BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN DIÊN QUANG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN MỘT SỐ LOÀI
HẠT TRẦN TẠI VƢỜN QUỐC GIA PÙ MÁT TỈNH NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.02.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Việt Hà
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2017
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực.
Luận văn có kế thừa kết quả của những công trình nghiên cứu của các
tác giả đi trước và bổ sung thêm những tư liệu mới.
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Diên Quang
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………...1
Chƣơng 1.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………………………..2
1.1. Giới thiệu chung về các loài hạt trần........................................................ 2
1.2. Tổng quan nghiên cứu về các loài hạt trần……………………….........3
1.2.1. Nghiên cứu về các loài hạt trần trên thế giới……………………..3
1.2.2. Nghiên cứu tại Việt Nam…………………………………………..4
1.2.3. Nghiên cứu về các loài hạt trần tại VQG Pù Mát………………...8
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU..................................................................................................9
2.1. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………….…….9
2.2. Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………...…9
2.3. Nội dung nghiên cứu………………………………………………......9
2.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………....9
2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu……………………………………...9
2.4.2. Phương pháp ngoại nghiệp………………………………………..9
2.4.3. Phương pháp nội nghiệp………………………………………...12
Chƣơng 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ……………14
3.1. Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu:....14
3.1.1. Điều kiện tự nhiên………………………………………………..14
3.2. Nguồn tài nguyên rừng ở Vườn quốc gia Pù Mát……………………20
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất…………………………………………..20
iv
3.2.2. Tài nguyên rừng………………………………………………….22
Chƣơng 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ………………28
4.1. Thành phần loài thực vật hạt trần tại Vườn quốc gia Pù Mát.
28
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
Từ viết tắt
BT
Bảo tồn
BTTV
Bảo tôn thực vật
ĐTQH
Điều tra quy hoạch
ĐT
Điều tra
QHR
Quy hoạch rừng
QHLN
Quy hoạch lâm nghiệp
Hình. 4.5. Lá và Thân cây Tuế........................................................................40
Hình. 4.6. lá cây Kim giao...............................................................................41
Hình 4.7. thân cây Thông Tre..........................................................................43
Hình 4.8. Cành, lá, quả của cây Gắm..............................................................44
1
MỞ ĐẦU
Vườn quốc gia Pù Mát là một trong những Vườn quốc gia có giá trị
dạng sinh học cao của Việt Nam; thành phần động, thực vật phong phú, đa
dạng. Riêng về thực vật đã có hơn 50 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam và
danh sách thực vật bị đe doạ trên thế giới cần được bảo tồn, trong số đó có
những loài quí hiếm đang bị đe doạ tuyệt chủng. Chính vì điều đó, Vườn quốc
gia Pù Mát được xem là điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh hoc.
Trong số các loài loài thực vật quý hiếm của VQG Pù Mát , có một số
lượng lớn là các loài hạt trần (Gymnospermae), như loài Sa mu dầu
(Cunninghamia konishii) phân bố rất hẹp ở Vườn quốc gia Pù Mát và loài Pơ
mu (Fokienia hodginsii), các loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa
học mà còn có giá trị kinh tế rất cao.
Kết quả điều tra đánh giá đa dạng sinh học từ năm 2010 - 2015 của
Phòng khoa học và hợp tác quốc tế - Vườn quốc gia Pù Mátcho thấy số lượng
cá thể của các loài không nhiều, chỉ có loài Pơ mu có số lượng lớn hơn cả,
chúng tập trung phân bố từ độ cao 900- 1500m trên các sườn dông và đỉnh
núi, một số cá thể đã và đang bị chết tự nhiên còn một số cá thể khác vẫn
đang bị khai thác trộm, hơn nữa dưới tán rừng rất ít gặp các cá thể cây con
của các loài tái sinh tự nhiên, vì vậy việc nghiên cứu các giải pháp bảo tồn các
loài cây quý hiếm, đặc hữu sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển nguồn
gen thực vật quý hiếm ở nước ta cũng như góp phần vào việc bảo tồn tính đa
dạng thực vật ở Vườn quốc gia Pù Mát đang là vấn đề hết sức bức xúc và cần
thiết.
việc bảo tồn chúng trở nên có ý nghĩa đặc biệt. Sự phức tạp trong các yếu tố
đe dọa gặp phải cần có một loạt các chiến lược thực hành để bảo tồn và sử
dụng bền vững các loài cây này. Bảo tồn tại chỗ thông qua các cơ chế như
hình thành các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là một giải pháp tốt,
3
có hiệu quả đối với những khu vực lớn còn rừng nguyên sinh. Công tác bảo
tồn đòi hỏi sự công tác của mọi người từ các ngành, nghề và tổ chức khác
nhau. Những người làm công tác này đều phụ thuộc vào việc định danh chính
xác loài cây mục tiêu hay các sinh vật khác có liên quan và các thông tin cập
nhật ở các mức độ địa phương, khu vực và quốc tế.
1.2. Tổng quan nghiên cứu về các loài hạt trần.
1.2.1. Nghiên cứu về các loài hạt trần trên thế giới.
Cây thuộc ngành Hạt trần là những loài cây có nguồn gốc cổ xưa nhất,
khoảng trên 300 triệu năm. Các vùng rừng cây ngành Hạt trần tự nhiên nổi
tiếng thường được nhắc tới ở Châu Âu với các loài Vân sam (Picea), Thông
(Pinus); Bắc Mỹ với các loài Thông (Pinus), Cù tùng (Sequoia,
Sequoiadendron) và Thiết sam (Pseudotsuga); Đông Á như Trung Quốc và
Nhật Bản với các loài Tùng bách (Cupressus, Juniperus) và Liễu sam
(Cryptomeria). Các loài cây thuộc ngành Hạt trần đã đóng góp một phần
không nhỏ vào nền kinh tế của một số nước như Thụy Điển, Na Uy, Phần
Lan, New Zealand... Lịch sử lâu dài của Trung Quốc cũng đã ghi lại nguồn
gốc các cây ngành Hạt trần cổ thụ hiện còn tồn tại đến ngày nay mà có thể
dựa vào nó để đoán tuổi của chúng. Chẳng hạn trên núi Thái Sơn (Sơn Đông)
có cây Tùng ngũ đại phu do Tần Thủy Hoàng phong tặng tên; cây Bách Hán
tướng quân ở thư viện Tùng Dương (Hà Nam), cây Bạch quả đời Hán trên núi
Thanh Thành (Tứ Xuyên); cây Bách nước Liêu (còn gọi là Liêu bách) trong
công viên Trung Sơn (Bắc Kinh)... Đồng thời, nhiều nơi khác trên thế giới
cũng có một số cây cổ thụ nổi tiếng như cây Cù tùng (Sequoia) có tên “cụ già
Philip lan thomas, 2004).
1.2.2. Nghiên cứu tại Việt Nam.
Hiện tại có khoảng 29 loài cây thuộc ngành Hạt trần ở Việt Nam. Mặc
dù chỉ dưới 5% số loài cây trong ngành Hạt trần đã biết trên thế giới được tìm
thấy ở Việt Nam nhưng ngành Hạt trần Việt Nam lại chiếm đến 27% số các
chi và 5 trong số 8 họ đã biết [18].
5
Tất cả các loài cây ngành Hạt trần ở Việt Nam đều có ý nghĩa lớn. Chi
Bách vàng mới chỉ được phát hiện vào năm 1999 trong khi loài Thuỷ tùng chỉ còn
2 quần thể nhỏ với tổng số cây ít hơn 250 cây thuộc tỉnh Đắk Lắk. Loài này là đại
diện cuối cùng cho một dòng giống các loài cây cổ. Hoá thạch của những cây này
đã được tìm thấy ở những nơi cách rất xa như ở nước Anh. Năm 2001 một quần
thể nhỏ gồm hơn 100 cây của chi đơn loài Bách tán Đài Loan (Taiwania
cryptomerioides)được tìm thấy ở tỉnh Lào Cai. Trước đây chi này chỉ được biết có
ở Đài Loan, Vân Nam và Đông Bắc Myanma. Những quần thể lớn loài Sa mộc
dầu Cunninghamia konishii, một chi cổ khác chỉ gồm 2 loài, vừa được tìm thấy ở
Nghệ An và các vùng phụ cận của Lào. Bốn trong số 6 loài Dẻ tùng
(Amentotaxus) được biết (họ Thông đỏ - Taxaceae) đã thấy có ở Việt Nam. Hai
loài trong số đó là cây đặc hữu (Dẻ tùng pô lan A. poilanei và Dẻ tùng sọc nâu A.
hatuyenensis) và những quần thể chính của hai loài khác cũng nằm ở Việt Nam
(Dẻ tùng sọc trắng A. argotaenia và Dẻ tùng Vân Nam A. yunnanensis). Thậm chí
những loài cây không phải là đặc hữu của Việt Nam nhưng vẫn có ý nghĩa lớn.
Thông ba lá (Pinus kesiya) gặp từ Đông Bắc Ấn Độ qua Philippin nhưng các xuất
xứ ở Việt Nam lại cho thấy có năng suất cao nhất trong các khảo nghiệm ở châu
Phi và châu
c. Những thực tế này thể hiện tầm quan trọng của các loài thuộc
làm hương liệu quí (Hoàng đàn Cupressus, Pơ mu Fokienia, Bách xanh
Calocedrus) hoặc được dùng làm thuốc cả trong y học truyền thống (Kim
giao Nageia) hay y học hiện đại (Thông đỏ Taxus). Một số loài chỉ được sử
dụng tại địa phương nhưng thường đây là những loài có phân bố hạn chế (ví
dụ như Bách vàng Xanthocyparis). Đe dọa do khai thác trực tiếp còn kèm
theo việc biến đổi những diện tích rừng lớn thành đất nông nghiệp, đặc biệt ở
các vùng núi có độ cao khoảng 800 đến 1.500m nơi mà các loài cây trong
ngành Hạt trần như Du sam (Keteleeria) và Bách xanh (Calocedrus) thường
sinh sống. Việc chia cắt rời rạc các cánh rừng là một vấn đề có liên quan
khác. Các đám rừng nhỏ còn sót lại dễ bị cháy hơn và dễ bị ảnh hưởng do tính
di truyền suy giảm, các loài có các quần thể tự nhiên nhỏ đặc biệt rất nhạy
7
cảm với những đe dọa này. Những loài có các quần thể phân bố rộng (ví dụ
như phần lớn các loài thuộc họ Kim giao - Podocarpaceae), trong một số
trường hợp còn phân bố cả ở nước khác (như Du sam Keteleeria), có thể tạo
ra cảm tưởng rằng loài ít bị đe dọa hơn so với thực tế vì việc khai thác quá
mức và nạn phá rừng là những vấn đề của tất cả các nước ở Đông Nam Á.
Loài Hạt trần bị đe dọa nhất ở Việt Nam có lẽ là Hoàng đàn (Cupressus
funebris) ở vùng Đông Bắc. Hiện tại trong vòng 5 năm qua mới chỉ tìm thấy
được 1 cây còn lại trong tự nhiên. Các cây khác đều đã bị chặt lấy gỗ và bị
đào rễ làm hương. Thuỷ tùng (Glyptostrobus pensilis) là loài chỉ được biết ở
hai khu bảo tồn nhỏ của tỉnh Đắk Lắk. Phần lớn những cây còn lại (số này ít
hơn 250 cây) đều đã bị ảnh hưởng của lửa rừng. Hầu như toàn bộ sinh cảnh
của loài trên đầm lầy đã bị chuyển thành vườn cà phê và không thấy có cây tái
sinh, hai loài này đang đứng trước sự tuyệt chủng. Tình trạng của một loạt các
loài khác (Bách tán Đài Loan Taiwania cryptomerioides và Bách vàng
Xanthocyparis vietnamensis) có thể sẽ trở nên ở mức tương tự nếu không có
những hành động bảo tồn toàn diện được tiến hành.
Tóm lại: xuất phát từ thực tế các hoạt động nghiên cứu về các loài hạt
trần tại Vườn Quốc gia Pù Mát mới dừng lại ở mức phát hiện loài, thu thập số
liệu về phạm vi phân bố ở một số vùng, độ cao phân bố, các đặc điểm sinh
thái khác của một số loài cây hạt trần và đưa ra một số đề xuất để bảo tồn
chúng, mà chưa có công trình cụ thể nào đi sâu nghiên cứu về đặc điểm phân
bố, sinh thái và tình trạng bảo tồn các loài cây quý hiếm này. Những kinh
nghiệm nghiên cứu của thế giới và ở Việt Nam về các loài hạt trần kể trên sẽ
mang đến nhiều bài học bổ ích cho các nghiên cứu về cây hạt trần tại VQG Pù
Mát.
9
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu.
Một số loài cây Hạt trần trong phạm vi vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Đánh giá đa dạng loài và hiện trạng bảo tồn làm cơ sở đề xuất giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn một số loài hạt trần tại VQG
Pù Mát
2.3. Nội dung nghiên cứu.
- Nghiên cứu thành phần loài thực vật hạt trần.
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố các loài thực vật hạt trần.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và tái sinh tự nhiên của một số loài
thực vật hạt trần.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thực vật hạt trần
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu
Những thông tin, tư liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã
qua các dạng sinh cảnh của khu vực Khe Kèm, đỉnh mốc 167, và Thượng
nguồn Khe Chát.
Ngoài ra còn 2 tuyến điều tra phụ bao gồm.
- Tuyến Tam Đình - Tam Hợp.
- Tuyến Khe Bu.
Các tuyến khảo sát được mô tả ở phụ lục luận văn.
Trên các tuyến điều tra tiến hành thu thập các thông tin về các loài thực
vật quan tâm. Các thông tin bao gồm tên loài, xác định tọa độ và độ cao phân
bố bằng máy định vị GPS, xác định sơ bộ diện tích đám phân bố, hiện trạng
quần thể, thu tiêu bản, chụp ảnh...Các thông tin được ghi chép và phiếu điều
tra như sau.
11
Mẫu biểu 01: Biểu điều tra các cây theo tuyến.
Tuyến số:……………………………………………………………
Kiểu rừng chính:……………………………………………………………
Độ cao:……………….Độ dốc:……………….Hướng dốc:………….……
Ngày điều tra:………………..Người điều tra:……………..………………
TT Tên loài
D1.3
Hvn Ht
(cm) (m)
(m)
12
Bán kính của ô = đường kính tán lớn nhất có thể của cây trung tâm
2.4.3. Phương pháp nội nghiệp
3.4.3.1. Xử lý số liệu.
Số liệu được xử lý trên phần mềm Excel.
Tính trị số trung bình của các loài: D1.3(cm), Hvn (m), Hdc (m), Dt (m)
Dùng phương pháp so sánh cặp đôi để đánh giá kết quả
2.4.3.2. Phỏng vấn chuyên gia, mô tả, định loại
- Làm việc với các chuyên gia lâm nghiệp, bảo tồn thiên nhiên, tài
nguyên và môi trường ở địa phương, đặc biệt là các cán bộ chuyên môn của
Vườn quốc gia Pù Mát để thảo luận về:
+ Thành phần loài có mặt trong Vườn quốc gia Pù Mát từ đó sơ bộ xác
định phân bố các loài trên bản đồ (bản đồ phân bố lý thuyết).
+ Phân bố của một số loài trong Vườn quốc gia Pù Mát và những điểm
quan trọng khác.
- Tham vấn các nhà lãnh đạo địa phương, các chuyên gia đầu ngành,
các nhà khoa học chuyên môn liên quan đến các vấn đề nghiên cứu ....
- Căn cứ các dẫn liệu thu thập được từ nghiên cứu thực địa, sử dụng các
tài liệu chuyên khảo về hạt trần, Tuế Việt Nam và thế giới, Sách đỏ Việt Nam
2007(phần thực vật), các công bố liên quan trong Thực vật chí Campuchia,
Lào và Việt Nam; Thực vật chí Trung Quốc, Thái Lan, cây cỏ Việt Nam của
Phạm Hoàng Hộ (1999)….và tham vấn các chuyên gia đầu nghành về thực
vật của Trung tâm Bảo tồn Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,
Trường Đại học Lâm nghiệp, Trung tâm đa dạng sinh học (ĐH Lâm nghiệp)
để định tên và mô tả chính xác các loài(nấu cần thiết).
2.4.3.4. Tiến hành thống kê, phân tích đánh giá thực trạng tài nguyên thiên
nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu.
2.4.3.5. Phương pháp bản đồ, sơ đồ.
3.1.1. Điều kiện tự nhiên.
3.1.1.1. Vị trí địa lý.
VQG Pù Mát nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, có tọa độ địa lý: Từ
18046' - 19012' độ vĩ Bắc; Từ 104024' -104056' độ kinh Đông.
Cách thành phố Vinh khoảng 120 km đường bộ, thuộc 3 huyện Anh
Sơn, Con Cuông và Tương Dương. Trong đó:
- Huyện Anh Sơn có 6 xã gồm: Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Tường Sơn, Hoa
Sơn, Hội Sơn, Phúc Sơn.
- Huyện Con Cuông có 7 xã gồm: Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng
Khê, Chi Khê, Châu Khê, Lạng Khê.
- Huyện Tương Dương có 4 xã gồm: Tam Quang, Tam Đình, Tam
Thái, Tam Hợp.
Ranh giới của VQG, về phía Nam có chung 61 km với đường biên giới
quốc gia giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Phía Tây giáp các
xã Tam Hợp, Tam Đình, Tam Quang (huyện Tương Dương). Phía Bắc giáp
các xã Lạng Khê, Chi Khê, Lục Dạ, Môn Sơn (huyện Con Cuông). Phía Đông
giáp các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn).
VQG Pù Mát có chiều dài dọc biên giới Việt - Lào về phía Tây Nam
tỉnh Nghệ An, có chiều rộng trung bình khoảng 20 km (nơi hẹp nhất khoảng
15 km, nơi rộng nhất khoảng 25 km).
3.1.1.2. Địa hình địa mạo
VQG Pù Mát thuộc vùng núi cao, có địa hình hiểm trở, bị chia cắt
mạnh bởi hệ thống sông suối dày đặc, dộ dốc lớn. Độ cao biến động từ 2001.841m, trong đó 90% diện tích có độ cao
trung bình trong các tháng này xuống dưới 20 0C và nhiệt độ trung bình tháng
thấp nhất xuống dưới 180C (tháng giêng).
+ Ngược lại trong mùa hè, do có sự hoạt động của gió Tây Nam (gió
Lào) nên thời tiết rất khô nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7).
Nhiệt độ trung bình mùa hè lên trên 250C, nóng nhất vào tháng 6 và 7, nhiệt
độ trung bình là 290C. Nhiệt độ tối cao lên tới 420C ở Con Cuông và 42,70C ở
Tương Dương vào tháng 4 và 5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày
xuống dưới 30%. Nguy cơ cháy rừng thường xảy ra vào mùa này.
- Chế độ mưa ẩm:
+ Lượng mưa từ 1.268,3 mm (ở Tương Dương) đến 1.790 mm (ở Anh
Sơn), sự chênh lệch lượng mưa đã tạo nên các tiểu vùng khí hậu rõ rệt: vùng
khô ở phía Tây Bắc và vùng mưa nhiều ở phía Nam. Lượng mưa tập trung từ
tháng 5 đến tháng 10, chiếm 90 % lượng mưa cả năm. Mùa khô kéo dài từ