TUẦN HOÀN CHU CHUYỂN TƯ BẢN – Ý NGHĨA VẤN ĐỀ Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Kinh tế chính trị Mác - Lênin do C.Mác (1818 - 1883), Ph.Ăngghen (1820 1895) sáng lập vào những năm 50 của thế kỉ XIX và được V.I.Lênin (1870 - 1924)
tiếp tục bảo vệ, phát triển vào cuối thể kỉ XIX đầu thế kỉ XX khi chủ nghĩa tư bản
chuyển từ tự do cạnh tranh sang độc quyền. Nghiên cứu kinh tế chính trị Mác Lênin không thể không đề cập đến Bộ tư bản, bởi vì ở đó, toàn bộ quan điểm kinh tế
của C.Mác và Ph.Ăngghen được trình bày một cách tập trung, đầy đủ và hệ thống
nhất. Quá trình hình thành và phát triển học thuyết kinh tế Mác - Ănghen gắn liền
với quá trình C.Mác nghiên cứu, kế thừa có phê phán các tư tưởng, các học thuyết
kinh tế đã từng xuất hiện trước đó và thực tiễn kinh tế xã hội để viết bộ “tư bản”.
Quá trình hình thành bộ “Tư bản” trải qua một thời gian dài với sự chuẩn bị
công phu của C.Mác. Trong suốt quá trình chuẩn bị biên soạn để cho ra đời bộ “Tư
bản”, C.Mác và Ph.Ănghen cho xuất bản nhiều bài viết và tác phẩm như: Bản thảo
Kinh tế - Triết học (Ph.Ănghen, 1844), Tình cảnh giai cấp công nhân Anh
(Ph.Ănghen, 1844), Lao động làm thuê và tư bản (C.Mác, 1849), Đấu tranh giai
cấp ở Pháp (1848)… Trong đó Bản thảo kinh tế (1857) tuy không được xuất bản,
nhưng có thể coi đó là di bản đầu tiên của bộ “Tư bản”. Từ tháng 8 năm 1861 đến
tháng 7 năm 1863, ông đã hoàn thành một bản thảo lớn với tên gọi: Phê phán Kinh
tế chính trị học, đây được coi là bản thảo lần thứ hai của bộ “Tư bản” vì hầu hết
những vấn đề C.Mác viết trong bản thảo này đều được đưa vào bộ “Tư bản” sau này
Bộ “tư bản” gồm 4 quyển có kết cấu:
Quyển I - Quá trình sản xuất của tư bản: gồm 8 phần, 32 chương với 4 nội
dung: lí luận giá trị; lí luận giá trị thặng dư; lí luận tiền công; lí luận tích luỹ tư bản.
1
Quyển II - Quá trình lưu thông của tư bản: gồm 3 phần, 21 chương với 2 nội
dung: lí luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản; lí luận tái sản xuất và lưu thông tư
bản xã hội.
Quyển III - Các hình thái và loại hình của toàn bộ quá trình nói chung: gồm 7
1. Tuần hoàn của tư bản và những biến hóa hình thái của tư bản
Để hiểu quá trình lưu thông tư bản, với phương pháp trừu tượng hóa khoa
học, khi nghiên cứu C.Mác đã “gạt bỏ tất cả những yếu tố hoàn toàn không liên
quan gì đến bản thân sự thay thế và hình thành bản thân các hình thái” 1. Vì thế, ở
đây C.Mác đã giả định: hàng hóa được bán theo đúng giá trị của nó; mọi việc trao
đổi mua bán đều tiến hành một cách trôi chảy; cấu tạo hữu cơ của tư bản không
thay đổi; tốc độ lưu thông không đổi trong suốt quá trình tuần hoàn; tư bản được
nghiên cứu ở đây là tư bản công nghiệp. Công nghiệp với ý nghĩa bao quát mọi
1
C.Mác và Ph.Ăng ghen, toàn tập, Nxb CTQG, Hà nội, 1994, t.24. tr.46.
3
ngành sản xuất vật chất kinh doanh theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Tuần hoàn của tư bản nghiên cứu sự vận động của tư bản cá biệt. Trong sự vận
động của mình, “tư bản” lần lượt mang những hình thái khác nhau, mà nó khoác
lấy rồi lại trút bỏ đi trong quá trình lặp lại sự tuần hoàn của nó, có nghĩa là tư bản
luôn khoác lấy hình thái này, rồi trút bỏ đi để chuyển sang hình thái khác. Nhưng sự
vận động của tư bản là sự vận động vòng tròn và liên tục. Những vòng tuần hoàn
không ngừng nối tiếp nhau. Vì vậy mỗi biến hóa hình thái tư bản có thể vừa là điểm
bắt đầu, vừa là điểm giữa, vừa là điểm kết thúc của quá trình vận động liên tục của
tư bản và quá trình vận động liên tục của tư bản đều phải trải qua ba hình thái đó.
1.1. Tuần hoàn của tư bản tiền tệ
Điểm xuất phát của tư bản nói chung là tiền, cho nền nghiên cứu tuần hoàn
của tư bản, C.Mác bắt đầu nghiên cứu tuần hoàn của tư bản tiền tệ là hợp lôgíc và
lịch sử.
Mục đích của việc nghiên cứu vấn đề này là vạch rõ sự biểu hiện của quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa qua hình thái vật thể trong sự vận động của tư bản.
lại, chính sự tồn tại của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mới làm cho T trở thành
tư bản. Nghĩa là chính trên cơ sở tư liệu sản xuất và sức lao động bị tách rời nhau;
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; quan hệ giữa giai cấp tư sản và lao động làm
thuê đã có, thì tiền của nhà tư bản ứng ra để thực hiện hành vi T – H mới là tư bản
tiền tệ, hay nói chính xác hơn là khoác áo tư bản tiền tệ. Cần lưu ý: không phải mọi
khoản tiền đều là tư bản tiền tệ, mà chỉ có T nào tham gia vào sự vận động của tư
bản, thì T đó mới trở thành tư bản.
Hành vi T – SLĐ là hành vi đặc trưng để T mang quan hệ tư bản chủ nghĩa,
T – SLĐ là điều kiện để T chuyển hóa thành tư bản. Hành vi T – H ( TLSX, SLĐ)
là sự phân phối các yếu tố sản xuất, nhưng dưới chủ nghĩa tư bản chứa đựng một
mâu thuẫn: một bên tập trung các yếu tố cho quá trình sản xuất, một bên sức lao
đọng bị tách tư liệu sản xuất do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối.
5
Đó là mặt chất về mặt chất của hành vi mua T – H, còn xét về mặt lượng có
hai khía cạnh:
Một là, Tư liệu sản xuất và sức lao động mà nhà tư bản mua trên thị trường
phải phù hợp với hàng hóa mà nhà tư bản định chế tạo hay sản xuất.
Hai là, giữa tư liệu sản xuất và sức lao động phải theo một tỷ lệ thích hợp với
nhau về mặt số lượng để sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất và sức lao động, để số
tư liệu sản xuất đủ nhằm sử dụng hết số sức lao động đã mua và ngược lại. Khi hành
vi T – H ( TLSX, SLĐ) hoàn thành giá trị tư bản ban đầu tồn tại dưới hình thức T,
là tư bản tiền tệ, bây giờ tồn tại dưới hình thái hiện vật, các yếu tố của sản xuất, là
tư bả sản xuất. Nghĩa là kết thúc giai đoạn 1: tư bản tiền tệ đã chuyển hóa thành tư
bản sản xuất.
* Giai đoạn 2: Giai đoạn sản xuất, thực hiện chức năng của tư bản sản
xuất.
Do sự chuyển hóa của tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất, nó không thể tiếp
tục lưu thông được nữa, mà phải đi vào tiêu dùng sản xuất. Nhà tư bản không thể
cách là hình thái tồn tại có tính chất sản xuất của tư bản. Vì vậy, quá trình sản xuất
trở thành một chức năng của tư bản, trở thành quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa,
thực hiện một giai đoạn tuần hoàn của tư bản. Vì giá trị tư bản buộc phải đi qua
giai đoạn này để T tự lớn lên. Kết qủa của giai đoạn này là: kết thúc giai đoạn 2, tư
bản sản xuất biến hóa thành tư bản hàng hóa.
* Giai đoạn 3: giai đoạn bán, thực hiện hành vi H – T’
Kết thúc giai đoạn 2: giá trị tư bản từ hình thái tư bản sản xuất biến thành
hình thái tư bản hàng hóa và tư bản chưa thể ngừng vận động vì giá trị tư bản đang
tồn tại dưới hình thức H’ cần phải đem bán để thu T’ về. Đặc trưng tư bản chủ
nghĩa là ở chỗ: ngoài việc thực hiện giá trị H, chức năng quan trọng hơn của tư bản
hàng hóa là thực hiện giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất.
Vừa mới được sản xuất ra, hàng hóa đã là tư bản hàng hóa với tư cách là hình
thái tồn tại chức năng của giá trị tư bản đã tăng thêm giá trị vì ngay sau khi sản xuất,
7
nó đã là H’ có giá trị = giá trị tư bản ứng trước + giá trị thặng dư.
Cần phải đặc biệt lưu ý rằng: H chỉ có thể làm chức năng tư bản chừng nào
mà trước khi đi vào lưu thông, nó đã mang tính chất tư bản, đã có sẵn từ trong quá
trình sản xuất. H trở thành H’ là do lượng giá trị của H’ lớn hơn giá trị của tư bản
sản xuất (hàng hóa) đã tiêu dùng khi sinh ra nó (H’ = H + h)
Nên khi tiến hành trao đổi theo đúng nguyên tắc ngang giá thì H’ cũng thu
về được T’ nghiã thu được số t trội hơn số tiền ứng ra ban đầu. Chính chức năng
thực hiện giá trị thặng dư này (h - t) đã làm cho hành vi H’ – T’ trở thành một giai
đoạn tuần hoàn của tư bản. Để làm rõ hơn vấn đế này C.Mác đã phân tích H’ và T’.
H’ là tư bản hàng hóa và lưu thông hàng hóa trở thành một chức năng của tư
bản. H’ trở thành tư bản là do quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra tư bản
hàng hóa, vì lượng giá trị của H’ lớn hơn lượng giá trị H. Như vậy H’ là kết quả
của quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa và trở thành tư bản hàng hóa là do quan hệ
bên trong, chứ không phải xét lượng tuyệt đối: nghĩa là so ánh lượng giá trị của H’
thêm sự biến đổi thì T’ đã khác T về chất. T là tiền ứng ra, được C.Mác gọi là tư
bản tiền tệ, còn T’ thì bản thân nó đã là tư bản tiền tệ rồi.
Kết thúc giai đoạn 3: Giá trị tư bản từ hình thái tư bản hàng hoá biến thành
tư bản tiền tệ. Và chính vì hình thái ban đầu và hình thái cuối cùng của vòng tuần
hoàn đều là hình thái tư bản tiền tệ, cho nên C.Mác gọi: quá trình tuần hoàn dưới
hình thái này là tuần hoàn của tư bản tiền tệ.
Kết thúc một vòng tuần hoàn thì mục đích của vận động tư bản được thực
hiện: giá trị tư bản trở lại hình thái ban đầu với số lượng lớn hơn trước. Tổng hợp
quá trình vận động của tư bản trong cả ba giai đoạn với ba biến hoá hình thái, ta có
công thức chung:
SLĐ
T–H
…SX…H’ – T’
9
TLSX
Tóm lại, sự vận động tuần hoàn của tư bản là một sự vận động liên tục, đồng
thời là sự vận động đứt quãng không ngừng. Chính trong sự vận động mâu thuẫn
đó mà giá trị tư bản tự bảo tồn, chuyển hóa giá trị và không ngừng lớn lên. Nghĩa
là tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành được bình thường
khi nào các giai đoạn khác nhau của tư bản không ngừng chuyển tiếp từ giai
đoạn này sang giai đoạn khác. Đồng thời, bản thân sự tuần hoàn lại làm cho tư bản
phải nằm lại ở mỗi giai đoạn tuần hoàn trong thời gian nhất định.
* Đặc điểm tuần hoàn của tư bản tiền tệ
- Điểm xuất phát là T và kết thúc là T’ nói lên rằng giá trị trao đổi chứ
không phải giá trị sử dụng là mục đích tự thân quyết định sự vận động. Chính vì
vậy tuần hoàn của tư bản tiển tệ biểu thị một cách rõ ràng nhất, động cơ mục đích
của vận động tư bản là giái trị tăng thêm giá trị, T để ra t.
trị tầm thường vẫn làm rằng: quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ đơn thuần là
việc sản xuất ra hàng hóa, ra những giá trị sử dụng nhằm thỏa mãn một loại tiêu
dùng nào đó. Để làm rõ nội dung chính của tái sản xuất giản đơn xem H’ – T’ – H
vận động như thế nào, ta theo C.Mác đi vào phân tích hai giai đoạn của lưu thông:
* Giai đoạn 1 (H’ – T’)
H’ trong lưu thông chung của hàng hóa chỉ làm chức năng của hàng hóa, nhưng
về mặt là yếu tố của lưu thông tư bản, thì H’ làm chức năng tư bản hàng hóa.
Trong tuần hoàn của tư bản sản xuất, H’ – T’ cỏ thể chia H – T và h – t. Việc
chia này có ý nghĩa về bản chất, đẻ xem quá trình này là tái sản xuất giản đơn hay
tái sản xuất mở rộng.
Nếu tái sản xuất giản đơn, thì chỉ có H – T đi vào lưu thông trong tuần hoàn
11
của tư bản, còn h – t đi vào lưu thông hàng hóa giản đơn phục vụ cho tiêu dùng cá
nhân của nhà tư bản. Cò nếu H – T được bổ xung bằng h – t và cả hai đi vào lưu
thông tư bản, thì là tái sản xuất mở rộng.
* Giai đoạn 2 (T – H)
Tuần hoàn của tư bản sản xuất làm nội bật quá trình sản xuất tư bản. Trog
tuần hoàn nào thì T – H cũng là sự chuyển hóa tư bản từ hình thái tư bản tiền tệ
sang hình thái tư bản sản xuất. Nhưng tuần hoàn của tư bản tiền tệ không nói rõ
nguồn gốc của T. T được coi là T ứng ra còn tuần hoàn tư bản sản xuất, chỉ rõ T là
một bộ phận của T’. T’ vừa là giá trị tư bản mới được thực hiện, vừa là tư bản bắt
đầu cuộc hành trình vận động tuần hoàn mới.
Ở đây chỉ rõ: nguồn gốc của T từ H’ mà ra hay từ sản xuất mà ra. T là một
bộ phận của giá trị hàng hóa lao động sống tạo ra. T ứng ra ở đây cho công nhân
cho là hình thái ngang giá đã chuyển hóa của một bộ phận giá trị hàng hóa do
chính người công nhâ sản xuất ra. T ấy không phải chỉ là hình thái T của lao động
đã qua của công nhân, mà đồng thời còn là một tấm phiếu trả công lao động hiện
tại hoặc lao động tương lai. Tức là, khi cấp một phần lao động quá khứ cho người
-Tích lũy tiền
Giá trị thặng dư không được tư bản hóa ngay, mà phải được tích lũy lại. Ở
đây khẳng định chỉ có sản xuất và chính sản xuất tạo ra tiền cho tích lũy; đòi hỏi
tiền tích lũy và quyết định lượng tiền tích lũy để biến thành hiện thực.
- Quĩ dự trữ
Quĩ dự trữ là do sản xuất qui định, để phục vụ cho sản xuất. Không những
có dự trữ nói chung, mà có cả dự rữ tiền. Dự trữ đúng, đủ thì sản xuất phát triển.
Dự trữ thừa hay thiều đều ảnh hưởng xấu đến sản xuất.
C.Mác phân biệt quĩ dự trữ và tiền dự trữ là khác nhau.
Quĩ dự trữ là thành phần không phải của tư bản đang hoạt động, mà là giá trị
13
thặng dư tích trữ lại một bộ phận cấu thành của tư bản nằm trong giai đoạn chuẩn
bị sự tích lũy tư bản, cần thiết để khắc phục sự rối loạn trong quá trình tuần hoàn
sinh ra (như nếu H’ – T’ kéo dài quá mức độ của nó, hay nếu do giá của tư liệu sản
xuất lên quá cao...)
Còn tiền dự trữ là tiền được giữ lại để làm phương tiện mua và thanh toán.
Tiền này luôn luôn được hình thành sau việc bán. Tiền tích trữ là một hình thái tồn
tại của giá trị thặng dư, là một quĩ tích lũy tiền, là một điều kiện tích lũy tư bản.
Cả quĩ dự trữ và tiền dự trữ đều là cần thiết, do yêu cầu của sản xuất, sẵn
sàng phục vụ cho yêu cầu của tái sản xuất. Khi cần thiết tiền dự trữ (quĩ tiền tích
lũy) được dùng làm quĩ dự trữ để khắc phục những rối loạn của tuần hoàn tư bản.
1.3. Tuần hoàn của tư bản hàng hóa
Công thức chung của tuần hoàn tư bản hàng hóa:
H’ – T’ – H ... SX... H’
H’ không những là sản phẩm, mà còn là tiền đề của hai tuần hoàn nói trên. Vì
vậy trong nghiên cứu chúng ta cần phỉa luôn so sánh nó với hai tuần hoàn nói trên.
Đặc điểm của tuần hoàn tư bản hàng hóa.
- Khác với các hình thái tuần hoàn trước, trong tuần hoàn của tư bản hàng
C.Mác nêu lên sự vận động tuần hoàn của tư bản công nghiệp là:
- Sự vận động thống nhất của lưu thông và sản xuất, sản xuất làm trung gian
cho lưu thông và ngược lại. Tổng quá trình tuần hoàn được biểu hiện là sự thống
nhất giữa sản xuất và lưu thông.:
T – H ... SX ... H’ – T’
hay LT ... SX ... LT
SX ...H’ – T’ - H... SX
SX... LT .... SX
H’ – T’ – H....SX... H’
15
LT... SX
- Sự vận động thống nhất biện chứng của ba hình thái tuần hoàn: một quá trình
liên tục không ngừng và đứt quãng không ngừng. Bởi vì, trong quá trình vận động liên
tục không ngừng, bản thân tuần hoàn lại làm cho tư bản phải nằm lại ở mỗi giai đoạn
tuần hoàn trong một thời gian nhất định để thực hiện chức năng của mình.
T – H ... SX ... H’ – T’ – H ... SX ... H’ – T’ – H ...SX ... H’ ....
- Sự vận động của ba hình thái tuần hoàn có sự kế tục nhau trong thời gian
và sắp xếp kề nhau trong không gian để được liên tục vận động trong thời gian ( sự
thống nhất ba hình thái tuần hoàn đòi hỏi ba hình thái tuần hoàn phải tồn tại trong
cùng một thời gian, trong không gian thì xen kẽ nhau):
T – H ... SX ... H’ – T’
SX ...H’ – T’ - H... SX
H’ – T’ – H....SX... H’
- Thời gian sản xuất bao gồm:
+ Thời gian lao động (người lao động sử dụng tư liệu lao động tác động vào
đối tượng lao động).
+ Thời gian gián đoạn lao động (đối tượng lao động chịu sự tác động của
thiên nhiên) Ví dụ: ủ giống, ủ men rượu hay thời gian chờ cho bê tông chết.
+ Thời gian dự trữ (tư bản sản xuất nằm trong lĩnh vực sản xuất dưới dạng
tiềm tàng)
Thời gian sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có bốn yếu tố cơ bản:
Tính chất ngành sản xuất.
Đối tượng lao động chịu sự tác động của tự nhiên dài hay ngắn.
Trình độ phát triển của khoa học - kỹ thuật, của lực lượng sản xuất và năng
17
suất lao động cao hay thấp.
Dự trữ sản xuất, đủ, thừa hay thiếu, dự trữ sản xuất tăng hay giảm do: lượng
hàng hóa trên thị trường như thế nào; Giao thông vận tải; người quản lý biết tính toán.
- Thời gian lưu thông bao gồm:
+ Thời gian mua thực hiện hành vi T – H.
+ Thời gian bán thực hiện hành vi H’ – T’.
Thời gian lưu thông phụ thuộcvào nhiều yếu tố trong đó có bốn yếu tố cơ
bản: Tình hình thị trường tốt hay xấu; Khoảng cách xa hay gần; giao thông khó
khăn hay thuận lợi; phương tiện giao thông hiện đại hay thô sơ.
1.6. Chi phí lưu thông
Lưu thông không tạo ra giá trị, lao động trong lưu thông không tạo ra giá trị,
nhưng cần phải có chi phí lưu thông. C.Mác đề cập ba loại chi phí lưu thông:
* Chi phí lưu thông thuần túy, có ba loại:
- Chi phí cho việc mua bán hàng hóa: Chi phí để biến tiền thành hàng hóa và
ngược lại. Chi phí để thuần túy biến đổi hình thái của giá trị hàng hóa, chi phí này
không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Đây là chi phí cần thiết của xã hội, nhưng
bản: tư bản cố định, tư bản lưu động và những hiện tượng kinh tế gắn liền với
chúng; để hiểu ảnh hưởng của lưu thông, của tốc độ và thời gian vận động tới hiệu
quả hoạt động của tư bản; để giải thích những hiện tượng kinh tế bị quá trình lưu
thông che lấp hoặc xuyên tạc trên cơ sở giá trị lao động; để hiểu sự chuyển hóa giá
trị thặng dư thành lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư thành tỷ suất lợi nhuận.
2.1. Thời gian chu chuyển và số vòng chu chuyển
Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gia kể từ khi giá trị tư bản
2
C.Mác và Ph.Ăng ghen, toàn tập, Nxb CTQG, Hà nội, 1994, t.24 Tr. 229 – 230.
19
được ứng ra dưới một hình thái nhất định, cho đến khi giá trị tư bản đang vận động
quay trở về cũng dưới hình thái ấy, với một lượng giá trị đang tăng lên.
Tuần hoàn của tư bản, khi được coi là một quá trình định kỳ, chứ không
phải một hành vi cá biệt, thì gọi là vòng chu chuyển của tư bản, năm là đơn vị đo
lường tự nhiên để đo những vòng chu chuyển của tư bản đang hoạt động.
Nếu chúng ta lấy CH để chỉ năm, lấy Ch để chỉ thời gian chu chuyển của
một tư bản nhất định, lấy n để chỉ số lần chu chuyển, thì chúng ta sẽ có:
n = CH/Ch
Do đó, nếu thời gian chu chuyển là 3 tháng chẳng hạn, thì
n = 12/3 = 4
Như vậy, là tư bản thực hiện 4 vòng chu chuyển, đã quay 4 vòng trong một năm.
2.2. Tư bản cố định và tư bản lưu động
Sự phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động căn cứ vào
phương thức chu chuyển giá trị tư bản vào giá trị sản phẩm mới để phân chia.
* Tư bản cố định là một bộ phận giá trị tư bản, dưới hình thái tư liệu lao
động, tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó được chuyển
BẢN TRONG PHÁT TIỂN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Quá trình sản xuất theo nghĩa rộng là quá trình tái sản xuất ra của cải vật
chất do vậy, muốn sản xuất được tiến hành liên tục, bình thường, thì vốn của các
đơn vị kinh tế cũng phải được phân ra làm ba bộ phận, tồn tại đồng thời ở cả ba
hình thái T, yếu tố SX và H theo một tỷ lệ thích hợp với ngành sản xuất kinh
doanh. Đồng thời, mỗi bộ phận vốn ở mỗi hình thái hình thái ấy cũng phải không
ngừng liên tục vận động qua ba giai đoạn, trải qua ba hình thái và thực hiện ba
chức năng. Chỉ có sự thống nhất của cả ba tuần hoàn của ba bộ phận vốn như vậy,
thì sự liên tục của tổng quá trình sản xuất mới thực hiện được. Phải chia vốn sản
21
xuất thành ba bộ phận như vậy, để đảm bảo chúng không ngừng thay thế nhau thì
sản xuất mới liên tục.
Để phát huy hiệu quả sử dụng vốn, quĩ khấu hao có thể được đưa ra sử dụng
để mở rộng sản xuất. Vậy có thể mở rộng sản xuất nhờ quĩ khấu hao mà không cần
có tích lũy thực sự. Mặt khác, máy móc, thiết bị đòi hỏi những chi phí bảo quản
đặc biệt để nâng cao hiệu quả sử dụng và tránh được những hao mòn bất thường.
Việc bảo quản máy móc thiết bị được thực hiện theo hai phương thức:
Để tiến hành quá trình tái sản xuất mở rộng cần huy động ở mức cao nguồn
vốn trong và ngoài nước đáp ứng yêu cầu vốn cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước.Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cho công nghiệp
hóa – hiện đại hóa nói riêng đến từ nhiều nguồn. Trong đó cần tập trung khai thác
các nguồn chủ yếu như: Mở rộng lĩnh vực và địa bàn và hình thức thu hút FDI,
hướng vào những thị trường, địa bàn và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo
sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng, hiệu quả vốn FDI. Tranh thủ nguồn vốn
ODA đi đôi với việc đẩy nhanh tốc độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng và có
kế hoạch bảo đảm trả nợ. Từng bước mở rộng đầu tư gián tiếp của nước ngoài và
có chính sách hiệu quả hơn để thu hút kiều hối vào phát triển kinh tế. Tạo điều kiện
thuận lợi và có chính sách khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh
quả các nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong nước và thu hút nguồn vốn đầu
tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế để bảo đảm đầu tư của Nhà nước có hiệu qủa,
khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí. Vốn đầu tư từ ngân sách
Nhà nước tập trung cho kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển văn hóa, giáo
dục, khoa học, y tế và trợ giúp vùng khóa khăn. Vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước
dành ưu tiên cho xây dựng các cơ sở thuộc kết cấu hạ tầng có thu hồi vốn và hỗ trợ
đầu tư một số dự án quan trọng, thiết yếu của nền kinh tế. Đầu tư của doanh nghiệp
nhà nước hướng vào nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa
công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Vốn của khu vực dân doanh được
khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và việc làm;
23
khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài chuyển vốn và công nghệ về
nước tham gia đầu tư.
Tiếp tục tranh thủ vốn ODA; đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn các công trình,
dự án đã được ký kết; xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA cho thời
kỳ mới, tập trung vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các trung tâm kinh tế và
các vùng có điều kiện kinh tế, xã họi khó khăn.
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp của nước ngoài, tạo lợi thế so
sánh để thu hút nhiều doanh nghiệp lớn đầu tư cho sản phẩm xuất khẩu và công nghệ
cao. Đơn giản hóa thủ tục cấp phép đầu tư đối với đầu tư nước ngoài, thu hẹp các lĩnh
vực không cho phép đầu tư và những lĩnh vực đầu tư có điều kiện, mở rộng lĩnh vực
đăng ký đầu tư; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư phát
triển các lĩnh vực dịch vụ theo cam kết quốc tế.
24