BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
TRẦN VĂN CHUNG
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ MẮC
HỘI CHỨNG/BỆNH PARKINSON, TAI NẠN THƯƠNG TÍCH
VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA Ở NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI MỘT SỐ QUẬN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2018
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục hình
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm, đặc điểm lâm sàng và phân loại hội
1
1.4. Các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích và phục hồi chức
24
30
năng cho người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
1.4.1. Các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho người cao tuổi
30
mắc hội chứng/bệnh Parkinson
1.4.2. Các phương pháp phục hồi chức năng cho người cao tuổi mắc hội
35
chứng/bệnh Parkinson
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, chất liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
40
40
40
2.1.2. Chất liệu nghiên cứu
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu
2.1.4. Thời gian nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
của Hà Nội, năm 2010
3.1.2. Một số đặc điểm lâm sàng của NCT mắc hội chứng/bệnh Parkinson
3.2. Xác định tỷ lệ tai nạn thương tích do ngã ở người cao tuổi mắc
66
73
hội chứng/bệnh Parkinson và một số yếu tố liên quan, năm 2010
3.2.1. Đặc điểm tai nạn thương tích và tai nạn thương tích do ngã liên
73
quan tới hội chứng/bệnh Parkinson ở người cao tuổi tại 7 quận nghiên
cứu
3.2.2. Một số yếu tố liên quan đến chăm sóc sức khỏe, dự phòng tai nạn
82
thương tích cho người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson tại 14
phường của quận Hoàng Mai
3.3. Đánh giá hiệu quả bước đầu một số giải pháp chăm sóc sức khoẻ,
dự phòng tai nạn thương tích cho người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh
Parkinson tại một số phường của quận Hoàng Mai, Hà Nội (2011 2013)
86
3.3.1. Hiệu quả giải pháp quản lý, chăm sóc, theo dõi sức khỏe cho người
86
chứng/bệnh Parkinson
4.2. Về tỷ lệ tai nạn thương tích do ngã ở người cao tuổi mắc hội
107
chứng/bệnh Parkinson và một số yếu tố liên quan, năm 2010
4.2.1. Đặc điểm tai nạn thương tích và tai nạn thương tích do ngã liên
107
quan tới hội chứng/bệnh Parkinson ở người cao tuổi tại 7 quận nghiên
cứu
4.2.2. Về một số yếu tố liên quan đến chăm sóc sức khỏe, dự phòng tai
111
nạn thương tích cho người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson tại 14
phường của quận Hoang Mai
4.3. Về đánh giá hiệu quả bước đầu một số giải pháp chăm sóc sức
114
khoẻ, dự phòng tai nạn thương tích cho người cao tuổi mắc hội
chứng/bệnh Parkinson tại một số phường của quận Hoàng
Mai, Hà Nội (2011 - 2013)
4.3.1. Về hiệu quả giải pháp quản lý, chăm sóc, theo dõi sức khỏe cho
114
124
126
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Tỷ lệ mắc hội chứng và bệnh Parkinson theo nhóm tuổi ở
14
3.1
châu Âu, năm 2000.
Phân bố nhóm tuổi và giới tính của người cao tuổi được điều
63
3.2
tra sàng lọc mắc hội chứng/bệnh Parkinson
Tỷ lệ người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson theo giới
64
3.3
tính và theo nhóm tuổi
chứng ban đầu
Đặc điểm rối loạn vận động của người cao tuổi mắc hội
68
3.9
chứng/bệnh Parkinson
Mức độ rối loạn tâm thần, rối loạn hành vi khí sắc ở người
70
3.10
cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
Mức độ trầm cảm ở người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh
71
Parkinson dài.
3.11
Mức độ suy giảm nhận thức (MMSE) ở người cao tuổi mắc
71
hội chứng/bệnh Parkinson
Bảng
(không mắc hội chứng/bệnh Parkinson)
Mối liên quan giữa độ tuổi với tai nạn ở nhóm mắc hội
75
3.18
3.19
chứng/bệnh Parkinson
Mối liên quan giữa độ tuổi với tai nạn ở nhóm chứng
Phân bố theo giới ở đối tượng có tai nạn của hai nhóm (bệnh
75
76
3.20
và chứng)
Mối liên quan giữa trình độ học vấn với tai nạn ở nhóm mắc
76
3.21
hội chứng/bệnh Parkinson
Mối liên quan giữa trình độ học vấn với tai nạn ở nhóm
77
81
3.27
nhóm chứng
Nơi xử trí sơ cấp cứu, điều trị cho NCT mắc hội chứng/bệnh
81
3.28
3.29
Parkinson bị TNTT
Mức độ di chứng do TNTT ở nhóm bệnh
Ý kiến của NVYT phường về theo dõi, quản lý và nhu cầu
82
82
3.30
của người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
Ý kiến của NVYT phường về biện pháp nâng cao hiệu quả
83
3.31
chăm sóc NCT mắc hội chứng/bệnh Parkinson
Ý kiến của NVYT phường về khám sức khỏe định kỳ và
87
3.36
biện pháp phòng ngừa TNTT, PHCN cho người bệnh tại nhà
Hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ khi người bệnh cần phải
88
3.37
chuyển lên tuyến trên để điều trị
Hiệu quả của các biện pháp truyền thông - Giáo dục sức khỏe
89
3.38
cho người bệnh
Hiệu quả của các biện pháp sắp xếp các đồ đạc ngăn nắp,
90
hợp lý đối với người bệnh
Bảng
Tên bảng
3.39
Hiệu quả của biện pháp sử dụng tủ cạnh giường và xếp đặt
91
3.44
can, cầu thang đối với người bệnh
Hiệu quả của các biện pháp thực hành phòng ngừa TNTT do
96
3.45
ngã đối với người bệnh
So sánh tỷ lệ người bệnh Parkinson bị TNTT do ngã,
97
4.1
trước và sau can thiệp
Tỷ lệ bệnh nhân mắc hội chứng/bệnh Parkinson theo tuổi
99
4.2
so với các kết quả nghiên cứu khác
Tình hình lưu hành hội chứng/bệnh Parkinson ở 7 quận nội
100
thành Hà Nội so với các nước trên thế giới
chứng/bệnh Parkinson
Đặc điểm rối loạn thần kinh thực vật ở người cao tuổi mắc
70
3.5
hội chứng/bệnh Parkinson
Nguyên nhân bị tai nạn thương tích ở hai nhóm đối tượng
78
mắc và không mắc hội chứng/bệnh Parkinson theo giới
DANH MỤC HÌNH
Hình
1.1
2.1
2.2
Tên hình
Phân loại hội chứng Parkinson theo Hauser R. và cs
Sơ đồ tổng quát các nội dung nghiên cứu
Sơ đồ thiết kế nghiên cứu can thiệp
Trang
7
42
dopamin sau 3 năm chỉ có tác dụng không tới 50% tổng số bệnh nhân [34].
Sau 5 - 10 năm đầu mắc bệnh là khoảng thời gian dao động và xuất hiện nhiều
2
tác dụng không mong muốn. Dần dần người bệnh trở nên tàn phế, không còn
khả năng tự phục vụ.
Hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 5 triệu người chết do tai nạn
thương tích. Trong đó, ngã gây thương tích chiếm từ 27- 35%. Đối với những
người trên 65 tuổi, tần suất ngã cao hơn so với những người trẻ tuổi và
thường gây hậu quả gãy xương đùi (có từ 50 - 60% số người cao tuổi ngã có
gẫy xương đùi) [115], [45].
Ở Việt Nam, tai nạn thương tích đang dần trở thành một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại các bệnh viện. Bình quân mỗi ngày có
khoảng 30 người chết và 70 người bị thương gây tàn tật suốt đời. Hàng năm
có hơn 1/3 số người trên 65 tuổi bị tai nạn thương tích do ngã và là nguyên
nhân dẫn đến tử vong do chấn thương, có tới trên 60% người trên 75 tuổi tử
vong do ngã. Các tai nạn thương tích ở người cao tuổi có nhiều nguyên nhân,
nhưng chủ yếu là do giảm trí nhớ, mắc hội chứng/bệnh Parkinsơn và các tổn
thương thần kinh sau tai biến mạch máu não [18]. Xuất phát từ những lý do
trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tỷ lệ mắc hội
chứng/bệnh Parkinson, tai nạn thương tích và giải pháp phòng ngừa ở
người cao tuổi tại một số quận của thành phố Hà Nội”, nhằm các mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ mắc hội chứng/bệnh Parkinson ở người cao tuổi tại
một số quận của Hà Nội, năm 2010.
2. Xác định tỷ lệ tai nạn thương tích do ngã ở người cao tuổi mắc hội
chứng/bệnh Parkinson và một số yếu tố liên quan, năm 2010.
3. Đánh giá hiệu quả bước đầu một số giải pháp chăm sóc sức khoẻ, dự
phòng tai nạn thương tích cho người cao tuổi mắc hội chứng/bệnh Parkinson
tại hai phường của quận Hoàng Mai, Hà Nội (2011-2013).
4
những triệu chứng quan trọng nhất. Tăng trương lực cơ quá mức thường thấy
ở các cơ chống đối với trọng lực, do đó, bệnh nhân (BN) thường có tư thế nửa
gấp, tăng phản xạ tư thế, giai đoạn sau có dấu hiệu bánh xe răng cưa do tăng
trương lực cơ lan tràn. Triệu chứng căng cứng thường là triệu chứng sớm
nhất. Căng cứng làm cho triệu chứng giảm động trở nên nặng hơn; (3) Triệu
chứng giảm động: mất các động tác tự nhiên của nét mặt, của chân, tay nhất là
khi cử động. Mất vẻ biểu lộ tình cảm, nét mặt như người mang mặt nạ, ít chớp
mắt. Tuy nhiên, đôi mắt vẫn còn linh hoạt. Trong lâm sàng có khi chỉ có triệu
chứng này mà không có run và tăng trương lực cơ.
- Các triệu chứng khác: Rối loạn cảm giác (thường có loạn cảm giác
đau, nóng bức). Rối loạn phản xạ (tăng phản xạ gân xương, không có phản xạ
bệnh lý bó tháp). Rối loạn thần kinh thực vật (tăng tiết, phù, tím tái ngọn chi,
hạ huyết áp tư thế). Rối loạn tâm thần (có thể trầm cảm). Song, trí tuệ còn tốt
và mắt không có rung giật nhãn cầu [33].
Giáo trình Thần kinh học - Học viện Quân y (2011) [14], Nhữ Đình
Sơn mô tả triệu chứng lâm sàng điển hình bệnh Parkinson biểu hiện bằng ba
triệu chứng cơ bản: (1) Run khi nghỉ: thấy rõ ở ngọn chi, môi, lưỡi... Run là
triệu chứng thường gặp; (2) Cứng đơ: là một trong các triệu chứng quan trọng
nhất... Triệu chứng căng cứng thường là triệu chứng sớm nhất; (3) Giảm vận
động: mất các động tác tự nhiên của nét mặt, chân, tay nhất là khi cử động...
Có khi chỉ có triệu chứng này mà không có triệu chứng run và cững đơ. Do
vậy, giảm vận động là triệu chứng có ý nghĩa nhất trong việc theo dõi tác
động của điều trị, sự tiến triển của tổn thương liềm đen. Từ ba triệu chứng này
gây nên các triệu chứng thứ phát như rối loạn tư thế (đi lao đầu về trước, nét
mặt tượng…), rối loạn giọng nói, chữ viết. Các triệu chứng kèm theo có thể
có: Trầm cảm, ảo giác; Rối loạn thần kinh thực vật: tăng tiết, giãn mạch ngoại
vi, táo bón… Tuy nhiên, không phải tất cả các BN và các giai đoạn của bệnh
hay được chẩn đoán rất có thể là bệnh Parkinson.
Đối với bước thứ hai, vốn rất quyết định vì nó xác định là có hay không
6
có bệnh Parkinson, tiêu chuẩn chẩn đoán của MDS đưa ra ba nhóm các điểm
đặc trưng về chẩn đoán mà dựa theo đó có thể xác định chẩn đoán bệnh
Parkinson: tiêu chuẩn loại trừ tuyệt đối bệnh Parkinson; dấu hiệu cảnh báo
vốn khi hiện diện thì đòi hỏi phải được cân bằng bởi các tiêu chuẩn hỗ trợ thì
mới có thể chẩn đoán là bệnh Parkinson; tiêu chuẩn hỗ trợ bao gồm những
điểm đặc trưng làm tăng độ tin cậy của chẩn đoán bệnh Parkinson.
Về tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng Parkinson: so với tiêu chuẩn chẩn
đoán trước kia của Hội bệnh Parkinson Anh Quốc, tiêu chuẩn chẩn đoán lâm
sàng hội chứng Parkinson của MDS chỉ cần triệu chứng chậm cử động có
kèm theo ít nhất là một trong hai tiêu chuẩn sau gồm có run lúc nghỉ và đơ
cứng. Tiêu chuẩn mất cân bằng tư thế bị loại bỏ do bởi triệu chứng này chỉ
xuất hiện khi bệnh đã tiến triển khá lâu nên không giúp ích cho việc chẩn
đoán sớm bệnh Parkinson [94].
Triệu chứng cử động chậm bào gồm cả hai phương diện gồm có tốc độ
chậm và biên độ giảm của cử động.
Về tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Parkinson: sau khi đã xác định có hội
chứng Parkinson, bước thứ hai là áp dụng các tiêu chuẩn của MDS để xem
bệnh Parkinson có phải là nguyên nhân của hội chứng Parkinson hay không?
Theo MDS, chẩn đoán lâm sàng bệnh Parkinson có thể thuộc một trong hai
mức độ tin cậy:
+ Chẩn đoán lâm sàng chắc chắn là bệnh Parkinson đòi hỏi phải có 3
điều kiện: (1) không có sự hiện diện của tiêu chuẩn loại trừ tuyệt đối bệnh
Parkinson; (2) Có ít nhất hai tiêu chuẩn hỗ trợ chẩn đoán; (3) Không có tiêu
chuẩn cảnh báo.
+ Chẩn đoán lâm sàng rất có thể là bệnh Parkinson cần có 2 điều kiện :
vân- liềm đen
Thoái hóa
nhân nền não
Ứ nước
trong não
Hội chứng
Shy- Drager
Thoái hóa
đa hệ
Nhiễm
độc
Liệt trên nhân
tiến triển
Hội chứng
Shy- Drager
Chấn thương
sọ não
Đột
quỵ
Thoái hóa
nhân trám
4,7% (75-84 tuổi) và 2,9% (≥ 85 tuổi); đối với hội chứng Parkinson tỷ lệ lưu
hành tương ứng là 0,7%; 2,0% và 3,9%. Năm 2003, Benito-Leon J. và cs. [36]
điều tra tỷ lệ mắc bệnh Parkinson và hội chứng Parkinson ở người cao tuổi
(trên 60 tuổi) tại 3 địa điểm: vùng đô thị ở Greater Madrid (Margaritas,
9
Getafe), vùng nông thôn (Arevalo County, Avila) và quận ở Madrid (Lista) (n
= 5.278) cho thấy: có 118 BN có hội chứng Parkinson: 81 BN Parkinson
nguyên phát (68,6%), 26 BN mắc hội chứng Parkinson do thuốc (22,0%), 6
BN mắc hội chứng Parkinson do sa sút trí tuệ (5,1%), 3 BN có hội chứng
Parkinson do rối loạn tuần hoàn não (2,5%) và 2 BN mắc hội chứng
Parkinson không đặc hiệu (1.7%). Kết quả còn cho thấy: tỷ lệ lưu hành cho tất
cả các loại hội chứng Parkinson là 2,2% (khoảng tin cậy 95% 1,8-2,6) và cho
bệnh Parkinson là 1,5% (khoảng tin cậy 95% là 1,2-1,8). Tỷ lệ lưu hành hội
chứng/bệnh Parkinson tăng lên theo tuổi, nhưng giảm xuống từ lứa tuổi >85
tuổi, có 23 BN (28,4%) mắc bệnh Parkinson không được chẩn đoán trước đó.
Tại Italia, năm 2002, Kis B. và cs. [73] nghiên cứu tỷ lệ lưu hành hội
chứng/bệnh Parkinson ở 87,6% dân số có độ tuổi từ 60 – 85 (n=750 người) tại
South Tyrol (miền Bắc Italia) cho thấy: tỷ lệ hành bệnh Parkinson ở là 1,5/100
người (CI95%: 0,6 - 2,3) và hội chứng Parkinson là 2,2/100 người (CI95%:
1,2- 3,3). Nhìn chung, 78% số BN (CI95% là 59 - 96%) được phát hiện mới
qua cuộc điều tra. Các tác giả cho rằng tỷ lệ lưu hành hội chứng/bệnh
Parkinson ở lứa tuổi 60 - 85 tại vùng này tương tự như các vùng khác ở châu
Âu. Năm 2004, Tan L. và cs. [109] điều tra sự lưu hành bệnh Parkinson
nguyên phát ở Quận Tartu, miền Nam Estonia với số lượng dân cư là 153,240
người. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh Parkinson là 152/100.000 người
(159/100.000 người đối với vùng thành thị và 139/100.000 người đối với
vùng nông thôn); 154/100.000 nam và 153/100.000 nữ. Tỷ lệ lưu hành bệnh
Parkinson tăng lên theo tuổi: 22/100.000 người (40 – 49 tuổi), tăng lên đến
trường hợp đã được điều trị bệnh Parkinson giai đoạn 1996- 1998. Kết quả
cho thấy: tỷ lệ bệnh Parkinson dựa trên các trường hợp được điều trị thuốc
chống bệnh Parkinson lần lượt là 109, 121, và 125/100.000 người trong các
năm 1996, 1997 và 1998. Tỷ lệ lưu hành bệnh Parkinson dựa trên những
trường hợp sử dụng levodopa tương ứng là 126, 134 và 144. Tỷ lệ lưu hành
bệnh Parkinson tăng lên theo tuổi.
11
Năm 2003, Nicoletti A. và cs. [84] điều tra dịch tễ bệnh Parkinson ở
vùng nông thôn tỉnh Cordillera (Bolivia) với số đối tượng là 9.955 người. Kết
quả cho thấy tỷ: lệ bệnh Parkinson là 50,2/100.000 người (CI95%: 18,5124,5) và 286/100.000 người (CI95%: 28-543) ở các đối tượng trên 40 tuổi.
Tại Colombia, năm 2004, Sanchez J. L. và cs. [98] đánh giá sự lưu
hành tỷ lệ hội chứng/bệnh Parkinson ở Antioquia từ 01/01/1996 đến
31/12/2000 thấy tỷ lệ bệnh Parkinson là 30,7/100.000 (CI95%: 29,2 - 322) và
tỷ lệ hội chứng Parkinson là 42,1/100.000 (CI95%: 40,3 - 43,8). Tỷ lệ bệnh
Parkinson ở người trên 50 tuổi là 176,4/100.000 (CI95%: 166,6 - 186,3) và
hội chứng Parkinson là 339,6/100.000 (CI95%: 326,0 - 353,2). Tỷ lệ lưu hành
bệnh Parkinson ở Antioquia là thấp hơn so với thông báo dịch tễ học bệnh
thần kinh của quốc gia (470/100.000) và tương đương với các báo cáo dịch tễ
bệnh này ở cộng đồng người Caucasian (80 - 270/100.000).
* Các nghiên cứu ở Trung Đông: Năm 2002, Anca M. và cs, nghiên cứu
sự lưu hành bệnh Parkinson tại vùng Kibbutz Movement (Israel) trên 73.767
người. Kết quả: tỷ lệ bệnh Parkinson là 0,24% (nhóm >60 tuổi là 0,94%; và
nhóm 40 - 60 tuổi là 0,33%). Tuổi khởi phát bệnh trung bình của các BN
Parkinson là 66,7± 11 tuổi [31].
* Các nghiên cứu ở Châu Á: Năm 2003, Zhang Z. X. và cs, điều tra tình
hình lưu hành bệnh Parkinson ở Bắc Kinh (Trung Quốc) với cỡ mẫu là 5.743
người ở độ tuổi trên 55 tuổi. Kết quả cho thấy: có 110 BN (1,91%) mắc hội
chứng Parkinson, trong đó có 64/110 BN được xác định mắc bệnh Parkinson
Ở Việt Nam, qua kết quả của các cuộc tổng điều tra dân số cho thấy số
NCT tăng dần, chiếm tỷ lệ so với tổng dân số là 7,1% (năm 1979); 7,2%
(1989); 8,2% (1999); 9,2% (2009) và 10,94% (2016). Dự báo NCT cả nước sẽ
tăng từ 9,2% dân số năm 2009 (7,92 triệu), lên 17% dân số năm 2029 (16,14
triệu) [7]; đến năm 2039 tỷ lệ này sẽ là 20,49%.
Tỷ lệ NCT tăng cũng đồng nghĩa là tăng tỷ lệ người mắc hội
chứng/bệnh Parkinson trong cộng đồng. Do vậy, việc điều tra dịch tễ học, tìm
13
hiểu biện pháp điều trị dự phòng cho người bệnh Parkinson là một nhiệm vụ
của ngành y tế. Điều này cũng đã được nhấn mạnh trong nhiều chương trình
hành động của Liên hợp quốc và ngành y tế Việt Nam. Liên Hợp quốc đã có
Chương trình hành động quốc tế về chăm sóc sức NCT tại thủ đô Viên nước
Áo (1982) và tại thủ đô Madrid, Tây Ban Nha (2002) bao gồm 7 vấn đề: sức
khỏe và dinh dưỡng, bảo vệ người tiêu dùng cao tuổi, môi trường và nhà ở,
gia đình, phúc lợi xã hội, an sinh thu nhập và việc làm.
Tuy nhiên, tại Việt Nam cho đến thời điểm chúng tôi nghiên cứu đề tài,
chưa có một nghiên cứu dịch tễ nào đề cập đến hội chứng/bệnh Parkinson ở
NCT. Theo y văn, tỷ lệ mắc toàn bộ của bệnh Parkinson là 1,0% đối với
những người trên 65 tuổi và tỷ lệ mới phát hiện hàng năm ở những người trên
75 tuổi có thể từ 120 - 140/100.000 người. Theo cuộc tổng điều tra dân số
01/4/2009 thì dân số Việt Nam là 86 triệu người (trong đó Hà Nội là trên 6
triệu người). Tỷ lệ NCT ở Việt Nam ước tính khoảng 8,6 triệu người (Hà Nội
khoảng 600.000 người). Theo thống kê này, ở Việt Nam có khoảng 86.000
người mắc bệnh Parkinson (trong đó Hà Nội là khoảng 6.000 người mắc hội
chứng/bệnh Parkinson) [7]. Năm 2016, thành phố Hà Nội có trên 1 triệu NCT,
chiếm tỷ lệ trên 13,0% dân số.
1.2.2. Một số yếu tố liên quan đến hội chứng/bệnh Parkinson
Cho đến nay bệnh Parkinson nguyên phát vẫn được coi là chưa rõ nguyên
75- 79
80- 84
65- 69
≥85
Hội chứng và bệnh
Hội chứng Parkinson
0,9
1,5
3,7
5,0
5,1
Bệnh Parkinson
0,6
1,0
2,7
3,6
3,5
Nghiên cứu của Hauser và cs, cho thấy tuổi mắc bệnh trung bình là 60
tuổi, ở lứa tuổi trên 40 thì tỷ lệ mắc là 1/250 người, nhưng ở những người trên
65 tuổi, tỷ lệ mắc là 1/100. Tuy nhiên, những bệnh nhân có yếu tố gia đình, có
đột biến gen, tuổi mắc bệnh thường sớm hơn [63].
Theo Lê Đức Hinh, tuổi mắc bệnh là từ 40 - 70, đỉnh cao là 60 tuổi và
hiếm khi mắc bệnh ở lứa tuổi trước 30 tuổi [12]. Nguyễn Văn Chương và Nhữ
Đình Sơn (1999), nghiên cứu 60 BN mắc bệnh Parkinson điều trị tại Khoa
Thần kinh - Viện Quân y 103, từ 10987 - 1097 cho thấy tuổi phát bệnh từ
15
dưới 40 đến trên 70 tuổi, trong đó nhóm từ 40 - 49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất