BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
TRẦN VĂN CHUNG
PHAN VĂN BÁU
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ MẮC HỘI CHỨNG/BỆNH
PARKINSON, TAI NẠN THƯƠNG TÍCH VÀ GIẢI PHÁP
PHÒNG NGỪA Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI MỘT SỐ
QUẬN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
: Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế
Mã số
: 62 72 01 64
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Hà Nội – 2018
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI HỌC VIỆN QUÂN YHỌC VIỆN QUÂN
Y
Hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. Lê Anh Tuấn
2. PGS.TS. Lương Thuý HiềnPGS.TS.Nguyễn
Tùng Linh
Parkinson là 57/100.000 dân. Dự báo tuổi thọ con người ngày
càng tăng, tỷ lệ mắc bệnh Parkinson cũng tăng theo
Người mắc hội chứng/bệnh Parkinson đều bị ảnh hưởng rất lớn
đến lao động và sinh hoạt hàng ngày; đồng thời hay bị tai nạn
thương tích, như té ngã gây chấn thương sọ não, gãy tay, gãy
chân... Cho đến nay, việc điều trị bệnh Parkinson vẫn gặp nhiều
khó khăn. Đề tài luận án: “Nghiên cứu tỷ lệ mắc hội chứng/bệnh
Parkinson, tai nạn thương tích và giải pháp phòng ngừa ở
người cao tuổi tại một số quận của thành phố Hà Nội ” với các
mục tiêu:
1) Xác định tỷ lệ mắc hội chứng/bệnh Parkinson ở người
cao tuổi tại một số quận của Hà Nội, năm 2010.
2) Xác định tỷ lệ tai nạn thương tích do ngã ở người cao
tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson và một số yếu tố liên quan,
năm 2010.
3) Đánh giá hiệu quả bước đầu một số giải pháp chăm sóc
sức khoẻ, dự phòng tai nạn thương tích cho người cao tuổi mắc
hội chứng/bệnh Parkinson tại hai phường của quận Hoàng Mai,
Hà Nội (2011-2013).
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Ý nghĩa khoa học của đề tài: Đã mô tả được tỷ lệ mắc hội
chứng/bệnh Parkinson ở người cao tuổi qua khám sàng lọc và
khám lâm sàng tại 7 quận của Hà Nội năm 2010; Xác định được
tỷ lệ tai nạn thương tích và một số yếu tố liên quan ở người mắc
2
hội chứng/bệnh Parkinson; Đánh giá được hiệu quả một số giải
pháp can thiệp chăm sóc sức khoẻ, dự phòng tai nạn thương tích
cho người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson tại 2 phường
1.1. Một số khái niệm, đặc điểm lâm sàng và phân loại hội
chứng/bệnh Parkinson
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
- Bệnh Parkinson là bệnh lý thoái hóa, nguồn gốc chưa rõ,
đặc trưng bởi quá trình thoái hóa tuần tiến nơron dopaminergic
thể nhạt-liềm đen gây mất cân bằng về sinh hóa và chức năng hệ
thống ngoại tháp.
- Hội chứng Parkinson là hội chứng gồm các triệu chứng run,
giảm vận động và cứng cơ do các nguyên nhân khác nhau. Bệnh
Parkinson là hội chứng Parkinson do thoái hóa não.
- Tai nạn thương tích (TNTT) là những tai nạn xảy ra mà nó
để lại cho cơ thể chúng ta những vết thương có thể tạm thời hoặc
vĩnh viễn.
- TNTT do ngã là những trường hợp tai nạn gây thương tích
mà nguyên nhân do bị ngã, rơi từ trên cao xuống hoặc ngã trên
cùng mặt bằng.
1.1.2. Đặc điểm lâm sàng hội chứng/bệnh Parkinson
Bệnh Parkinson được biểu hiện bằng ba triệu chứng cơ bản
là: (1) Run khi nghỉ; (2) Tăng trương lực cơ; (3) Giảm vận động.
Từ ba triệu chứng này gây nên các triệu chứng thứ phát như rối
loạn tư thế (đi lao đầu về trước, nét mặt tượng…), rối loạn giọng
nói, chữ viết. Các triệu chứng kèm theo có thể có: Trầm cảm, ảo
giác; Rối loạn thần kinh thực vật: tăng tiết, giãn mạch ngoại vi,
táo bón…
1.1.3. Phân loại hội chứng/bệnh Parkinson
Fahn S. phân chia hội chứng Parkinson thành 4 nhóm: (1)
Hội chứng Parkinson nguyên phát; (2) Hội chứng Parkinson thoái
hóa đa hệ; (3) Hội chứng Parkinson di truyền; (4) Hội chứng
Parkinson thứ phát (mắc phải, triệu chứng). Hauser R. và cs. phân
(năm 1979); 7,2% (1989); 8,2% (1999); 9,2% (2009) và 10,94%
(2016). Dự báo người cao tuổi cả nước sẽ tăng từ 9,2% dân số
năm 2009 (7,92 triệu), lên 17% dân số năm 2029 (16,14 triệu);
đến năm 2039 tỷ lệ này sẽ là 20,49%. Tỷ lệ người cao tuổi tăng
cũng đồng nghĩa là tăng tỷ lệ người mắc hội chứng/bệnh
Parkinson trong cộng đồng. Do vậy, việc điều tra dịch tễ học, tìm
hiểu biện pháp điều trị dự phòng cho người bệnh Parkinson là một
nhiệm vụ của ngành y tế.
1.2.2. Một số yếu tố liên quan đến hội chứng/bệnh Parkinson
Cho đến nay bệnh Parkinson nguyên phát vẫn được coi là chưa
rõ nguyên nhân, Lê Đức Hinh đã nêu các giả thiết về bệnh Parkinson
5
như: Phần lớn các trường hợp không rõ, thường hướng tới nguyên
nhân do virus, tự miễn, sự lão hóa; di truyền; môi trường và một
số yếu tố khác...
1.3. Tình hình tai nạn thương tích và nhu cầu chăm sóc sức
khoẻ ở người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
1.3.1. Tình hình tai nạn thương tích ở người cao tuổi mắc hội
chứng/bệnh Parkinson
1.3.1.1. Trên thế giới
Rất ít các nghiên cứu công bố số liệu về tỷ lệ tai nạn thương
tích và tỷ lệ tai nạn thương tích do ngã ở người cao tuổi mắc hội
chứng/bệnh Parkinson. Hàng năm có hơn 1/3 số ngươì ở độ tuổi
65 trở lên bị TNTT do ngã, đối với NCT, ngã là nguyên nhân dẫn
đến tử vong do chấn thương. Trong số các trường hợp ngã thì có
20 - 30% tai nạn thương tích mức độ trung bình và nặng như gãy
xương đùi hoặc chấn thương sọ não dẫn đến giảm vận động và tàn
tật, làm tăng nguy cơ tử vong. Những người trên 75 tuổi bị ngã 4 5 lần thường phải chăm sóc kéo dài trong nhiều năm và rất tốn
nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, dự phòng tai nạn
thương tích cho người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson tại
cộng đồng. đối với người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
thì nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, dự phòng tai nạn thương tích cần
phải toàn diện và và tỷ mỷ hơn các đối tượng người cao tuổi khác
vì tỉnh chất bệnh lý của hội chứng /bệnh làm cho người bệnh giảm
vận động, rốu loạn cảm giác, tinh thần, trí tuệ, ngôn ngữ và các
chức năng khác…
1.4. Các biện pháp phòng tránh TNTT và phục hồi chức năng
cho người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
1.4.1. Các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho
người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
1.4.1.1. Xây dựng gia đình và cộng đồng an toàn, phòng tránh tai
nạn thương tích
1.4.1.2.Phòng tránh tai nạn do ngã
1.4.2. Các phương pháp phục hồi chức năng cho người cao
tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
1.4.2.1. Các yêu cầu của phương pháp phục hồi chức năng
1.4.2.2. Các bài tập phục hồi chức năng.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
7
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: Người cao tuổi: Những người từ
đủ 60 tuổi trở lên trong các hộ gia đình thuộc địa bàn nghiên cứu.
Người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson được khám, chẩn
đoán xác định và đánh giá các triệu chứng bệnh. Người thân của
người cao tuổi: Mỗi người cao tuổi chọn một người thân trong gia
2: Đối tượng nghiên cứu là 124 người cao tuổi sau; chọn 249
người cao tuổi không mắc hội chứng/bệnh Parkinson làm nhóm
đối chứng (theo tỷ lệ 2 chứng, 1 bệnh) theo phương pháp cổng
liền cổng; chọn 124 người thân của người cao tuổi mắc hội
chứng/bệnh Parkinson và chọn có chủ đích 65 cán bộ y tế, cán bộ
chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng động tại 14
phương thuộc 7 quận được chọn để điều tra tỷ lệ mắc hội
chứng/bệnh Parkinson ở người cao tuổi. Cỡ mẫu và chọn mẫu
mục tiêu 3: 32 Người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson,
người nhà bệnh nhân và toàn bộ cán bộ, nhân viên y tế của 2
phường Định Công và Yên Sở thuộc quận Hoàng Mai.
2.2.3. Các biến số, chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu 1: Tỷ lệ người cao tuổi điều tra sàng lọc theo giới
tính và nhóm tuổi; tỷ lệ người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh
Parkinson theo giới tính, nhóm tuổi, thời gian mắc bệnh, triệu
chứng ban đầu, theo rối loạn vận động, rối loạn tâm thần, rối loạn
thần kinh thực vật,…Mục tiêu 2: Mối liên quan giữa tỷ lệ tai nạn
thương tích giữa nhóm bệnh (mắc hội chứng/bệnh Parkinson) và
nhóm chứng (không mắc hội chứng bệnh/Parkinson); xác định
mối liên quan giữa giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, mức độ
bệnh lý với tai nạn thương tích ở nhóm bệnh và nhóm chứng,…
Tỷ lệ % ý kiến của nhân viên y tế tại 14 phường nghiên cứu về
theo dõi sức khoẻ, tai nạn thương tích, chăm sóc sức khoẻ cho
người cao tuổi và người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
tại trạm y tế phường và cộng đồng. Mục tiêu 3: Chỉ số hiệu quả
(trước và sau can thiệp) các biện pháp quản lý, theo dõi sức khoẻ,
khám chữa bệnh, phòng ngừa tai nạn thương tích, hỗ trợ chuyển
tuyến, giáo dục sức khoẻ, sắp xếp đồ đcj trong gia đình, nơi sinh
hoạt, đảm bảo an toan trong sinh hoạt, đi lại hàng ngày… cho
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tỷ lệ mắc hội chứng/bệnh Parkinson ở người cao tuổi tại
một số quận nội thành của Hà Nội, năm 2010
3.1.1. Tỷ lệ mắc hội chứng/bệnh Parkinson ở người cao tuổi tại
7 quận nội thành của Hà Nội, năm 2010
10
- Phân bố nhóm tuổi và giới tính của người cao tuổi được
điều tra sàng lọc mắc hội chứng/bệnh Parkinson (n=20.173):
Trong tổng số 20.173 NCT được điều tra sàng lọc hội
chứng/bệnh Parkinson tại 14 phường thuộc 7 quận thành phố Hà
Nội của Sở Y tế Hà Nội, năm 2010 cho thấy: có 10.376 nam
chiếm 51,4% và 9.797 nữ chiếm 48,6%. Đối tượng nghiên cứu ở
độ tuổi 60 - 64 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 33,8%, tiếp đến là độ tuổi
65 - 69
- Tỷ lệ người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson theo
giới tính và theo nhóm tuổi (n=20.173): Tỷ lệ NCT được điều tra
mắc hội chứng/bệnh Parkinson là 0,61%, trong đó tỷ lệ mắc ở
nam giới là 0,69% và ở nữ giới là 0,53%. Sự khác biệt là không
có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tỷ lệ mắc hội chứng/bệnh
Parkinson tăng dần theo nhóm tuổi, tỷ lệ mắc thấp nhất ở nhóm
60 - 64 tuổi (0,26%) và cao nhất ở nhóm ≥85 tuổi là 2,26%.
Bảng 3.3. Phân bố người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh
Parkinson theo giới tính và theo nhóm tuổi (n=124)
Nam
Nữ
Chung
Nhóm
(n =72)
16,9
75 - 79
17
23,6
13
25,0
30
24,2
80 - 84
13
18,1
9
17,3
22
17,7
≥ 85
12
16,7
4
7,7
16
12,9
Cộng
72
58,1
52
41,9
124
100,0
Người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson được phân bố
NCT nam có nguy cơ mắc hội chứng/bệnh Parkinson cao
hơn NCT nữ gấp 1,34 lần, tuy nhiên sự khác biệt giữa hai tỷ lệ là
không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa độ tuổi của người cao tuổi
với hội chứng/bệnh Parkinson
Không
Nhóm Mắc
OR
mắc
Cộng
p
tuổi
bệnh
(95%CI)
bệnh
65 (+)
106
13.257
13.363
OR=3,02
0,000a
Cộng
79 21,2 294 78,7 373 100
12
Tỷ lệ bị tai nạn thương tích ở nhóm người cao tuổi bị bệnh
(mắc hội chứng/bệnh Parkinson) là 47,6% cao hơn so với nhóm
chứng (không mắc hội chứng/bệnh Parkinson) là 8,0% (OR = 10,
CI95%:5,6-19,9); p
16
Cộng
59
65
124
Có mối liên quan giữa độ tuổi với TNTT ở nhóm mắc hội
chứng/bệnh Parkinson: Người có độ tuổi từ 65 tuổi trở lên có
nguy cơ bị TNTT cao hơn người có độ tuổi từ 60-64 tuổi gấp 9,31
lần, với p
TNTT cho NCT mắc hội chứng/bệnh Parkinson tại 14 phường
nghiên cứu
- Ý kiến của NVYT phường về theo dõi, quản lý và nhu cầu
của người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson (n = 65): Có
97% (63/65) cán bộ y tế biết tại phường có NCT mắc hội
chứng/bệnh Parkinson. Tỷ lệ NCT mắc hội chứng/bệnh Parkinson
đến khám và điều trị tại trạm y tế phường là 63,1%.
Tỷ lệ trạm y tế phường có theo dõi, quản lý NCT mắc hội
chứng/bệnh Parkinson là 46,2%. Có 22 NVYT phường cho rằng có
cấp phát thuốc điều trị cho BN tại trạm y tế, còn lại chủ yếu là
hướng dẫn NCT mắc hội chứng/bệnh Parkinson cách tự chăm sóc,
an uống vệ sinh (72,3%) và hướng dẫn luyện tập phục hồi chức
năng (75,4%).
Tỷ lệ NVYT phường được tập huấn về công tác chăm sóc,
quản lý NCT mắc hội chứng/bệnh Parkinson là 27,7%.
14
- Ý kiến của NVYT phường về biện pháp nâng cao hiệu
quả chăm sóc NCT mắc hội chứng/bệnh Parkinson (n = 65):
Trong 7 biện pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc NCT mắc hội
chứng/bệnh Parkinson tại cộng đồng (qua ý kiến của NVYT 14
trạm y tế phường): biện pháp phát hiện sớm chiếm tỷ lệ cao nhất
(40,0%), giáo dục sức khỏe (38,5%), hướng dẫn chăm sóc (33,85),
chăm sóc, PHCN (27,7%); các biện pháp khác có tỷ lệ thấp (< 20%
ý kiến).
3.3. Đánh giá hiệu quả bước đầu một số giải pháp chăm sóc
sức khoẻ, dự phòng TNTT cho NCT mắc hội chứng/bệnh
Parkinson tại một số phường của quận Hoàng Mai, Hà Nội
(2011 - 2013)
(p
Parkinson bị ngã
11
9
5
trong năm (người)
Giảm 2,2
lần
Tỷ lệ người bệnh
Parkinson bị ngã
34,3
28,1
15,6
trong năm (%)
p1,2= 0,309a
So sánh
p1,3= 0,226a
Bảng 3.45 cho thấy: tỷ lệ người mắc hội chứng /bệnh
Parkinson bị ngã trong năm giảm dần qua các năm: năm 2010, tỷ
lệ người bệnh ngã là 34,3%, năm 2011 là 28,1% và năm 2012 là
15,6%. Số người bệnh bị ngã năm 2012 so với năm 2010 giảm 2,2
17
lần. Tỷ lệ người bệnh Parkinson bị ngã giảm dần theo các năm,
tuy nhiên sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Về tỷ lệ mắc hội chứng/bệnh Parkinson ở người cao tuổi
tại một số quận nội thành của Hà Nội, năm 2010
4.1.1. Tỷ lệ lưu hành hội chứng/bệnh Parkinson ở người cao
Kết quả trên thấp hơn kết quả nghiên cứu của Chong Tin
Tan, thấy rằng run và vận động chậm là triệu chứng chủ yếu sớm
gặp ở 82,0% và 84,0% số bệnh nhân, 12,0% chỉ có run đơn thuần,
72,0% có cả hai triệu chứng run và vận động chậm. Có thể có một
nửa số bệnh nhân run theo tư thế. Run điển hình là run khi nghỉ ở
ngón cái và cổ tay, hầu như không bao giờ xảy ra ở đầu khi nói.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả
nghiên cứu của Nhữ Đình Sơn với các triệu chứng gợi ý sớm hay
gặp nhất gồm: vận động khó (59,6%); đau đầu (64,5%), mỏi mệt
chóng mặt (61,4%), khô miệng (40,4%), dị cảm đầu chi (20,2%)
và tăng tiết (18,4%).
* Các triệu chứng cổ điển: Hiện nay, các tác giả đều cho
rằng bệnh Parkinson được biểu hiện bằng ba hội chứng cơ bản là
run khi nghỉ với tần số 4 - 8 chu kỳ/giây, biên độ nhỏ và vừa; tăng
trương lực cơ và giảm vận động. Từ ba triệu chứng này gây nên
các triệu chứng thứ phát như rối loạn tư thế (đi lao đầu về trước,
nét mặt tượng…), rối loạn giọng nói, rối loạn chữ viết. Pagano và
cs với nghiên cứu trong 422 bệnh nhân chia làm 4 nhóm độ tuổi
(<50, 50-60, 60-70 và >70) chỉ ra rằng tuổi tác ảnh hưởng trực
tiếp tới diễn biến của bệnh Parkinson. Thêm vào đó, trong số 422
bệnh nhân, 80% có những biểu hiện sớm nhất là rối loạn cơ ở tay
được thấy rõ nhất. Theo các tác giả như Nguyễn Chương và
Dương Văn Hạng trong cuốn Bài giảng nội thần kinh - Học viện
Quân y, triệu chứng cơ bản của bệnh Parkinson là hội chứng run,
giảm động, tăng trương lực cơ và đặc điểm lâm sàng chính của
bệnh Parkinson là tam chứng rối loạn vận động, rối loạn thần kinh
thực vật, và rối loạn cảm xúc. Hauser R. A. và cs. đưa ra bốn triệu
chứng chính của hội chứng Parkinson là run lúc nghỉ, tăng trương
lực cơ, giảm vận động và tư thế bất an. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cũng hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của các tác giả
60-64 tuổi chỉ có 3,42 lần, với p>0,05.
4.2.2. Về một số yếu tố liên quan đến chăm sóc sức khỏe, dự
phòng tai nạn thương tích cho người cao tuổi mắc hội
chứng/bệnh Parkinson tại 14 phường của quận Hoang Mai
Bệnh Parkinson là một bệnh thoái hóa của hệ thần kinh, tiến
triển chậm, là bệnh mạn tính và có liên quan đến vai trò của các
chất dẫn truyền thần kinh. Bệnh có ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt
trong cuộc sống của người bệnh. Nếu chỉ sử dụng một biện pháp
20
duy nhất và điều trị dược lý hoặc tiến hành các phương pháp phẫu
thuật hiện đại cũng không thể nào giải quyết được tất cả các vấn
đề ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng lao động và sinh hoạt của
người bệnh. Do đó, cần phải nghiên cứu ứng dụng các biện pháp
chiến lược khác trong công tác điều trị bệnh nhân Parkinson để bổ
sung và hỗ trợ cho các phương pháp điều trị nội khoa và ngoại
khoa.
4.3. Về đánh giá hiệu quả bước đầu một số giải pháp chăm sóc
sức khoẻ, dự phòng tai nạn thương tích cho người cao tuổi
mắc hội chứng/bệnh Parkinson tại một số phường của quận
Hoàng Mai, Hà Nội (2011 - 2013)
4.3.1. Về hiệu quả giải pháp quản lý, chăm sóc, theo dõi sức
khỏe cho người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh parkinson tại hai
phường, quận Hoàng Mai (2011-2013)
Các biện pháp quản lý, theo dõi sức khỏe cho người bệnh
Parkinson cho thấy hiệu quả rất cao: Sau can thiệp 100% người
bệnh đều có sổ quản lý, theo dõi, chăm sóc sức khỏe; được KSK
tổng quát lần đầu; được CBYT phường đến thăm gia đình để
CSSK và KCB 1lần/tuần; được khám sức khỏe định kỳ 6
nắp, hợp lý dự phòng TNTT do ngã đối với người bệnh Parkinson
sau can thiệp đều tăng hơn so với trước can thiệp (p