Đề tài:
PHƯƠNG PHÁP VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO VIỆC ÔN TẬP
MỘT CÁCH HIỆU QUẢ MÔN SINH HỌC 12
MỤC LỤC
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.................................................................Trang 1
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN........................................................................Trang 3
III. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI.
......................................................................................................... Trang 4
IV. NỘI DUNG ĐỀ TÀI..................................................................Trang 5
V. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI...........................................................Trang 19
VI. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG ............Trang 20
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................Trang 21
1
Đề tài:
PHƯƠNG PHÁP VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO VIỆC ÔN TẬP
MỘT CÁCH HIỆU QUẢ MÔN SINH HỌC 12
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Cùng với sự phát triển của thời đại, thước đo quan trọng cho năng lực sáng
tạo của mỗi người trong nền kinh tế tri thức chính là tốc độ tư duy, khả năng
chuyển hóa thông tin thành kiến thức và từ kiến thức tạo ra giá trị, tạo ra sản
phẩm. Thế hệ trẻ Việt Nam, những "công dân thời WTO" đang có cơ hội sử dụng
công cụ kì diệu là máy tính và Internet để hội nhập và phát triển cùng một thế giới
đang vận động và thay đổi đến từng giây.
Tuy nhiên, trong một thế giới bùng nổ thông tin như hiện nay thì học tập chăm
chỉ vẫn chưa phải là giải pháp tối ưu, bởi khi có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề
không chỉ là học cái gì mà còn là học như thế nào và sử dụng công nghệ gì.
Các phương pháp luận học tập đã đem lại thành công cho người học trong quá khứ
đang gặp nhiều thách thức. Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu người học không
cương, đáp án”, mặt khác phương pháp này cũng sẽ dần hình thành cho HS tư duy
mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ
thống, khoa học, tất cả HS ôn tập kiến thức một cách hào hứng, giúp học sinh học
tập một cách chủ động, tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não, …
Theo Tiến sĩ Trần Ðình Châu, Vụ trưởng, Ủy viên thường trực Ban chỉ đạo
phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” : "Nếu so
sánh với phương pháp dạy học truyền thống chỉ chú trọng đọc - chép thì dạy học
bằng BĐTD góp phần đổi mới căn bản và toàn diện tổ chức hoạt động dạy học,
nhất là vận dụng vào dạy học kiến thức mới hoặc hệ thống hóa kiến thức phù
hợp với từng đối tượng khác nhau.
Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài " Phương pháp vận dụng bản đồ tư
duy vào việc ôn tập một cách hiệu quả môn Sinh học 12"
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Đổi mới phương pháp dạy học chỉ mang lại kết quả cao khi HS phát huy
được vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, biết đổi mới phương pháp học tập, biết tự
học, biết tạo hứng thú trong học tập của bản thân.
Trong nhà trường, hoạt động dạy học là trung tâm để thực hiện nhiệm vụ
chính trị được giao, thực hiện sứ mệnh “trồng người”. Hoạt động dạy học chỉ đạt
hiệu quả cao khi tạo lập được môi trường sư phạm lành mạnh, bầu không khí thân
thiện, phát huy ngày càng cao vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, từ đó
góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng GD toàn diện.
Nghiên cứu về hoạt động của bộ não con người, người ta chỉ ra rằng bộ não
hoạt động gồm hai phần: Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp
điệu, hình dạng, tưởng tượng, … sẽ tác động kích thích não trái. Não trái thích hợp
với các từ ngữ, con số, tư duy, phân tích, … cho ra sản phẩm. Do đó người ta tìm
cách kích thích não phải tốt nhất. Trình bày vấn đề theo sơ đồ, biểu đồ bao giờ
cũng gây hứng thú.
Trước nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số.
Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não trái, mà
chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin
sang dạy học theo “phương pháp dạy – học tích cực”.
+ Bên cạnh đó là sự quan tâm giúp đỡ tận tình của Ban Giám Hiệu nhà trường,
quý đồng nghiệp và các em HS trong quá trình thực hiện đề tài.
Về phía nhà trường:
+ BGH luôn tạo điều kiện, hỗ trợ giáo viên trong việc thực hiện các chủ trương,
chỉ đạo của ngành đề ra .
+ BGH cũng luôn kịp thời khen ngợi các giáo viên có kết quả cao về tỉ lệ học
sinh đạt trên 5 điểm và đạt từ 8 điểm trở lên sau các kì thi.
+ Luôn cập nhật các thông tin về giáo dục từ Bộ và Sở giáo dục,triển khai và
giúp đội ngũ GV cụ thể hóa công văn từ Sở giáo dục một cách kịp thời và mang
tính đồng bộ.
+ Cơ sở vật chất của nhà trường có một số trang thiết bị hiện đại hổ trợ cho việc
thực thi các tiết dạy đạt hiệu quả hơn.
Về phía học sinh:
+ Vì đã là năm cuối cùng của cấp học phổ thông nên đa số HS có ý thức học tập
một cách nghiêm túc và tập trung hơn những năm học trước.
+ Nhiều học sinh tỏ ra yêu thích bộ môn Sinh và cũng có nhiều học sinh theo khối
B để thi đại học.
+ Kĩ năng hoạt động nhóm trong việc học tập của HS ngày càng được nâng cao.
Đa số các em rất thích hoạt động nhóm trong học tập, đặc biệt là trong việc ôn tập
trước các kì thi.
+ Các em HS đều rất muốn tìm cho mình một phương phương pháp học tập mới
mà đem lại hiệu quả cao.
2) Khó khăn:
+ Tuy GV rất cố gắng chỉ dẫn cho HS những phương pháp học ôn tập mới hiệu
quả nhưng nhiều em học sinh tư duy còn chậm, chưa tỏ ra nhanh nhạy trong việc
vận dụng phương pháp mới để ôn tập.
+ Vẫn còn một số ít HS chưa xác định được động cơ học tập,chưa có ý thức trong việc học.
+ Việc học ở nhà của học sinh còn bị động và mang tính đối phó.
4
năng của não phải( nhạy cảm với màu sắc, hình ảnh, tưởng tượng, hình dạng, nhịp
điệu…) khả năng ghi nhớ thông tin bị giảm.
2.Việc ôn tập kiến thức bằng bản đồ tư duy.
2.1. Khái niệm bản đồ tư duy
- Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý
tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc
sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực.
- Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây với nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc
xung quanh. “Cái cây” ở giữa bản đồ là một hình ảnh trung tâm, là ý tưởng chính.
Nối với nó là các nhánh lớn, nhỏ thể hiện các vấn đề liên quan với ý tưởng chính.
Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ
5
hơn nữa nhằm thể hiện vấn đề ở mức độ sâu hơn. Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và
các kiến thức, hình ảnh luôn được kết nối với nhau. Sự liên kết này tạo ra một “bức
tranh tổng thể” mô tả ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.
- Có 3 kiểu BĐTD cơ bản nhằm giúp các em HS sắp xếp kiến thức và ôn tập
một cách hiệu quả:
+ BĐTD tổng quát: được tạo ra dựa trên bảng mục lục trong sách, nó mang
lại một cái nhìn tổng quát về toàn bộ môn học và giúp các em HS định lượng được
lượng kiến thức mà các em cần phải chuẩn bị cho kì thi.
+ BĐTD theo từng chương riêng biệt: Một bản đồ tư duy lí tưởng không nên
chỉ lưu lại những ý chính mà còn phải thể hiện đầy đủ tất cả các chi tiết hỗ trợ quan
trọng khác như : các bảng dữ liệu, đồ thị và các loại biểu đồ khác.
+ BĐTD theo bài hoặc theo từng mục:Mỗi BĐTD dùng để tóm tắt một bài
học hoặc một mục của bài học.
2.2. Ý nghĩa của bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình
ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng
Có hai cách vẽ bản đồ tư duy: vẽ bằng tay hoặc bằng máy vi tính. Nếu vẽ
bằng tay thì người học chỉ cần một tờ giấy A4 hoặc lớn hơn, một hộp bút màu loại có
đầu nhọn. Còn vẽ bằng máy vi tính thì người học có thể sử dụng các phần mềm Mind
Mapping như phần mềm Mindjet MindManager Pro7 hoặc vẽ bằng chương trình
Microsoft Word. Đối với HS phổ thông thì vẽ bản đồ tư duy bằng tay sẽ dễ dàng và
thiết thực hơn cho việc học. Cụ thể là:
- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề: Hình ảnh
càng hấp dẫn càng giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và giúp bộ não hoạt động
hưng phấn. Có thể bổ sung từ ngữ vào hình ảnh chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
- Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính với các tiêu đề phụ: Tiêu đề phụ
được viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật. Nhánh chính
đó được nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng ( từ khóa)
để viết trên các nhánh.
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung
thuộc nhánh chính đó và các chi tiết hỗ trợ: Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng
chữ in thường, luôn để các nhánh của BĐTD uốn cong tự nhiên làm cho bản đồ tư
duy cuốn hút và không bị nhàm chán vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ
thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều. Số lượng nhánh chính và phụ ít hay
nhiều phụ thuộc vào nội dung của vấn đề cần thể hiện.
Các nhánh trên bản đồ nên được thể hiện bằng những màu khác nhau. Cạnh từ
khóa có thể vẽ những hình ảnh vui tươi, ngộ nghĩnh để làm cho bản đồ “bắt mắt” hơn.
Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo: Để trí tưởng tượng bay bổng,
chúng ta có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật và
giúp chúng lưu váo trí nhớ của chúng ta tốt hơn.
2.4. Cách đọc bản đồ tư duy
Cấu trúc của bản đồ tư duy không xuất phát từ trái sang phải và từ trên xuống dưới
theo kiểu truyền thống. Thay vào đó, bản đồ tư duy được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt
nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ. Các từ
khóa được viết và đọc theo hướng từ trên xuống dưới trong cùng một nhánh chính.
chỉnh bản đồ tư duy.
2.5.4. Ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học, đưa ra các ý tưởng
HS có thể sử dụng bản đồ tư duy để học bài mới hay ghi chép, tóm tắt, hệ
thống hóa nội dung bài học. So với cách ghi chép theo kiểu truyền thống, tức là ghi
chép thông tin bằng cách sử dụng các kí tự và chữ số theo đường thẳng, thì việc ghi
chép bằng công cụ BĐTD hiệu quả hơn nhiều. Kĩ thuật ghi chép này cho phép HS
nhanh chóng ghi lại các ý tưởng bằng các từ khóa, sắp xếp một cách cơ bản
thông tin khi nó được truyền tải và cho HS cơ hội để hình thành những mối liên hệ
và liên tưởng. HS cũng có thể tham gia vào bài học bằng cách bổ sung những suy
nghĩ, quan điểm và cảm nghĩ của chính mình. Đồng thời, trong kĩ thuật ghi chép
này, HS còn sử dụng cả màu sắc, hình ảnh để lưu trữ thông tin nên rất dễ nhớ
vì đã tận dụng được chức năng của cả não trái lẫn não phải trong việc ghi nhớ.
Như vậy, bản đồ tư duy có vai trò rất quan trọng trong dạy học và đặc biệt
đổi mới cách tổ chức dạy học của giáo viên đồng thời góp phần bồi dưỡng năng
lực tự học cho học sinh trung học phổ thông phù hợp với các mục tiêu đổi mới
phương pháp dạy học: dạy học theo hướng hoạt động học tập chủ động, chống lại
thói quen học tập thụ động.
2.6. Những lưu ý khi thiết kế bản đồ tư duy.
2.6.1. Các quy tắc khi lập BĐTD.
1.Tờ giấy nên để ngang để có thể bắt đầu BĐTD từ giữa trung tâm của tờ giấy
giúp tự do thể hiện sáng tác mà không bị gò bó bởi khuôn hình chật hẹp của tờ
giấy, nên dùng hình ảnh, hình vẽ để làm trung tâm (keyword).
2. Có hệ thống phân cấp cho cái khung (cấu trúc) của BĐTD, những nhân tố
quan trọng nhất được đặt gần hình ảnh trung tâm, nên viết màu, in hoa những ý
tưởng chính (nhánh cấp 1)
3. Dùng các mối liên kết để mở rộng BĐTD đến bước cuối cùng,hãy nhìn vào
các từ khóa ở các nhánh chính cấp 1, những từ khóa này giúp ta bừng sáng các ý
tưởng mới.Vẽ những nhánh nhỏ hơn từ các nhánh cấp 1 để phù hợp với mối liên
quan vừa tạo lập. Vẽ nhánh cấp 2 từ nhánh cấp 1 và có thể vẽ thêm vài nhánh trống
(để viết thêm khi ta có thêm ý tưởng)
hơn việc vận dụng nó vào việc dạy học kiến thức mới. Vì trong những tiết ôn tập,
cá nhân học sinh hoặc nhóm học sinh có thể tự vẽ BĐTD cho mình sau một vài gợi
ý của GV. Còn đối với tiết dạy bài mới thì thời gian chỉ có 45 phút, hầu như là
không đủ để học sinh vừa lĩnh hội kiến thức mới vừa lập được BĐTD để hệ thống
hóa kiến thức của bài, cách hiệu quả trong trường hợp này là sau khi dạy xong GV
yêu cầu học sinh về nhà lập BĐTD cho bài vừa học.
- Thời gian đầu làm quen với việc vận dụng BĐTD vào việc học và ôn tập,
một số em HS còn tỏ ra e ngại hoặc không nghiêm túc tiếp thu phương pháp mới,
nhưng bên cạnh đó có một rất em rất nhanh nhạy sẽ thiết kế và thuyết trình bản đồ
tư duy trước lớp một cách dễ dàng. Nhờ vậy GV cùng với những em này sẽ gây
được sự hứng thú cho những em còn lại cùng thử sức với BĐTD.
- Vì là tiết ôn tập nên tất cả các nội dung, các bài, các chương cần ôn học sinh
đều đã được học và hiểu. Cho nên việc vận dụng BĐTD là hoàn toàn khả thi và sẽ
đem lại hiệu quả cao hơn so với tiết lĩnh hội kiến thức mới.
- GV chỉ cần hướng dẫn cho các em HS thiết kế BĐTD trong lần đầu tiên một
9
cách tỉ mỉ. Sau đó qua các BĐTD của các mục, các bài, các chương tiếp theo HS sẽ
tự thiết kế theo ý của chính bản thân mình, như vậy các em sẽ nhớ rất nhanh và rất
lâu sản phẩm của mình.
- Theo tôi, để giúp thiết kế một BĐTD chuẩn và đầy đủ thì thao tác quan trọng
nhất là cần phải nắm được các từ khóa. Trong các quyển sách giáo khoa, chỉ có 20%
trong tổng số từ chưa đựng những thông tin cần để thu hoạch toàn bộ kiến thức của
môn học, đảm bảo đạt điểm cao trong kì thi. Như vậy, khi ôn tập, các em HS chỉ
việc ôn lại 20% từ khóa trong BĐTD là có thể nắm bắt được đầy đủ thông tin của
môn học, giúp giảm bớt được 80% thời gian học mà vẫn đạt hiệu quả cao nhất.
Sau đây tôi xin đưa ra một quy trình lập BĐTD hướng dẫn các em HS
khối 12 ôn thi tốt nghiệp THPT môn Sinh học 12 theo kinh nghiệm của bản thân
trong 3 năm thực hiện cho thấy HS rất hứng thú tập trung ôn tập, đạt hiệu quả cao:
chuẩn kiến thức kĩ năng và đã cắt bỏ phần giảm tải theo công văn hướng dẫn của
Sở. Ví dụ gạch chân từ khóa trong bài "Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi
ADN" (dựa trên nội dung ghi chép trong vở của học sinh) như sau:
I/ Gen:
1. Khái niệm:
- Gen là một đoạn của phân tử ADN mang thông tin mã hoá một sản phẩm xác
định (chuỗi pôlipeptit hay một phân tử ARN).
11
II/ Mã di truyền
- Khái niệm: - Mã di truyền là trình tự sắp xếp các nuclêôtit trong gen quy định
trình tự sắp xếp các axit amin trong prôtêin. Mã di truyền là mã bộ ba.
- Đặc điểm của mã di truyền:
+ Mã di truyền được đọc từ 1 điểm xác định theo từng bộ ba (không gối lên nhau).
+ Mã di truyền có tính phổ biến (tất cả các loài đều có chung 1 bộ mã di truyền, trừ
một vài ngoại lệ).
+ Mã di truyền có tính đặc hiệu (1 bộ ba chỉ mã hoá 1 loại axit amin).
+ Mã di truyền mang tính thoái hoá (nhiều bộ ba khác nhau cùng mã hoá cho 1 loại
axit amin, trừ AUG và UGG)
- Có tất cả 64 bộ ba trong đó có 3 bộ ba kết thúc không mã hóa axit amin (UAA,
UAG, UGA) và 1 bộ ba mở đầu( AUG)
III. Quá trình nhân đôi ADN(tái bản ADN)
- Nơi xảy ra: trong nhân tế bào.
- Nguyên tắc nhân đôi: nguyên tắc bổ sung ( A - T, G - X) và nguyên tắc bán bảo
tồn (giữ lại một nữa) .
- Diễn biến: gồm 3 bước :
+ Bước 1 : Tháo xoắn phân tử ADN
Nhờ các enzim tháo xoắn, 2 mạch đơn của phân tử ADN tách nhau dần tạo nên
chạc tái bản (hình chữ Y) và để lộ ra 2 mạch khuôn.
15
Chủ đề: Đột biến NST( Sinh học 12 CB)
16
Bản đồ tư duy cho chương 1( Sinh học 12 CB)
Bài 35: Môi trường sống và các nhân tố sinh thái( Sinh học 12 CB)
17
Bài 42: Hệ sinh thái( Sinh học 12 CB)
Bước lập bản đồ tư duy cho toàn bộ chương trình Sinh học 12 đã xong.
Để tiết kiệm thời gian trên lớp, GV chỉ yêu cầu HS thiết kế một số bài điển hình
tại lớp,còn lại các em tự thiết kế ở nhà.
Bước 3: HS sử dụng bản đồ tư duy vào việc ôn tập và lập kế hoạch ôn tập.
Ngay sau khi vẽ xong, lập tức ghi các thời điểm ôn lại vào góc nhỏ trên sơ
đồ, đồng thời ghi các thời điểm đó vào sổ tay để xem và thiết lập thời gian.
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy: Thời gian ôn luyện lý tưởng gồm 4 mốc
như sau: 10 phút, 1 ngày, 1 tuần và 1 tháng sau khi vẽ. Các bước ôn luyện như sau:
Nhìn qua sơ đồ, không đọc nội dung mà ước chừng thời gian để có thể ghi lại hết
18
các nét và từ khóa. Chỉnh đồng hồ báo thức đúng thời lượng rồi bắt đầu học bài
4
5
6
Tôi chắc chắn mình có khả
năng thiết kế BĐTD
Tôi chắc chắn mình có thể
vận dụng được BĐTD vào
việc ôn tập
Cô giáo rất tận tình trong
việc hướng dẫn tôi thiết kế,
đọc và vận dụng BĐTD
Tôi chắc chắn mình rất
hứng thú và thích phương
pháp ôn tập này
Tôi thấy phương pháp ôn
tập này rất hiệu quả
Tôi chắc chắn mình sẽ
vững tâm trong kì thi
19
Không
đồng ý
Bình Đồng ý
thường
Rất
đồng ý
31%
69%
đọc và vận dụng BĐTD
4 Tôi chắc chắn mình rất
hứng thú và thích phương
0%
5%
20%
50%
25%
pháp ôn tập này
5 Tôi thấy phương pháp ôn
0%
3%
18%
52%
27%
tập này rất hiệu quả
6 Tôi chắc chắn mình sẽ
0%
6%
20%
50%
24%
vững tâm trong kì thi
2. Kết quả học tập của học sinh sau khi thực hiện giải pháp của đề tài
- Thi HK II khối 12: Đề của Sở GD_ĐT Đồng Nai Học kỳ 2 năm học 2012 – 2013.
.Tỉ lệ học sinh trên 5 điểm như sau:
Điểm kiểm tra học kỳ 2 điểm
Điểm kiểm tra học kỳ 2 điểm từ
98,7%
Lần 2
146
00
0%
145
100%
VI. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Bản đồ tư duy có vai trò rất quan trọng trong dạy học và đặc biệt đổi mới cách tổ
chức dạy học của giáo viên đồng thời góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
trung học phổ thông phù hợp với các mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học: dạy học
theo hướng hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động..
Các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy bằng BĐTD đều có chung nhận xét
rằng, vật liệu làm BĐTD dễ kiếm, cách làm đơn giản và có thể vận dụng với bất kỳ
điều kiện nào của các nhà trường hiện nay, đặc biệt là đối với các trường vùng sâu,
20
vùng xa. BĐTD có thể được vẽ trên giấy bìa, bảng phụ, sử dụng bút chì, màu,
phấn, tẩy... hoặc cũng có thể thiết kế trên powerpoint hay các phần mềm chuyên
dùng để hỗ trợ thiết kế BĐTD. Với các trường có cơ sở hạ tầng thông tin tốt, có thể
cài vào phần mềm máy tính cho cán bộ, giáo viên, học sinh sử dụng.
Theo đánh giá của nhiều giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, BĐTD sau khi
ứng dụng vào các tiết học đã mang lại hiệu quả thiết thực như: Giúp học sinh thuộc
bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu và lâu những nội dung của bài học. Mặt khác,
dạy học bằng BĐTD giúp học sinh không nhàm chán về bài học mà luôn sôi nổi,
hào hứng từ đầu đến cuối tiết học. Phương pháp này đặc biệt có ích trong việc củng
cố kiến thức và rèn luyện, phát triển tư duy logic, năng lực cho học sinh, nhất là
những học sinh khá, giỏi. Học sinh có thể tự học ở nhà rất hiệu quả, không tốn kém.
Tuy nhiên, trong quá trình dạy học không có một phương pháp nào được coi là