BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Nguyên NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
(MINDMAPS) TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “ĐỘNG
HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÝ 10 THPT NHẰM GÓP
PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NẮM VỮNG KIẾN
THỨC VÀ BỒI DƯỠNG TƯ DUY CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy Bùi Việt Hùng, tập thể lớp 10A3 và BGH trường THPT Nam
Kì Khởi Nghĩa đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thực nghiệm tại trường.
Tác giả Nguyễn Thị Nguyên
MỤC LỤC
0TLỜI CẢM ƠN0T 3
0TMỤC LỤC0T 4
0TMỞ ĐẦU0T 1
0T1. Lý do chọn đề tài0T 1
0T2. Mục đích nghiên cứu0T 2
0T3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu0T 2
0T4. Giả thuyết khoa học0T 2
0T5. Nhiệm vụ nghiên cứu0T 2
0T1.3.3.3.Bài học thực hành vật lý0T 30
0T1.3.3.4.Bài học ôn tập, tổng kết hệ thống hóa kiến thức0T 30
0TCHƯƠNG 2. SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “ĐỘNG
HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÝ 10 THPT
0T 32
0T2.1. Vị trí, đặc điểm chương “Động học chất điểm”0T 32
0T2.2. Mục tiêu dạy học chương “Động học chất điểm” theo định hướng nghiên cứu của đề tài0T 32
0T2.3. Phân tích cấu trúc, nội dung chương “Động học chất điểm” vật lý 10 chương trình chuẩn bằng công
cụ Bản đồ tư duy0T 33
0T2.4. Thiết kế tiến trình dạy học một số bài học điển hình chương “Động học chất điểm” với công cụ Bản
đồ tư duy0T 39
0T2.4.1. Minh họa sử dụng Bản đồ tư duy trong bài học xây dựng kiến thức mới0T 39
0T2.4.2. Minh họa sử dụng Bản đồ tư duy trong bài học luyện tập giải bài tập vật lý0T 45
0T2.4.3.Minh họa sử dụng Bản đồ tư duy trong bài học ôn tập, tổng kết hệ thống hóa kiến thức0T 50
0TCHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM0T 58
0T3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm0T 58
0T3.2. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm0T 58
0T3.2.1. Đối tượng thực nghiệm sư phạm0T 58
0T3.2.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm0T 59
0T3.3Nội dung thực nghiệm sư phạm0T 59
0T3.4.Kết quả thực nghiệm sư phạm0T 60
0T3.4.1. Đánh giá định tính0T 60
0T3.4.2.Đánh giá định lượng0T 61
0T3.4.3.Một số kết quả đạt được khi sử dụng Bản đồ tư duy như một công cụ học tập0T 64
0TKẾT LUẬN0T 67
0TPHỤ LỤC0T 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Làm thế nào để học sinh có thể hứng thú trong học tập, có thể nắm vững kiến thức một cách
rất cần thiết cho việc học các chương tiếp theo của chương trình. Sử dụng Bản đồ tư duy sẽ giúp cho
học sinh nắm vững kiến thức, có một cái nhìn vấn đề tổng quát, sáng tạo và hình thành, rèn luyện kỹ
năng sử dụng Bản đồ tư duy trong học tập vật lý ngay từ chương đầu tiên của chương trình vật lý
phổ thông.
Vì những lý do ở trên tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu sử dụng Bản đồ tư duy (mind maps) trong dạy học chương “Động học chất
điểm” vật lý 10 THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức và bồi dưỡng
tư duy học sinh”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng Bản đồ tư duy như một công cụ hỗ trợ dạy và học chương “Động học
chất điểm” góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức và bồi dưỡng năng lực tư duy cho
học sinh.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu : Học sinh lớp 10 THPT, ban cơ bản.
- Đối tượng nghiên cứu : Quá trình dạy học Vật lý.
- Phạm vi nghiên cứu: Chương “Động học chất điểm” lớp 10 THPT, ban cơ bản
4. Giả thuyết khoa học
Có thể sử dụng Bản đồ tư duy hỗ trợ hoạt động dạy và học chương “Động học chất điểm” vật lý
10 đảm bảo tính khoa học, sư phạm và khả thi trong điều kiện hiện nay của trường THPT; việc sử
dụng Bản đồ tư duy trong hoạt động dạy học sẽ nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức kỹ năng và
bồi dưỡng năng lực tư duy cho học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu cơ sở tâm lý học về Bản đồ tư duy - một công cụ hỗ trợ quá trình tư duy đạt kết quả.
5.2 Tìm hiểu cơ sở lý luận dạy học về Bản đồ tư duy và cách thành lập Bản
đồ tư duy trong quá trình dạy học.
5.3 Xác định mục tiêu dạy học chương “Động học chất điểm” theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và mục
tiêu dạy học theo định hướng nghiên cứu (chú ý đến bồi dưỡng kỹ năng tư duy: liên tưởng, lô-gic,
hệ thống hóa, khái quát hóa).
5.4 Phân tích nội dung kiến thức chương động học chất điểm bằng công cụ Bản đồ tư duy.
và thực hiện công việc của mình đúng thời gian.
8. Cấu trúc luận văn
Mở đầu – 4 trang.
Chương 1: Cơ sở lý luận về Bản đồ tư duy – công cụ hỗ trợ quá trình tư duy và quá trình dạy học –
33 trang.
Chương 2: Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học chương “Động học chất điểm” Vật lý 10 THPT –
32 trang.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm – 10 trang.
Kết luận – 1 trang.
Phụ lục – 19 trang. CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢN ĐỒ TƯ DUY – CÔNG CỤ HỖ
TRỢ QUÁ TRÌNH TƯ DUY VÀ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Trong chương 1 tôi trình bày những tìm hiểu về tư duy, Bản đồ tư duy về lịch sử hình thành, cơ sở
tâm lý học, phương pháp và công cụ xây dựng Bản đồ tư duy làm cơ sở cho việc nghiên cứu sử
dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học.
1.1.Khái niệm về tư duy
Phát triển tư duy học sinh trong quá trình dạy học là một trong 4 nhiệm vụ của dạy học vật lý ở
trường phổ thông – và là nhiệm vụ then chốt, là mục đích cuối cùng của dạy học.
1.1.1.Tư duy là gì?[14]
Tư duy là một quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của
hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của chúng, những mối quan hệ khách
quan, phổ biến của chúng, đồng thời cũng là sự vận dụng sáng tạo những kết luận khái quát đã thu
được vào những dấu hiệu cụ thể, dự đoán được những thuộc tính, hiện tượng, quan hệ mới.
Đặc điểm của tư duy[14]
a. Tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu. Bởi vậy, tư duy có quan hệ mật thiết với
nhận thức cảm tính, sử dụng những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm thực tế, những cơ sở trực
trừu tượng, những tri thức lý luận. Đặc trưng của loại tư duy này là :
- Không dừng lại ở kinh nghiệm rời rạc mà luôn hướng đến xây dựng quy tắc, quy luật chung
ngày một sâu rộng hơn.
- Tư định hướng hành động, suy nghĩ về cách thức hành động trước khi hành động.
- Luôn sử dụng những tri thức khái quát đã có để lý giải, dự đoán những sự vật, hiện tượng cụ
thể.
- Luôn lật đi, lật lại vấn đề để đạt đến sự nhất quán về mặt lý luận, xác định được phạm vi ứng
dụng của mỗi lý thuyết.
Tư duy lý luận rất cần thiết cho hoạt động nhận thức và phải rèn lâu dài mới có được. Nhờ có
tư duy lý luận, con người mới có thể đi sâu được vào bản chất của sự vật hiện tượng, phát hiện được
qui luật vận động của chúng và sử dụng những tri thức khái quát đó để cải tạo bản thân và làm biến
đổi thế giới tự nhiên, phục vụ lợi ích cho mình.
c. Tư duy lôgic
Tư duy lôgic là tư duy tuân theo các quy tắc, quy luật của lôgic học một cách chặt chẽ, chính
xác, không phạm phải sai lầm trong các lập luận, biết phát hiện ra các mâu thuẫn, nhờ đó mà nhận
thức được đúng đắn chân lý khách quan.
Lôgic học là một khoa học nghiên cứu những tư tưởng của con người về mặt hình thức lôgic
của chúng và xây dựng những quy tắc, quy luật mà việc tuân theo chúng là điều kiện cần để đạt tới
chân lý trong quá trình suy luận. Con người bằng kinh nghiệm của mình đã suy nghĩ theo những
quy luật nhất định rất lâu trước khi những quy luật này được khoa học lôgic khám phá ra. Những
quy luật của lôgic học mà mỗi người sử dụng trong quá trình hoạt động tư duy không phải là con
người tự ý tạo ra mà là sự phản ánh những mối liên hệ và quan hệ khách quan của các sự vật và hiện
tượng quanh ta. Bởi thế, dù chưa biết lôgic học, nhưng con người bằng kinh nghiệm sống của mình
đã có thể trao đổi tư tưởng với nhau, thông hiểu nhau và thống nhất được với nhau trong một số lập
luận, phán đoán. Tuy nhiên, điều đó chỉ xảy ra trong một số trường hợp đơn giản, còn khi gặp
những trường hợp phức tạp thì khó có thể thông hiểu lẫn nhau hoặc khó phân biệt đúng hay sai, nếu
không nắm vững và vận dụng đúng đắn những quy tắc, quy luật lôgic học.
Ví dụ : học sinh có thể dễ dàng tin rằng lập luận sau đây là đúng, dù không hiểu lý do vì sao:
Tất cả kim loại đều dẫn điện.
người cải tạo thực tiễn, làm cho các hiện tượng vật lý xảy ra theo hướng có lợi cho con người, thỏa
mãn được nhu cầu ngày càng tăng của con người.
Trong quá trình nhận thức vật lý như trên, con người sử dụng tổng hợp, xen kẽ nhiều hình
thức tư duy, trong đó có hình thức chung như tư duy lý luận, tư duy lôgic và những hình thức đặc
thù của vật lý học như thực nghiệm, mô hình hóa….
Ví dụ : Quan sát hiện tượng các vật nổi hay chìm trong nước, ta thấy rất phức tạp. Thông
thường, vật nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi, nhưng cũng có trường hợp vật nặng lại nổi mà vật nhẹ lại
chìm. Hai vật nặng như nhau cùng thả trong nước nhưng một vật thì chìm, vật kia lại nổi. Hình như
cả trọng lượng, hình dạng, kích thước, bản chất của vật, của chất lỏng đều ảnh hưởng đến hiện
tượng nổi này. Sự quan sát trực tiếp những hiện tượng đa dạng đó trong tự nhiên khó có thể rút ra
điều gì là chung, khó mà phát hiện được quy luật chi phối hiện tượng. Ta phải phân tích xem có yếu
tố nào ảnh hưởng đến hiện tượng nổi và xem xét từng yếu tố một. Chẳng hạn vật nhúng trong nước
chịu tác dụng của hai lực : trọng lượng kéo vật xuống và nước đẩy vật lên. Lực đẩy của nước lên vật
cũng là một hiện tượng phức tạp, phụ thuộc vào cả vật và cả chất lỏng: phụ thuộc vào thể tích của
vật và vào trọng lượng riêng của chất lỏng. Cuối cùng thì hiện tượng nổi của một vật nhúng trong
chất lỏng rất đa dạng và phức tạp lại bị chi phối bởi một loạt những tính chất, quy luật đơn giản sau
:
Trọng lượng của vật : P=dV.
Lực đẩy của chất lỏng tác dụng lên vật nhúng trong nó bằng trọng lượng của khối chất lỏng bị
chiếm chỗ :
F=d’V
Vật nổi hay chìm là do mối quan hệ giữa P và F quyết định :
P > F vật chìm xuống
P = F vật lơ lửng
P < F vật nổi lên.
1.1.3.Các thao tác tư duy[14], [15]
a. Phân tích tổng hợp
Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các “bộ phận”, các
khi bồi dưỡng tư duy cho học sinh qua một số phương pháp cụ thể sau
a. Tập dượt để học sinh giải quyết vấn đề nhận thức theo phương pháp nhận thức của vật
lý[14]
Để rèn luyện tư duy vật lý cho học sinh thì tốt nhất là tập dượt cho họ giải quyết các nhiệm
vụ nhận thức bằng chính phương pháp của các nhà vật lý. Việc hiểu và vận dụng được một phương
pháp khoa học là một điều khó khăn hơn cả việc tiếp thu một định luật vật lý cụ thể. Việc dạy cho
học sinh phương pháp nhận thức khoa học gắn với quá trình nghiên cứu chính môn học đó là việc
làm rất hiệu quả. Chính trong quá trình hướng dẫn học sinh tự lực hoạt động để tái tạo kiến thức vật
lý, giáo viên làm cho họ hiểu nội dung của các phương pháp vật lý và sử dụng phương pháp này ở
những mức độ thích hợp, tùy theo trình độ của từng học sinh và điều kiện của nhà trường. Sau một
số lần áp dụng các phương pháp nhận thức cụ thể, giáo viên có thể giúp học sinh khái quát hóa
thành một trình tự giai đoạn của mỗi phương pháp, dùng làm cơ sở định hướng tổng quát cho hoạt
động nhận thức vật lý của học sinh.
b. Rèn luyện ngôn ngữ vật lý cho học sinh[14]
Ngôn ngữ là hình thức biểu hiện của tư duy. Mỗi khái niệm vật lý được biểu đạt bằng một từ,
mỗi định nghĩa, định luật vật lý được phát biểu bằng một mệnh đề, mỗi suy luận bao gồm nhiều
phán đoán liên tiếp. Tuy kiến thức vật lý rất đa dạng nhưng những cách phát biểu các định nghĩa,
quy tắc, định luật vật lý cũng có những hình thức chung nhất định, giáo viên có thể chú ý rèn luyện
cho học sinh quen dần.
Để một tả một loại hiện tượng, cần những thuật ngữ diễn tả những dấu hiệu đặc trưng của loại hiện
tượng đó.
Ví dụ: để mô tả chuyển động cơ học, cần đến các thuật ngữ để chỉ quỹ đạo(thẳng, cong,
tròn…), chỉ sự nhanh hay chậm của chuyển động (vận tốc), chỉ sự thay đổi vận tốc(gia tốc), chỉ vị
trí (tọa độ); để mô tả tương tác cơ học giữa các vật, cần đến thuật ngữ lực.
Định nghĩa một đại lượng vật lý thường gồm hai phần : Một phần nêu lên đặc điểm định tính
(đại lượng này đặc trưng cho hay biểu thị một đặc tính nào của sự vật, hiện tượng) và một phần nêu
lên đặc điểm định lượng (đại lượng này đo bằng cách nào, quan hệ với các đại lượng khác theo công
thức nào).
Một định luật vật lý thường nêu lên mối quan hệ hàm số giữa hai đại lượng hoặc nêu lên
Tony Buzan là người phát minh ra Bản đồ tư duy. Ông sinh năm 1942 tại Luân Đôn, Anh.
Năm 1964 ông nhận bằng danh dự môn tâm lý, văn chương văn minh Anh, toán học và khoa học
phổ thông. Ông là nhà nghiên cứu hàng đầu về não bộ và phương pháp học tập, ông làm cố vấn cho
nhiều bộ, ngành trong chính phủ, cho các tập đoàn đa quốc gia (BP,IBM,Walt Disney…) và là nhà
thuyết trình thường xuyên của các doanh nghiệp quốc tế, các trường đại học hàng đầu. Ông còn là
cố vấn cho các huấn luận viên, vận động viên Olympic quốc tế, đội chèo thuyền Olympic và đội cờ
quốc tế của Anh. Ngoài ra, ông còn là chủ tịch Quỹ nghiên cứu về não bộ (Brain Foundation), nhà
sáng lập tổ chức Brain Trust và các giải vô địch về trí nhớ và tư duy. Ông đã vinh dự nhận phần
thưởng Lãnh đạo YPO, là khen thưởng của EDS phần thưởng Eagle Catcher – dành cho những
người đã nổ lực thực hiện được các việc bất khả thi.
Trong số những cuốn sách bán chạy nhất của ông là cuốn “Sử dụng trí tuệ của bạn” (Use
your head) và các tác phẩm khác trong bộ sách về tư duy. Các tác phẩm của ông đã được xuất bản ở
hơn 100 quốc gia và được dịch sang 30 thứ tiếng.
Đây là câu chuyện của Tony Buzan kể về lịch sử hình thành Bản đồ tư duy
“ Lúc học năm thứ hai đại học, tôi bước vào thư viện, lòng đầy quyết tâm, yêu cầu nhân viên thủ thư
chỉ cho tôi vị trí của các sách viết về não bộ và cách sử dụng não bộ. Ngay lập tức cô ấy chỉ tôi sang
khu vực sách y khoa! Khi tôi giải thích rằng tôi không muốn giải phẫu bộ não, mà muốn sử dụng
nó, tôi được trả lời lịch sự là không có những cuốn sách như vậy. Sửng sốt tôi rời khỏi thư viện.
Vào đầu thập niên 1970, trí thông minh nhân tạo đã ra đời nên tôi có thể mua một cái máy vi
tính 1 megabyte và kèm theo đó là cuốn sách hướng dẫn dày 1.000 trang. Thế thì trong giai đoạn
văn minh được cho là tiến bộ này, khi tất cả chúng ta bước vào thế giới với chiếc máy vi tính sinh
học phức tạp nhất, mạnh hơn gấp hàng tỉ lần so với bất kỳ một chiếc máy vi tính nào, thì những
cuốn sách sử dụng chiếc máy vi tính sinh học ấy ở đâu?
Thế là tôi quyết định viết một loạt sách dựa trên nghiên cứu của mình: Bách khoa toàn thư về
não bộ và cách sử dụng nó. Tôi bắt đầu viết và năm 1971, khi tôi viết, hình ảnh ở chân trời ngày
càng rõ nét hơn – đó là khái niệm Tư duy Mở rộng và Lập Bản đồ Tư duy.” [7;18]
Bản đồ tư duy được chính thức giới thiệu với thế giới lần đầu vào mùa xuân năm 1974 với ấn
bản của cuốn đi trước được mang tên “Sử dụng Trí tuệ của bạn” (Use your head). Ngày 21 tháng 4
năm 1995, một bữa tiệc trọng đại mừng sinh nhật được tổ chức tại Royal Albert Hall ở Luân Đôn để
Những gợi ý sau đây có thể được kết hợp với Bản đồ tư duy, giúp cho việc nhớ lại các thông
tin quan trọng dễ dàng hơn:
a. Hiệu ứng Von Restorff [5]
Vào năm 1933, nhà tâm lý học Hewig Von Restorff công bố một nghiên cứu tiết lộ rằng
chúng ta có thiên hướng ghi nhớ một thông tin trong một danh sách nếu nó nổi bật. Chẳng hạn, nếu
ta có một danh sách các số, và ở giữa có một chữ cái, nhiều khả năng ta sẽ nhớ chữ cái đó – đơn
giản vì nó khác với tất cả những thông tin còn lại trên danh sách. Hiện tượng này được gọi là hiệu
ứng Von Restorff. Theo cách này, ta có thể giúp chính mình ghi nhớ thông tin bằng cách khiến nó
trở nên kỳ quái hoặc lố bịch. Như thế, nó sẽ nổi bật trong trí nhớ.
Ví dụ : học thuộc bảy màu của cầu vồng ta có câu: đời chỉ vui lúc leo cầu thang - ứng với bảy
màu của cầu vồng: đỏ, cam, vàng, lục,lam, chàm, tím.
b. Ghi nhớ bằng hình ảnh [5]
Một trong những cách dễ nhất để ghi nhớ là thông qua sự hình dung và hình ảnh. Việc này
kích thích bán cầu não phải, do đó giúp cả bộ não ghi nhớ. Những bức tranh sặc sỡ dễ nhớ hơn từ
ngữ, và ta có thể nhớ được bất cứ thứ gì bằng cách liên hệ nó với một hình ảnh sống động. Nếu bộ
não của ta tạo những liên kết của riêng nó, nó sẽ dễ ghi nhớ hơn vì nó đã trải qua quá trình sáng tạo
của việc liên kết với một vật khác. Nếu ta sử dụng trí não sáng tạo để khiến những liên hệ này lố
bịch, hài hước, kỳ quặc hoặc gây sốc, thì bộ não của ta thậm chí còn nhớ những liên hệ này nhiều
hơn.
1.2.4.Chức năng của Bản đồ tư duy
1.2.4.1.Chức năng chung
- Chức năng định hướng tư duy, phát xuất ý tưởng sáng tạo
Tư duy là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu, khi đứng trước một tình huống
“có vấn đề” hoạt động tư duy của con người sẽ bắt đầu, nhưng hoạt động ấy sẽ lan man nếu không
được định hướng rõ ràng. Bản đồ tư duy với hình thức là một sơ đồ được phát triển từ một ý tưởng
hay hình ảnh trung tâm cần tư duy, nó sẽ được mở rộng, nghiên cứu sâu hơn bằng các nhánh chính
và các nhánh nhỏ hơn từ nhánh chính. Nhờ vậy, hoạt động tư duy của ta luôn được định hướng rõ
ràng. Bên cạnh đó, trong Bản đồ tư duy từ những ý tưởng hay hình ảnh đưa ra ở các nhánh ta có thể
tìm them nhiều ý tưởng sáng tạo mà có thể khi suy nghĩ ta không phát hiện ra. Vì vậy, khi sử dụng
Bản đồ tư duy là phương tiện định hướng tư duy từ khái quát đến cụ thể hoặc ngược lại; từ
mục đích, mục tiêu đến hành động…đạt kết quả.
Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học sẽ rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng (vẽ và sử
dụng) Bản đồ tư duy trong hoạt động học tập và sau này trong mọi hoạt động khác – bất cứ hoạt
động nào đều cần phải tư duy, sắp xếp kế hoạch thực hiện một cách khoa học, tránh được lối làm
việc tùy tiện, thử và sai mò mẫm kém hiệu quả.
Bản đồ tư duy có ưu thế là các ý tưởng, sự kiện luôn được liên kết chặt chẽ với nhau, điều đó
giúp học sinh có thể vận dụng sáng tạo những hiểu biết của mình khi tiếp nhận, đánh giá hay giải
quyết một vấn đề gặp phải. Dần dần, học sinh sẽ có thói quen tư duy tốt và luôn phát triển trong quá
trình nhận thức.
- Chức năng giáo dục kỹ thuật tổng hợp
Việc hướng dẫn học sinh sử dụng tốt và thuần thục Bản đồ tư duy, đó cũng là một trong
những cách giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh. Nó có thể rèn luyên cho học sinh kỹ năng thực
hành, dựa trên những điều đã học để tạo ra sản phẩm mới, cụ thể ở đây là những Bản đồ tư duy khác
nhau cho những vấn đề khác nhau.
Vì thế, việc sử dụng Bản đồ tư duy như một phương tiện hỗ trợ dạy học là điều cần thiết.
Mục tiếp theo, tôi xin giới thiệu một số quy tắc cần tuân thủ khi xây dựng Bản đồ tư duy
1.2.5.Quy tắc xây dựng Bản đồ tư duy [7]
Mục tiêu của các quy tắc trong việc xây dựng Bản đồ tư duy là tự do tư duy chứ không phải
kìm hãm tư duy. Như vậy, điều quan trọng là không nên nhầm lẫn giữa trật tự và cứng nhắc, tự do
và hỗn độn. Trong Bản đồ tư duy cần tuân thủ những quy tắc sau:
a. Nhấn mạnh
Nhấn mạnh là quan trọng vì nó có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sáng tạo. Mọi kỹ thuật để nhấn
mạnh đều có thể được dùng để liên kết, và ngược lại. Để đảm bảo nguyên tắc này nên sử dụng
những thủ thuật sau:
- Luôn dùng một hình ảnh trung tâm:
Hình ảnh có tác dụng thu hút sự tập trung của mắt và não, kích hoạt vô số liên kết đồng thời giúp
ghi nhớ hiệu quả. Hơn nữa, hình ảnh luôn hấp dẫn, lôi cuốn, gây sự thích thú, và thu hút quan tâm.
Nếu buộc phải dùng từ thay cho ảnh làm trung tâm trong Bản đồ tư duy, hãy tìm cách biến nó thành
làm ký hiệu hay phân biệt các vùng trong Bản đồ tư duy sẽ làm tăng tốc độ tiếp cận thông tin và khả
năng nhớ thông tin đó, kết quả là những ý tưởng sáng tạo sẽ mở rộng cả về số lượng lẫn quy mô.
Các ký hiệu và biểu tượng bằng màu sắc có thể được ấn định bởi từng cá nhân hay cả nhóm.
- Dùng ký hiệu:
Khi dùng ký hiệu, ta có thể lập tức tìm mối liên kết giữa các bộ phận trên cùng một trang trong Bản
đồ tư duy, bất kể chúng xa hay gần nhau, có thể ký hiệu bằng dấu thập chéo, vòng tròn, tam giác, và
gạch dưới, hay những dấu hiệu phức tạp hơn…Ký hiệu cũng giúp tiết kiệm thời gian.
c. Mạch lạc
Diễn đạt không sáng sủa sẽ khó tiếp thu. Một ghi chú viết vẽ nguệch ngoạc sẽ gây trở ngại
nhiều hơn là giúp cho trí nhớ vì nó đi ngược lại bản tính liên kết của tư duy, và hạn chế tư duy mạch
lạc.
- Mỗi dòng chỉ có một từ khóa:
Mỗi từ có thể có đến hàng ngàn liên kết, sẽ dễ liên kết hơn nếu mỗi dòng chỉ có một từ. Hơn nữa,
các cụm từ quan trọng sẽ không bị lạc mất trong đám rừng chữ, và ta sẽ luôn có nhiều lựa chọn khác
nhau.
- Viết từ khóa trên vạch liên kết:
Vạch liên kết là khung đỡ ý tưởng cho từ, cấu thành tổ chức và hiệu quả cao. Vạch liên kết không
những làm tăng tính mạch lạc, giúp trí nhớ, mà còn tạo điều kiện mở rộng liên kết và khai triển.
- Vạch liên kết và các từ luôn cùng độ dài:
Bằng cách này, các từ dễ dàng được đặt kề nhau hơn, thuận lợi liên kết hơn và sẽ dành được nhiều
khoảng trống để bổ sung thông tin cho Bản đồ tư duy.
- Các vạch liên kết nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm:
Nối liền các vạch liên kết trong Bản đồ tư duy là một cách giúp liên kết ý tưởng. Vạch nối có thể là
mũi tên, đường cung, vòng xoắn, vòng tròn, hình bầu dục, tam giác, đa giác, hay bất kể hình thù nào
mà ta có thể nghĩ tới.
- Ảnh vẽ thật rõ ràng:
Hình thức mạch lạc giúp tư duy mạch lạc hơn. Bản đồ tư duy rõ ràng trông cũng đẹp mắt và hấp dẫn
hơn.
- Bản đồ tư duy luôn nằm theo chiều ngang.