sẽ làm cho các em thêm hứng
thú, thêm yêu thích môn học và tin tưởng vào giá trị khoa học.

IV .2. Kiến nghị:
Đề nghị các cấp quản lý giáo dục cần tăng cường mở các lớp tập huấn về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status