i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc
chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2016
Tác giả
Tạ Duy Long
ii
LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài, tôi đã đƣợc sự quan
tâm giúp đỡ của Ban Giám hiệu, khoa Đào tạo Sau đại học, khoa Lâm học, bộ
môn Khoa học đất cùng các thầy cô giáo trƣờng Đại học Lâm nghiệp, các bạn
bè đồng nghiệp.
Xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Minh Thanh và TS. Hoàng
Văn Thắng những ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn thực hiện và giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo bộ
môn Khoa học đất, bộ môn Lâm sinh trƣờng đại học Lâm nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn cán bộ Trung tâm PTLN Hà Nội, Cán bộ và
nhân dân các xã Quang tiến, Phù Linh và Nam Sơn đã tạo điều kiện về thời
gian, cung cấp sthông tin, tài liệu giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
hiện trƣờng.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới các bạn bè đồng nghiệp đã hỗ
2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 17
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 17
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 18
2.4.1. Phƣơng pháp luận .................................................................................. 18
2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................... 18
Chƣơng 3 KHÁI QUÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ ....... 24
3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ................................................... 24
iv
3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội ........................................................................... 28
3.3. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của TT Phát triển LN Hà Nội ......... 30
3.4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên
cứu ................................................................................................................... 31
Chƣơng 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 33
4.1. Tổng kết một số biện pháp kỹ thuật đã áp dụng trồng cây bản địa dƣới
tán ở khu vực ................................................................................................... 33
4.1.1. Hiện trạng rừng trƣớc khi đƣa 3 loài cây bản địa trồng dƣới tán ......... 33
4.1.2. Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng thiết kế trồng cây bản địa ở khu vực ..... 35
4.1.3. Khái quát một số đặc điểm sinh thái học của 3 loài cây bản địa .......... 37
4.2. Đặc điểm các lâm phần trồng cây bản địa dƣới tán tại khu vực nghiên cứu
......................................................................................................................... 39
4.2.1. Đặc điểm tầng cây cao .......................................................................... 39
4.2.2. Đặc điểm lớp cây bụi thảm tƣơi, vật rơi rụng ....................................... 42
4.2.3. Một số đặc điểm đất trong lâm phần trồng cây bản địa dƣới tán.......... 43
4.2.4. Đặc điểm khí hậu .................................................................................. 47
4.3. Sinh trƣởng của các loài cây bản địa trồng dƣới tán ................................ 49
4.3.1. Sinh trƣởng loài Sao đen (Hopea odorata Roxb.) dƣới tán rừng trồng. 49
4.3.2. Sinh trƣởng loài Lim xanh (Erythrophleum fordii Oliv) dƣới tán rừng
Đƣờng kính gốc
D1.3
Đƣờng kinh thân tại 1,3 m
Dt
Đƣờng kính tán
Hvn
Chiều cao vút ngọn
K2O
Ka li dễ tiêu
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NH4+
Đạm dễ tiêu
OTC
Ô tiêu chuẩn
27
3.2
Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của Trung tâm
30
4.1
Một số đặc điểm khu vực trƣớc khi trồng cây bản địa
33
4.2
Một số tính chất cơ bản của đất trƣớc khi trồng cây bản địa
34
4.3
Một số đặc điểm tầng cây cao khu vực nghiên cứu
39
4.4
Đặc điểm lớp cây bụi, thảm tƣơi và vật rơi rụng
4.11
4.12
Một số chỉ tiêu sinh trƣởng của Sao đen 5 tuổi trồng dƣới tán rừng
tại khu vực nghiên cứu (số trung bình của 3OTC)
Một số chỉ tiêu sinh trƣởng của Lim xanh 5 tuổi trồng dƣới tán rừng
tại khu vực nghiên cứu (số trung bình của 3OTC)
Một số chỉ tiêu sinh trƣởng của Re gừng 5 tuổi trồng dƣới tán rừng
tại khu vực nghiên cứu (số trung bình của 3OTC)
Sinh trƣởng của 3 loài cây bản địa trồng dƣới tán rừng tại khu vực
nghiên cứu (số trung bình/3OTC)
49
54
59
64
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
4.5
Hiện trạng trảng cỏ cây bụi
43
4.6
Cây Sao đen 5 tuổi dƣới tán rừng Keo tai tƣợng 20 tuổi
53
4.7
Cây Sao đen 5 tuổi dƣới tán rừng Thông nhựa 26 tuổi
53
4.8
Lim xanh 5 tuổi trồng dƣới rừng Thông nhựa 26 tuổi
58
4.9
Lim xanh 5 tuổi ở trảng cỏ cây bụi
58
Sinh trƣởng về đƣờng kính gốc của loài Sao đen 5 tuổi
50
4.2
Sinh trƣởng về chiều cao của loài Sao đen 5 tuổi
51
4.3
Sinh trƣởng về đƣờng kính tán của loài Sao đen 5 tuổi
52
4.4
Sinh trƣởng đƣờng kính gốc của Lim xanh 5 tuổi
55
4.5
Sinh trƣởng chiều cao của Lim xanh 5 tuổi
56
4.6
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sóc Sơn là huyện ngoại thành của Hà Nội, có 4.166 ha diện tích đất là
đồi núi. Là vùng tiếp giáp đồng bằng, đông dân cƣ, bị áp lực lớn bởi việc khai
thác sử dụng rừng và đất rừng thiếu kiểm sự soát, đồi núi đã trở lên trống trọc,
hoang hóa, đất bị xói mòn, cằn cỗi. Từ những năm 1980 -1998 đƣợc sự đầu tƣ
của Nhà nƣớc, nhiều dự án trồng rừng đƣợc đầu tƣ phát triển rừng. Quá trình
trồng rừng tạo đã tạo nên lớp thảm xanh, rừng đƣợc trồng thuần loài: keo, keo
xen thông , thông và bạch đàn... Tuy nhiên, rừng thuần loài đã bộc lộ những
hạn chế tác dụng và không đáp ứng đƣợc các yêu cầu về kinh tế cũng nhƣ môi
trƣờng sinh thái. Để khắc phục những hạn chế đó, nhà nƣớc đã và đang đầu tƣ
nâng cấp rừng thuần loài, đa dạng hóa, bản địa hóa cây trồng nhằm đảm bảo
tính bền vững.
Trong thời gian qua, đƣợc sự đầu tƣ của sở NN&PTNT Hà Nội về việc
nâng cao chất lƣợng rừng phòng hộ theo tiêu chuẩn rừng đa loài, nhiều tầng
và có giá trị kinh tế cũng nhƣ đa dạng về hệ sinh thái rừng, rừng phòng hộ
môi trƣờng trên địa bàn huyện Sóc Sơn từ năm 2011. Trung tâm Phát triển
Lâm nghiệp Hà Nội là một trong những đơn vị thực hiện nhiệm vụ này và đã
trồng cải tạo diện tích 30 ha rừng thông, keo và thông keo hỗn loài bằng 3 loài
Sao đen, Lim xanh, Re gừng. Để có cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp
cải tạo các diện tích rừng thuần loài trên địa bàn huyện Sóc Sơn, Hà Nội thì
việc đánh giá các mô hình trồng cây bản địa dƣới tán rừng hiện có là rất cân
thiết. Do vậy, đề tài luận văn “Đánh giá tình hình sinh trưởng một số loài
cây gỗ bản địa dưới tán rừng tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” đƣợc
thực hiện có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển rừng bền vững ở Sóc
Sơn, Hà Nội.
3
Quercus sp hỗn loài với các loài cây khác theo băng hẹp (3 - 4 hàng) hoặc
theo hàng cũng thấy Quercus sp sinh trƣởng tốt hơn khi trồng thuần loài.
Ở Kasma Forest Technology Centre (Nhật Bản) đã thiết lập hàng loạt
các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây và ở nhiều cấp tuổi,
trồng ở một số mật độ khác nhau, đặc biệt ở vùng Tsucuba với độ cao dƣới
876m so với mực nƣớc biển đã trồng loài cây Tuyết tùng (Japanese ceder) để
tạo ra các lâm phần bền vững có giá trị, các nhà nghiên cứu ở đây nhận thấy
có ảnh hƣởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng rừng hỗn giao với nhau và
ảnh hƣởng của môi trƣờng tới từng loài cây trồng. Khi nghiên cứu về trồng
rừng hỗn loài, các tác giả trên đều cho rằng việc bố trí các loài cây trong mô
hình rừng trồng hỗn loài thƣờng có ảnh hƣởng khá rõ tới sinh trƣởng của
chúng tuỳ theo đặc điểm từng loài và cự ly trồng từng cá thể.
Đặc điểm nổi bật của rừng hỗn loài là có kết cấu nhiều tầng tán. Vì thế
nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã đƣợc một số nhà khoa học trên thế
giới quan tâm. Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài,
Bernar Dupuy (1995) đã cho thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn
loài phụ thuộc vào đặc điểm sinh trƣởng và tính hợp quần của các loài cây
trong lâm phần. Điều này cho thấy để tạo đƣợc các mô hình rừng trồng hỗn
loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng đƣợc tối đa không gian dinh dƣỡng thì cần
phải dựa vào đặc điểm sinh thái cũng nhƣ phải quan tâm đến mối quan hệ qua
lại giữa các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp. Đây là những
cơ sở quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô hình
rừng trồng hỗn loài.
Ở Malaysia (1999) đã nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng bằng
nhiều phƣơng thức khác nhau. Tuỳ theo các đối tƣợng khác nhau là rừng tự
nhiên hay rừng trồng Keo tai tƣợng (Acacia mangium) 10 - 15 tuổi hoặc rừng
trồng Keo tai tƣợng 2 - 3 tuổi mà mở các băng chặt và băng chừa khác nhau.
5
1.1.2. Nghiên cứu về cây bản địa trồng dưới tán
Trong những năm gần đây rất nhiều nơi trên thế giới đã và đang nghiên
cứu thử nghiệm và trồng rừng thanh công bằng những loài cây bản địa. Trong
nhiều loại cây trồng các cây thuộc chi Paulownia đáng đƣợc sự quan tâm của
nhiều nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Theo Trần Quang Việt (2001), từ
những năm 1960, cùng với phong trào lục hóa và xây dựng các đai rừng
phòng hộ bảo vệ đồng ruộng ,chi Poulownia đƣợc tiếp tục nghiên cứu và phát
triển ở Trung Quốc. Viện hàn lâm Lâm nghiệp Trung Quốc (CAF) đã tiến
hành nghiên cứu một cách có hệ thống từ phân loại, đặc tính sinh thái, phân
bố đến kĩ thuật gây trồng và sử dụng các loài cây trong chi Poulownia [16].
Tại Malaysia năm 1999, trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới
thiệu cách thiết lập mô hình trồng rừng hỗn loại trên 3 đối tƣợng: Rừng Tự
nhiên, rừng Acacia mangium 10-15 tuổi và 2-3 tuổi. Dự án đã sử dụng 23 loài
cây bản địa có giá trị trồng theo băng 30m mở ra trong rừng tự nhiên, trồng 6
hàng cây. Trong rừng Acacia mangium mở băng 10m trồng 3 hàng cây, băng
20m trồng 7 hàng cây, mở 40m trồng 15 hàng cây với 14 loài Khối B chặt 1
hàng keo trồng 1 hàng, chặt 2 hàng trồng 2 hàng, chặt 4 hàng trồng 4 hàng….
Trồng 3 loài sau khi chặt 5 năm, trồng 7 loài sau khi chặt 7 năm. Trong 14
loài cây trồng khối A, có 3 loài S. roxburrghii; S. ovanlis; S. leprosula sinh
trƣởng chiều cao và đƣờng kính tốt nhất. Tỉ lệ sống không khác biệt, sinh
trƣởng chiều cao cây trồng tốt ở băng 10m và băng 40m. Băng 20m không
thỏa mãn điều kiện sinh trƣởng chiều cao. Khối B có tỷ lệ sống, sinh trƣởng
chiều cao tốt khi trồng 1 hàng; sinh trƣởng đƣờng kính tốt cho công thức
trồng 6 và 6 hàng [21].
Ngoài các công trình đã đợc đề cập ở trên, một số công trình nghiên cứu
khác nh trồng rừng dới tán, trồng theo băng, theo rạch dới tán che nhẹ ở các nớc châu Phi và châu Á thực chất cũng nhằm tạo các lâm phần hỗn loài trên cơ
7
Nhìn chung các tác giả đều nhận định rằng khi mật độ lâm phần giảm
sinh trƣởng của cá thể cây rừng đặc biệt là sinh trƣởng đƣờng kính sẽ tăng
mạnh trong khi đó tổng sinh trƣởng của lâm phần lại giảm , không tăng hoặc
tăng rất ít. Sự tăng lên về tông sảng lƣợng do tỉa thƣa có chăng chỉ là từ lƣợng
sản phẩm đƣợc lấy ra từ các lần tỉa thƣa [25].
Nhƣ vậy có thể thấy sự mở rộng không gian dinh dƣỡng làm cho các
cây rừng sinh trƣởng nhanh hơn đặc biệt về dƣờng kính, do đó cơ cấu sản
phẩm sẽ thay đổi đáng kể, tỷ lệ gỗ có kích thƣớc lớn đáp ứng đƣợc nhu cầu
cho công nghiệp gỗ sẻ nhiều hơn. Cùng với nó, các chỉ tiêu có ảnh hƣởng
không nhỏ đến chất lƣợng gỗ nhƣ đƣờng kính tán độ dài tán độ thon đƣờng
kính cành … và các chỉ tiêu về tính chất hóa lý của gỗ cũng thay đổi [35]. Các
nghiên cứu về mói quan hệ giữa các chỉ tiêu hình thái cây với mất độ rất
phong phú. Chẳng hạn, tỉa thua có thể làm tăng chất lƣợng gỗ của một số loài
cây lá rộng nhƣ Quercussp, Esche… nhƣng lại có tác dụng ngƣợc lại với các
loài Pinus silvtris, larix sp… tăng trƣởng đƣờng kính nhanh do tỉa thƣa lƣợng
gỗ rác nhẹ tăng , trong khi lƣợng gỗ lõi lại giảm, do đó chất lƣợng gỗ sẻ lại
giảm đi [25].
Ảnh hƣởng của mật độ đên sự phát triển của tán lá khá rõ rệt. Nghiên
cứu đối tƣợng rừng trồng loài Pinus patula, Julians Evan (1982) cho thấy ở
rừng 19 tuổi chƣa quá tỉa thƣa độ dài tán chỉ là 29% tổng chiều dài thân, trong
khi cũng ở tuổ này rừng đã tỉa thƣa 1 lần vào tuổi 9 chiều dài tán lên tới 40%
chiều dài thân [17] . Đối với diện tích tán, Hunt (1969) đã so sánh ảnh hƣởng
của tỉa thƣa đến lâm phần 22 tƣởi loài Pinus strobus và kết luận: sau 5 năm
tính từ thời điểm tỉa thƣa , tổng trọng lƣợng lá cây của lâm phần qua tỉa thƣa
gấp 3 lần tổng trọng lƣợng lá cây của lâm phần chua tỉa thƣa [25].
Nghiên cứu thực sự khác biệt về độ thƣa của cây ở các lâm phần có mật
bản địa đƣợc lựa chọn để nghiên cứu trồng rừng hỗn loài chủ yếu là các loài
có giá trị kinh tế cao. Một số loài cây bản địa đƣợc lựa chọn cho vùng Tây
9
nguyên và Nam bộ nhƣ: Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Cẩm lai (Dalbergia
oliveri), Căm xe (Xylia xylocarpa), Tếch (Tectona grandis) ... và đƣợc trồng
chủ yếu tại các trạm thực nghiệm Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, Lang Lanh và
Măng Linh tỉnh Lâm Đồng, Ekmat tỉnh Đắc Lắc, Tân Tạo Thành Phố Hồ Chí
Minh. Ở miền Bắc, các loài cây chủ yếu đƣợc lựa chọn để trồng rừng hỗn loài
là Lim xanh (Erythurophleum fordii), Lim xẹt (Peltophorum tonkinnensis),
Giổi xanh (Mechelia mediocris), Re gừng (Cinamomum ilcidioides), Mỡ
(Manglietia conifera), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Lát hoa (Chukrasia
tabularis), Ràng ràng mít (Ormosia balansae), Xoan đào (Prunus arborea),
Vạng trứng (Endospermum chinense) ...
Nguyễn Bá Chất (1995), khi nghiên cứu rừng phục hồi ở Sông Hiếu
(1981 - 1985) đã thí nghiệm gây trồng rừng hỗn loài Lát hoa (Chukrasia
tabularis) với các loài cây bản địa lá rộng khác nhƣ: Lim xẹt (Peltophorum
tonkinnensis), Giổi (Michelia sp), Thôi chanh (Evodia bodinieri), Lõi thọ
(Gmelia arbores) ... nhằm tạo ra cấu trúc hợp lý. Sau 10 năm, kết quả cho
thấy Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn khi trồng thuần loài ...
Trần Ngũ Phƣơng (2000) cũng đã nghiên cứu xây dựng các mô hình
trồng rừng hỗn loài tạo ra rừng nhiều tầng tán nhằm mục đích cho phòng hộ
và sản xuất thông qua các phƣơng thức hỗn loài khác nhau nhƣ hỗn loài giữa
cây cao với cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao. Căn cứ kết quả của các
công trình nghiên cứu các quy luật chủ yếu ở rừng tự nhiên ở miền Bắc Việt
Nam, tác giả đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nƣớc ta đều phân thành
nhiều tầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chƣa kể tầng cây nhỡ và thảm tƣơi. Dựa
trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục
loài 500 cây bản địa + 1000 cây phụ trợ. Khi thực thi có hơn 60 tỉnh thành
phố đã trồngrất nhiều mô hình rừng trồng hỗn loài khác nhau với hơn 70 loài
cây [19].
11
Triệu Văn Hùng (1993) đã nghiên cứu về “Đặc tính sinh vật học của
một số loài cây làm giàu rừng (Trám trắng, Lim xẹt )” có nhận xét: Trong tổ
thành rừng tự nhiên. Trám trắng chỉ đạt trung bình 3,87% về số cây và 6,84%
về chữa lƣợng ô tiêu chuẩn. Xét ở trạng thái rừng IIIA1, Trám trắng chiếm tỷ
lệ cao hơn so với IIIa2. Trong rừng rất hay gặp Trám trắng với một số loài
cây bạn nhƣ Kháo vàng, Giẻ , Lim xẹt, Hu đay, Sau sau, Xoan nhừ, Xoan ta,
Vối thuốc … [3].
Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất khi nghiên cứu đề tài: “xác định cơ
cấu cây trồng và xây dựng quy định hƣớng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài
cây chủ yếu phục vụ chƣơng trình 327” trong 2 năm 1997-1998 đã chọn đƣợc
tập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng đƣợc quy trình, hƣớng dẫn kĩ
thuật cho 20 loài cây nhƣ Lát hoa, muống đen, Trám trắng, Tếch, Dầu
rái….[9].
Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) đã đƣa ra các nghịch lí cơ bản về cây bản
địa trong đó có nêu rõ những khó khăn khi đƣa cây bản địa vào trồng rừng ở
nƣớc ta [10].
Trong báo cáo chuyên đề về cây Huỷnh (Tarrietia javannica Kost), Bùi
Đoàn đã có nhận xét: “Huỷnh đƣợc coi là một trong những cây bản địa chủ
yêu trong công tác trồng rừng ở Nam Trung Bộ, đặc biệt là ở Quảng Bình
[15].
Phùng Ngọc Lan (1994), nghiên cứu một số đặc tính sinh thái loài Lim
xanh đã xác nhận: Vùng phân bố của loài Lim xanh rất rộng và có ở hầu hết
các tỉnh phía bắc nƣớc ta (từ đèo Hải Vân trở ra) với độ cao phân bố từ 900m
kết luận: Phần lớn các xuất sứ Lim xanh đều có tỷ lệ sống cao và sinh trƣởng
tốt đồng thời trồng 34 loài cây bản địa nơi nghiên cứu đã chọn các loài cây
sau đây để đánh giá sinh trƣởng là Re Gừng, Giổi xanh, Xoan đào, Lim xanh,
13
Lim xẹt, Trám trắng, Giẻ cau, Giẻ đỏ, Chiêu liêu, Giổi xanh là những loài cây
mọc nhanh thích ứng nhanh, phát triển tốt, ít bị sâu bệnh có khả năng nhân
rộng và phát triển cho các điều kiện lập địa tƣơng tự [5].
Năm 1994 trong hội thảo về tăng cƣờng các công trình trồng rừng ở
Việt Nam với sự phối hợp giữa Bộ Lâm nghiệp, dự án tăng cƣờng các chƣơng
trình trồng rừng ở Việt Nam (STRAP) và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
(JICA) đã đƣa ra khuyến nghị quan trọng là cần có nhiều thông tin hơn về loài
cây bản địa để cho các địa phƣơng tham khảo và tìm chọn loài cây phục vụ
cho trồng rừng. Nhằm đáp ứng đƣợc phần nào yêu cầu trên, dự án STRAP đã
cùng với Viện khoa học Lâm nghiệp thực hiện một dự án “Xác định các loài
cây bản địa chất lƣợng cao để trồng rừng ở Việt Nam”. Kết quả đã đƣa ra
những thông tin có hệ thống và tổng hợp về 210 loài cây cho gỗ chất lƣợng
cao dùng để làm nhà ở và đồ mộc cao cấp. Qua đó cũng thấy tiềm năng của
cây bản địa ở từng vùng cũng nhƣ trong cả nƣớc rất phong phú nhƣng số cây
đã có kĩ thuật, có mô hình, có khả năng trồng rừng còn quá ít. Do vậy cần
phải đẩy mạnh nghiên cứu thử nghiệm những cây còn lại mới có thể biến
tiềm năng thành hiện thực. Ngoài ra cần tập trung nghiên cứu và phát
triển những cây có giá trị cao để tạo nguồn cây chủ lực cho từng vùng và
cho cả nƣớc [11].
Qua nhiều năm nghiên cứu viện khoa học Lâm nghiệp Việt nam đã đề
xuất trên 100 loài cây bản địa cho các chƣơng trình trồng rừng phục vụ cho cả
3 loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Qua khảo sát dựa vào các
tài liệu đã có và số liệu mới thu thập 31 loài cây bản địa đã đƣợc chọn và có
theo đám. Kết quả sau 4 năm thí nghiệm (2004-2007) cho thấy các loài cây
trồng đều rất có triển vọng, tỷ lệ sống của các loài đều đạt trên 95%. So với
15
phƣơng pháp trồng hỗn loài theo đám thì sinh trƣởng của các loài cây trồng
theo rạch đều tốt hơn [33].
Dự án trồng rừng hỗn loài các loài cây gỗ giá trị cao để cung cấp gỗ và
tăng cƣờng các dịch vụ cộng đồng ở Việt Nam và Australia (2002-2006) đã
thiết lập rừng trồng hỗn loài giữa các loài cây nhập nội và cây bản địa với các
thời điểm hỗn loài khác nhau tại 3 địa điểm: i) Tại Đoan Hùng - Phú Thọ:
trồng cùng thời điểm các loài Bạch đàn urophylla, Giổi xanh, Lát hoa và
Trám trắng; ii) Tại vƣờn quốc gia Tam Đảo: trồng hỗn loài Sấu, Xà cừ, Lim
xanh và Keo lai vào cùng một thời điểm; iii) Tại đèo Hải Vân - Huế tạo rừng
hỗn loài giữa Keo tai tƣợng với Sao đen, Dầu rái và Chò chỉ, trong đó Keo tai
tƣợng đƣợc trồng trƣớc 7 năm sau đó đƣợc chặt theo băng để đa các loài cây
bản địa vào trồng dƣới tán với mật độ 250 cây/ha. Kết quả sau 3 năm cho thấy
các loài cây trồng đều có tỷ lệ sống cao, sinh trƣởng tốt và có nhiều triển
vọng. Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả bƣớc đầu. Mặt khác khi thiết kế xây
dựng mô hình, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài cây cha đƣợc chú ý.
Vì vậy, với các mô hình này cần phải theo dõi để có biện pháp tác động kịp
thời, điều chỉnh sự cạnh tranh giữa các loài, đặc biệt là các loài cây mọc
nhanh nhƣ bạch đàn và Keo lai, tạo điều kiện để mô hình sinh trƣởng, phát
triển bình thƣờng.
Cũng trên nền tảng là rừng Thông đuôi ngựa trồng thuần loài tại Núi
Luốt - Xuân Mai, Trƣờng Đại học Lâm nghiệp đã nghiên cứu tạo rừng hỗn
loài Thông đuôi ngựa với một số loài cây lá rộng bản địa. Cách tạo rừng trồng
hỗn loài ở đây là thông qua việc đa thêm các loài cây lá rộng bản địa vào
trồng dƣới tán rừng Thông đuôi ngựa theo các thời điểm khác nhau. Rừng