skkn sử DỤNG bản đồ tư DUY TRONG VIỆC ôn tập môn NGỮ văn lớp 12 - Pdf 32

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG HÌNH ẢNH VÀ SƠ ĐỒ ĐỂ DẠY CÓ HIỆU QUẢ VĂN BẢN
NGHỊ LUẬN “VỀ LUÂN LÍ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA” (TRÍCH ĐẠO ĐỨC
VÀ LUÂN LÍ ĐÔNG TÂY CỦA PHAN CHÂU TRINH), TIẾT 104
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, BAN CƠ BẢN

A. Lý do chọn đề tài
Trong chương trình Ngữ văn THPT, môn Đọc văn giữ vị trí đặc biệt quan
trọng. Đọc văn góp phần cung cấp một hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại
về văn học dân tộc và văn học thế giới; rèn luyện nâng cao năng lực đọc cảm nhận
cái hay, cái đẹp của văn chương. Trên cơ sở đó, bồi đắp những tư tưởng tình cảm
nhân văn cao đẹp cho học sinh. Nói cách khác, đọc văn với vị thế là một môn học
vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính khoa học có một sức hút vô cùng mạnh
mẽ. Nó đưa người học bước vào một lĩnh vực hoạt động ở đó có sự hoà quyện giữa
rung động và suy nghĩ, giữa thực và mơ, từ đó mở ra cho học sinh một chân trời
mới của sức sáng tạo và cái đẹp.
Nhiều năm trở lại đây, đất nước không ngừng phát triển về mọi mặt. Đáp ứng
nhu cầu đó, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện quá trình đổi mới giáo dục
một cách toàn diện góp phần đào tạo nguồn nhân lực năng động sáng tạo phục vụ
cho sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước. Một trong những nhiệm vụ trọng yếu
nhất của đổi mới giáo dục là thực hiện chương trình sách giáo khoa phân ban.
Nhiệm vụ này đã được thực hiện một cách đồng bộ. Riêng với giáo dục Trung học
phổ thông, kể từ năm học 2006 - 2007 chương trình thay sách giáo khoa bắt đầu
được thực hiện. Qua bảy năm học, đến nay việc thay sách đã được hoàn thành. Còn
nhiều vấn đề cần được nhìn nhận và đánh giá lại một cách tổng quan về nội dung
chương trình; hệ thống đơn vị kiến thức...Với bộ môn Ngữ văn, qua thực tiễn giảng
dạy, chúng tôi nhận thấy, tương quan so sánh với sách giáo khoa cũ, sách giáo
khoa mới đã cung cấp một khối lượng tri thức khá toàn diện. Điều đặc biệt là trong
phân môn Đọc văn (trước đây là giảng văn) học sinh đã được tiếp cận một cách
toàn diện hệ thống các thể loại văn học. Biểu hiện rõ nhất là trong chương trình

điện tử để dạy văn. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, không nên phủ nhận
hoàn toàn những tiện dụng dùng các phương tiện hiện đại để dạy học môn Ngữ
văn. Thực tế cho thấy, một số giờ dạy bằng máy chiếu thì giờ học sinh động, hấp
dẫn hơn và tạo hứng thú học tập cho học sinh nhiều hơn . Điều đó chứng tỏ, các
phương tiện và thiết bị dạy học có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học.
Phương tiện, thiết bị dạy học góp phần quan trọng đổi mới phương pháp dạy học
hướng vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Phương tiện, thiết
2


bị dạy học không chỉ minh họa, còn là nguồn tri thức, là một cách chứng minh
bằng quy nạp... Phương tiện dạy học tạo cơ hội để hình thành biểu tượng về sự vật,
hiện tượng, khái niệm ... được rõ nét hơn, giúp học sinh nắm vững kiến thức hơn .
Kết quả nghiên cứu thực tế cho thấy, học sinh nhớ được kiến thức 30% nếu chỉ
được nghe, còn nếu nghe lẫn nhìn sẽ nhớ được đến 50% kiến thức. Do vậy, việc sử
dụng phương tiện dạy học vừa làm cho học sinh hiểu bài nhanh, vừa nhớ được kiến
thức nhiều hơn. Việc sử dụng phương tiện dạy học đặc biệt là thiết bị dạy học hiện
đại là một nội dung quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao
hiệu quả và chất lượng dạy học Ngữ văn .
Trong bài viết này, người viết không có tham vọng đi sâu vào tìm hiểu tất cả
các văn bản nghị luận được dạy trong chương trình THPT mà mạnh dạn nêu một
vài suy nghĩ về việc “Sử dụng hình ảnh và sơ đồ để dạy có hiệu quả văn bản nghị
luận “Về luân lí xã hội ở nước ta” (Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây của Phan
Châu Trinh), tiết 104 trong chương trình Ngữ văn 11, ban Cơ bản”.
B. Tổ chức thực hiện đề tài
I. Cơ sở đề tài
1. Cơ sở khoa học
Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để
bàn về một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực như chính trị, xã hội, văn học...Vấn đề
được nêu ra như một câu hỏi cần phải giải đáp, làm sáng tỏ. Luận là bàn luận đúng

Do xu thế của học sinh ngày nay, các em chủ yếu chuyên tâm học các môn
khoa học tự nhiên, rất ít em học các môn xã hội. Đây một phần cũng do cái nhìn
thực tế, khối thi thuộc các môn xã hội số lượng trường thi ít, ra trường cơ hội tìm
việc làm cũng không dễ. Mặt khác, số lượng học sinh say mê và ham học môn Ngữ
văn là rất hiếm, lại càng hiếm hơn nữa những học sinh say mê học những bài đọc
văn khô khan như văn nghị luận.
3. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên
Từ những điều nói trên, có thể nói:
Nhìn chung, các giờ dạy văn bản thuộc thể loại văn nghị luận còn rời rạc, bài
giảng chưa thực sự cuốn hút học sinh, giáo viên cảm thấy khó giảng, học sinh chán
học, ngồi nói chuyện, làm việc riêng, hoặc ngủ gật ... không khí lớp trầm lắng, mệt
mỏi. Chất lượng bài giảng chưa đạt được kết quả cao.
Do vậy, tìm ra phương pháp dạy tốt nhất, phù hợp nhất với thể loại văn bản để
tạo hứng thú cho học sinh quả là một việc làm không dễ. Đó là một thử thách lớn
với không ít giáo viên .
Với tôi, một giáo viên tuổi nghề chưa được nhiều, kinh nghiệm trong nghề còn
hạn chế, nhưng với lương tâm nghề nghiệp, tôi luôn băn khoăn, trăn trở về vấn đề
trên. Song, nhân đây, tôi cũng chỉ đưa ra một vài suy nghĩ của mình về việc “Sử
dụng hình ảnh và sơ đồ để dạy có hiệu quả văn bản nghị luận “Về luân lí xã hội ở
nước ta” (Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây của Phan Châu Trinh), tiết 104 trong
chương trình Ngữ văn 11, ban Cơ bản.
II. Giải pháp và tổ chức thực hiện
1. Phạm vi nghiên cứu
1.1. Thâm nhập sâu sắc vào tác phẩm
4


Đây là bước đầu tiên cũng là khâu quan trọng cho cả thầy và trò. Thâm nhập
sâu sắc vào tác phẩm, hiểu kĩ về đối tượng học sinh, xác định đúng mục đích yêu
cầu của bài dạy, dặn học sinh chuẩn bị bài ở nhà ...là điều kiện quan trọng cho giờ

CNTT không thể thay thế được người thầy. Theo tôi, nó chỉ giúp người thầy thay
đổi cách chế biến để học sinh có những món ăn ngon và bổ dưỡng, những bài học
hấp dẫn, lí thú. Nếu quá lạm dụng CNTT thì những món ăn ngon và bổ dưỡng ấy
5


sẽ không còn nữa, học sinh sẽ không có khả năng cảm thụ vẻ đẹp của ngôn từ văn
chương mà chỉ chú tâm đến phần trình diễn kỹ thuật tin học.
Từ những điều trình bày trên, thiết nghĩ, dạy các bài văn nghị luận sử dụng hình
ảnh và sơ đồ là một việc mà người giáo viên nên làm. Dưới đây, tôi xin trình bày
thiết kế bài giảng của mình khi sử dụng hình ảnh và sơ đồ để dạy có hiệu quả văn
bản nghị luận “Về luân lí xã hội ở nước ta” (Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây
của Phan Châu Trinh), tiết 104 trong chương trình Ngữ văn 11, ban Cơ bản.
1.4. Nội dung sử dụng CNTT
Hoạt động 1: Sử dụng hình ảnh.
Hoạt động 2: Sử dụng sơ đồ và hình ảnh.
2. Thiết kế bài giảng thử nghiệm
A. Mức độ cần đạt
Mục tiêu là cái đích cần phải đạt tới sau mỗi bài học Ngữ văn. Bất kì một hoạt
động nào cũng cần phải đề ra mục tiêu. Nhờ vậy, hoạt động mới có định hướng
đúng, tổ chức phù hợp và kết quả mới được đánh giá rõ ràng.
Bài giảng giúp học sinh:
1. Kiến thức:
- Hiểu được cuộc đời, con người cũng như khái niệm về luân lí xã hội của Phan
Châu Trinh.
- Cảm nhận được tình yêu nước, tư tưởng tiến bộ của Phan Châu Trinh khi kêu
gọi gây dựng nền luân lí xã hội ở nước ta, từ đó có ý thức xây dựng đoàn thể vững
mạnh trong thời hiện đại.
- Hiểu được nghệ thuật văn chính luận và phong cách chính luận của tác giả.
2. Kĩ năng:

Quốc – một trong những người rất ngưỡng mộ Bội Châu- Hai nhà cách mạng có tư
tưởng tiến bộ trong những năm đầu của
Phan Châu Trinh .
thế kỉ xx.

Hình ảnh 4 : Số nhà 49- Hàng Đào của
ông Lương Văn Can – nơi đầu tiên
chọn làm Đông Kinh Nghiã Thục

Hình 3 : Phan Châu Trinh và con trai Phan
Châu Duật ở Pháp
7


Hình ảnh 6 : Mộ Phan Châu Trinh
Hình ảnh 5 : Đám tang Phan Châu Trinh – một
đám tang trở thành phong trào ái quốc rộng
khắp cả nước .

Hình ảnh 8 : Ngôi trường mang tên
Phan Châu Trinh
Hình ảnh 7 : Con trường mang tên Phan Châu
Trinh .
`

Hình ảnh 10 : Nhà thờ Phan Châu
Trinh - Nơi để thế hệ trẻ có những phút
giây dâng hương tưởng niệm .
Hình ảnh 9 : Nhà điêu khắc Nguyễn Long Biểu
đang tạc tượng Phan Châu Trinh .

dung sáng tác ... )
Hs trả lời :
Gv nhận xét và ghi bảng.
- GV giới thiệu và trình chiếu một số cuốn
sách cho hs tham khảo (hoặc cho các em
xem cụ thể các cuốn sách của Phan Châu
Trinh).

9

- ( 1872 – 1926) tự là Tử Cán, hiệu
Tây Hồ, biệt hiệu Hi Mã.
- Quê quán: xã Tam Lộc- Phú NinhQuảng Nam
- Xuất thân trong một gia đình có
truyền thống hiếu học.
- Năm 1901 ông đỗ phó bảng, có ra
làm quan một thời gian ngắn sau đó
từ quan, đi làm cách mạng.
- Là một trong những nhà chí sĩ cách
mạng nổi tiếng trong những năm đầu
thế kỉ xx.
Tóm lại :
Phan Châu Trinh – một cuộc đời vì
dân vì nước. Sự nghiệp cứu nước
không thành nhưng tấm lòng yêu
nước thiết tha nồng cháy của ông thì
còn mãi muôn đời.
b. Sự nghiệp sáng tác
- Sáng tác nhiều thứ chữ với nhiều
thể loại, nhưng thành công nhất

hình thức diễn thuyết rất có hiệu quả trong
cuộc đời hoạt động cách mạng của ông.
- GV nhận xét và ghi bảng.
? Đối tượng hướng đến là ai?
HS trả lời.
GV củng cố lại và trình chiếu.
? Vậy cần đọc văn bản với giọng đọc như
thế nào?
Yêu cầu : - Đọc giọng khúc chiết, hùng
hồn, tự tin, giàu sức thuyết phục, cần nhấn
giọng ở các cụm từ; tuyệt nhiên không ai
biết đến ...
- Khi nói về sự thối nát của bọn nam
10

2. Tác phẩm "Đạo đức và luân lí
Đông Tây"
Gồm 5 phần chính , kể cả phần nhập
đề và phần kết luận
Đây là bài diễn thuyết được đọc vào
đêm 19- 11- 1925 tại nhà Hội Thanh
niên ở Sài Gòn .
Nội dung:
+ Đề cao tác dụng của đạo đức và
luân lí.
+ Khẳng định phải tìm nguyên nhân
mất nước trong việc để mất đạo đức,
luân lí truyền thống.
- Văn bản thuộc phần 3 của tác phẩm.
II. Đọc hiểu văn bản

tác giả, tôi sẽ hỏi các em :
tới nhận thức của nhân dân- những
? Theo em vấn đề cần nghị luận trong
con người yêu nước hiểu rõ tâm
văn bản này là gì ?
huyết, dũng khí và tư tưởng tiến
? Phan Châu Trinh viết văn bản này
bộ của Phan Châu Trinh.
nhằm mục đích gì ?
- Vạch ra thực trạng đen tối của xã
- HS trả lời .
hội lúc bấy giờ.
- GV nhận xét, bổ sung và ghi bảng.
b. Cấu trúc văn bản
- Hiểu, tin và cùng Phan Châu Trinh
xây dựng một nền luân lí xã hội ở nước
ta: Đề cao tư tưởng đoàn thể vì sự tiến bộ,
hướng về một ngày mai tươi sáng của đất
nước.
Sau đó tôi sẽ hỏi các em:
? Để đạt được mục đích đó, tác giả đã
đưa ra mấy luận điểm? (3 luận điểm)

Sơ đồ
Luận điểm 1
(phần 1)
Luân lí xã hội

Luận điểm 2
(phần 2)

chung khi chúng ta tìm hiểu và viết một
văn bản nghị luận.
Tìm hiểu cấu trúc văn bản giúp hs định => Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ,
lôgíc, có sự thống nhất và giàu chất
hướng cách phân tích rõ ràng, cụ thể
thuyết phục.
hơn, dễ hiểu, dễ nhớ hơn. Đồng thời,
giúp các em ôn và củng cố lại mô hình
chung khi viết bài văn nghị luận.
3. GV đưa ra khái niệm luân lí xã hội theo từ điển Tiếng Việt. Sau đó GV cho HS
quan sát hình ảnh.

11


Hình ảnh 1

Hình ảnh 2 Hình ảnh 3

Hình ảnh 4
Hình ảnh 5 Hình ảnh 6
Sau khi cho các em quan sát hình ảnh,
tôi sẽ hỏi các em:
? Dựa vào văn bản và những hình ảnh
minh hoạ trên, giúp em hiểu gì về quan
niệm về luân lí xã hội của Phan Châu
Trinh?
- HS trả lời.
- GV nhận xét, bổ sung và ghi bảng.
Việc cho các em hiểu khái niệm luân

- Là cái nghĩa vụ mỗi người trong
nước.
- Là cái nghĩa vụ loài người ăn ở với
loài người.
=> Luân lí xã hội gắn liền với ý thức sẵn
sàng làm việc chung, sẵn sàng giúp đỡ
nhau và tôn trọng quyền lợi của người
khác.

- Cách vào đề: Trực tiếp, thẳng thắn,
không vòng vo, phủ định để nhấn mạnh
và khẳng định.
- Biểu hiện:
+ Khẳng định nước ta chưa hề có luân lí
xã hội theo nghĩa đích thực, đúng đắn
của nó: Xã hội luân lí thật trong nước ta
tuyệt nhiên không ai biết đến.
+ Sau đó, bác bỏ những cách hiểu đơn
12


HS dựa vào sgk trả lời.
GV nhận xét, bổ sung và ghi bảng.

Tiếp đó, tôi sẽ hỏi các em:
? Phan Châu Trinh đã vào đề bài diễn
thuyết với một thái độ, tâm trạng như
thế nào?
? Cách vào đề như vậy đem lại hiệu quả
gì cho bài diễn thuyết?

Hoạt động 3: Hướng dẫn học ở nhà
1 . Từ cuộc đời của Phan Châu Trinh, em rút ra bài học gì cho bản thân?
2. Từ khái niệm về luân lí xã hội của Phan Châu Trinh, em hãy viết một bài văn
nói về tình thương yêu con người trong xã hội ngày nay.
III. Kết quả nghiên cứu và kiến nghị đề xuất.
1. Kết quả thực nghiệm
Năm học trước, tôi dạy văn bản trên theo cách dạy thông thường và hướng
khai thác cũng giống như một tác phẩm văn xuôi. Phương pháp dạy như vậy vừa
khô khan mà học sinh lại khó tiếp thu, không khí lớp học trầm lắng, có cảm giác
nặng nề, nhiều học sinh nói chuyện, làm việc riêng hoặc ngủ gục trên bàn ...Vì thế,
chất lượng giờ dạy chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Năm học này, tôi đã mạnh dạn cải tiến phương pháp giảng dạy, sử dụng công
nghệ thông tin, vận dụng nó với một tinh thần trách nhiệm cao và tâm huyết của
người thầy. Tôi nhận thấy,học sinh hứng thú học nhiều hơn, các em sôi nổi, tích
13


cực chủ động tiếp thu bài giảng. Như vậy, sau mỗi lần có sự đầu tư thoả đáng cho
tiết dạy, tôi đã thu được kết quả đáng phấn khởi.
Sự khác nhau cơ bản của 2 phương pháp là:
Phương pháp dạy cũ
Hoạt động 1 :
I . Tìm hiểu chung
- GV cho hs đọc phần tiểu dẫn.
- Dựa vào phần tiểu dẫn để trả lời câu
hỏi.
- Phần sự nghiệp sáng tác không được
minh hoạ bằng hình ảnh.
Hoạt động 2:
II . Đọc- hiểu văn bản.

được như sau:
Tên Sĩ số
lớp lớp
2011-2012 11a1 50
2012-2013 11a5 43

STT Năm học
1
2

Điểm dưới TB
Số lượng
(%)
20
40%
7
16,3%

Điểm từ 6->10
Số lượng
(%)
30
60%
36
83,7%

Mức độ
hứng thú
40%
80%

phu về nội dung và cách thức tiến hành bài dạy hợp lí, khoa học tạo điều kiện tốt
ch các em phát huy mọi mặt. Một trong những cách thức ấy là sử dụng công nghệ
thông tin vào trong bài giảng.
Quan trọng hơn cả, từ bài giảng này, tôi rút ra bài học bổ ích cho bản thân
trong việc sử sụng công nghệ thông tin trong bài giảng. Với một kiểu bài cụ thể,
một lớp cụ thể tôi sẽ tìm những hình ảnh, những sơ đồ ... với cách đặt câu hỏi và
hướng khai thác riêng để phù hợp với đối tượng học sinh. Đó là bài học trước mắt.
Lâu dài hơn, với trình độ CNTT còn non nớt, phương pháp giảng bài còn có
hạn, tôi hi vọng phương pháp giảng bài trên góp một phần nhỏ làm tăng hiệu quả
của phương pháp dạy mới hiện nay.
3. Một số kiến nghị, đề xuất
- Từ thực trạng của việc dạy học văn trong nhà trường hiện nay, tôi thiết nghĩ,
dạy các văn bản thuộc thể loại văn nghị luận là rất quan trọng. Vì vậy, cần phải
được chú trọng đặc biệt và quan tâm nhiều hơn nữa.
- Người giáo viên cần tăng cường trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, luôn
có câu hỏi phù hợp và có thái độ đúng đắn để nhận xét, đánh giá đúng mức độ câu
trả lời của học sinh. Đồng thời cần có sự linh hoạt trong việc vận dụng phương
pháp, đảm bảo tính khoa học, thể hiện đúng phong cách sư phạm của một nhà giáo
trong quá trình giảng bài.
15


- Giáo viên cần có sự đầu tư công phu, chu đáo không theo kiểu “bình cũ rượu
mới” mà phải thật sự tìm tòi, sáng tạo khi thiết kế bài giảng của mình. Có như vậy,
người giáo viên mới tự tin khi đứng trên bục giảng và chất lượng giờ dạy mới được
như mong muốn.
- Chúng tôi mong Sở GD & ĐT quan tâm đến chúng tôi nhiều hơn nữa, cung
cấp nhiều hơn nữa thiết bị dạy học cho trường chúng tôi.
Và cuối cùng, tôi mong muốn các bạn trẻ mạnh dạn đổi mới phương pháp
giảng dạy nói chung, đổi mới phương pháp dạy các văn bản thuộc thể loại văn nghị



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status