i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Lê Đức Thuận
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP BẢO TỒN MỘT SỐ LOÀI CHIM NƯỚC
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ii
Lê Đức Thuận
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP BẢO TỒN MỘT SỐ LOÀI CHIM NƯỚC
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác. Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
ĐHLN, tháng 03 năm 2013
Tác giả
Lê Đức Thuận
iv
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục
ii
Danh mục các từ viết tắt
v
Danh mục các bảng
vi
Danh mục các hình
vii
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU4
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu chim ở Việt Nam
4
1.2. Khái quát những công trình nghiên cứu chim ở Vườn quốc gia
3.5.6. Phương pháp xác định mối đe dọa đến loài và sinh cảnh của
chim nước 21
3.5.7. Tài liệu sử dụng trong phân loại và đánh giá
22
3.5.8. Phương pháp xử lý số liệu
23
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
24
3.1. Vị trí địa lý
24
3.2. Địa hình, đia chất, thổ nhưỡng 24
3.2.1. Địa hình
24
3.2.2. Địa chất, thổ nhưỡng 25
3.3. Khí hậu, thuỷ văn
25
3.3.1. Khí hậu
25
3.3.2. Thuỷ văn 26
3.4. Diện tích khu vực nghiên cứu và kiểu rừng 27
3.5. Đa dạng sinh học
28
3.5.1. Hệ sinh thái ngập nước 28
3.5.2. Hệ thực vật 28
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
31
4.1. Thành phần các loài chim nước tại VQG Bến En và các loài
chim nước được phát hiện trong thời gian thực hiện đề tài
31
4.1.1. Thành phần loài chim nước tại Bến En
4.4.2. Kết quả đánh giá các mối đe doạ đối với các loài chim nước
49
4.5. Đề xuất giải pháp quản lý và phát triển bền vững các loài chim
nước
51
4.5.1. Giải pháp bảo vệ sinh cảnh 52
4.5.2. Giải pháp tuyên truyền 52
4.5.3. Giải pháp hành chính 53
4.5.4. Tổ chức hoạt động du lịch xem chim tại Vườn Quốc gia Bến
En 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Nội dung
BGH
Ban giám hiệu
BTĐDSH
Bảo tồn đa dạng sinh học
Uỷ ban nhân dân
VQG
Vườn quốc gia
TS
Tiến sỹ
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
4.1 Danh lục các loài chim nước tại Vườn Quốc gia Bến En
Thành phần và số lượng các loài chim nước được quan sát
4.2
trên tuyến điều tra
4.3
Tổng hợp kết quả điều tra tại sinh cảnh làm tổ của Cò bợ
4.4
Vị trí làm tổ trên cây của Cò bợ
Tổ thành sinh thực vật cảnh kiếm ăn, cư trú và làm tổ của
4.5
các loài chim nước
Sự thay đổi thành phần, số lượng các cá thể và nhóm loài
4.6
nghiên cứu
21
42
48
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu hệ chim ở Việt Nam đa dạng và phong phú. Theo Nguyễn Cử, Lê
Trọng Trải và Karen Phillipps (2000), nước ta có 828 loài chim thuộc 81 họ
và 19 bộ. Trong số đó có khoảng 59% số loài chim di cư và khoảng 21% là
các loài chim nước1. Chim nước phân bố ở hầu khắp các vùng trong cả nước,
nhiều nhất là trên các vùng đất ngập nước ở đồng bằng (Sông, kênh rạch, hồ,
đập…), cửa sông, ven biển và rừng ngập mặn.
Tuy nhiên, do các tác động bất lợi và ngày càng tăng của con người
cùng với một số nguyên nhân khác đã làm cho nhiều loài chim nước bị đe doạ
ở mức độ khác nhau trên phạm vi quốc gia và quốc tế, trong đó có nhiều loài
đã và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Các loài chim nước phân bố rộng khắp
trên toàn cầu, đáng chú ý là trong số đó có số lượng các loài di cư rất lớn, và
rất hấp dẫn đối với nhiều người, do vậy, chúng có ý nghĩa đặc biệt đối với sự
phát triển du lịch sinh thái (du lịch xem chim) và giáo dục về bảo tồn thiên
nhiên, đây là một lĩnh vực du lịch đang phát triển ở Việt Nam. Chim nước có
thể được coi là nhóm loài chỉ thị tốt cho môi trường tự nhiên. Do vậy, nghiên
cứu các hệ sinh thái đất ngập nước trong đó có khu hệ chim nước có ý nghĩa
quan trọng về bảo tồn và các lĩnh vực liên quan khác.
Vườn Quốc gia (VQG) Bến En nằm trong Khu vực Bắc Trường Sơn,
nơi được xác định có giá trị đa dạng sinh học cao, trong đó có khu hệ chim.
Tại đây có nhiều sinh cảnh phù hợp đối với sự phân bố của các loài chim,
trong đó có khu hệ chim nước sống định cư – làm tổ và di cư. Cho đến nay,
tại VQG đã có một số nghiên cứu về khu hệ chim, có thể kể đến như Lê Vũ
các nhà hàng v.v. do vậy, trong những năm qua mặc dầu VQG đã tiến hành
nhiều hoạt động bảo vệ, song đặc biệt là đối tượng thợ săn vẫn thường lén lút
sử dụng súng săn, lưới để săn bắt chim trái phép ở những sinh cảnh vùng cư
trú (kiếm ăn, làm tổ) các loài chim nhất là các loài chim nước làm cho số
lượng của chúng ngày một bị suy giảm đáng kể. Mặt khác, trước sức ép về
phát triển kinh tế xã hội của người dân trong vùng, nhu cầu đất sản xuất ngày
3
càng tăng, diện tích rừng vùng đệm của Vườn đã giảm do việc chuyển đổi đất
lâm nghiệp sang canh tác nông nghiệp. Đồng thời do việc hình thành đập thuỷ
lợi Bến Mẩy nên mực nước dâng cao đến 37m đã làm cho một số sinh cảnh
đất ngập nước là nới kiếm ăn phù hợp của chim nước đã bị giảm. Trong canh
tác nông nghiệp người dân dùng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, đã làm ô nhiễm
và cạn kết nguồn thức ăn và nước uống cũng như môi trường sống của chim.
Những nguyên nhân trên đã dẫn tới sự biến động lớn về số lượng cá thể và số
loài chim nước trong vùng Mặc dù vậy, cho đến nay các nghiên cứu về khu
hệ và bảo tồn chim ở VQG Bến En và vùng phụ cận, trong đó có khu hệ chim
nước còn rất hạn chế
Trước những yêu cầu mới trong công tác bảo tồn thiên nhiên, tôi đã
thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và đề xuất giải pháp bảo
tồn một số loài chim nước tại Vườn quốc gia bến En”. Kết quả nghiên cứu
của đề tài sẽ là cơ sở để duy trì, bảo vệ nơi cư trú, sinh sản các quần thể chim
nước và góp phần phát triển bền vững đa dạng sinh học và du lịch sinh thái tại
Vườn Quốc gia Bến En.
4
do các tác giả sau đây thực hiện: Delacour và các cộng sự của ông là
Jabouille, Engelbach, David Beaulieu, Greenway và Lowe. Giữa các năm
1923 và 1939, Delacour và các cộng sự của ông đã tiến hành sáu đợt thám
hiểm điểu học ở Đông Dương, trong thời gian này họ đã thu thập 50.000 tiêu
bản chim cùng các số liệu về sinh thái và phân bố. Những bộ sưu tập này cho
đến ngay nay vẫn là bộ sưu tập lớn nhất về các loài chim ở Đông Dương và là
cơ sở của công trình mang tên Les Oiseaux de l Indochine Francaise. Các bộ
sưu tập quan trọng trong giai đoạn khác này là của H. Stevens thu ở Bắc Bộ,
Kelley - Roosevelt cũng thu được ở Bắc Bộ và Bjorkegen là người đã phát
hiện ra loài Mi núi Bà (Crosias langbianis)[1].
Giai đoạn thứ ba: Là từ sau Thế chiến thứ hai đến năm 1988. Phần đầu
của giai đoạn này là thời gian chiến tranh liên miên nên nghiên cứu điểu học
bị hạn chế, chỉ có một số thông tin phần mà lớn là của những tay xem chim
nghiệp dư người nước ngoài định cư ở Việt Nam như: Brunel, Wildash và
Fisher. Tuy nhiên sau khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ và thống nhất đất
nước vào năm 1975, công tác nghiên cứu chim được tiếp tục trở lại do các
nhà khoa học trong và ngoài nước thực hiện. Công trình nghiên cứu đáng chú
ý ở trong giai đoạn này là của Stepanyan và các đồng nghiệp Việt Nam thực
hiện ở trong chương trình nghiên cứu Việt - Xô ở Tây Nguyên, kết quả đã
công bố trong Xuất bản Các loài chim Việt Nam, trên cơ sở được điều tra
1978 - 1990. Một công trình khác cũng được xuất bản trong giai đoạn này là
Chim Việt Nam của Võ Quý, đây là cuốn sách hướng dẫn các loài chim Việt
Nam đầu tiên bằng tiếng Việt [1].
Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn này bắt đầu từ tháng 4 - 1988 với ba đợt
khảo sát thực địa của tổ chức bảo tồn chim quốc tế - ICBP (Nay là Birdlife
International) tại nhiều vùng trên cả nước, các đợt khảo sát thực địa này là lần
khảo sát chim đầu tiên kể từ trước thế chiến thứ II, các chuyến khảo sát này
6
và đặc biệt các loài chim đặc hữu cho đến nay đã được tìm thấy đều là những
loài chim rừng. Cho nên nếu xét trên mức độ liên quan về thành phần các quần
xã chim thì rừng Việt Nam có thể chia thành năm phân hạng chính: Rừng thường
xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi và rừng lá kim. Trong
đó rừng thường xanh chiếm tỉ lệ lớn nhất, khoảng 64% diện tích rừng Việt Nam
[1].
Rừng thường xanh, phân bố ở các vùng có mưa quanh năm xen lẫn với
thời kì khô hạn ngắn, rừng ưu thế bởi các loài cây lá rộng có lá quanh năm.
Rừng thường xanh là kiểu thảm thực vật tự nhiên có ở nhiều vùng đất thấp ở
phía Bắc và miền Trung Việt Nam và ở hầu hết các vùng núi. Các đai độ cao
thấp có kiểu rừng thường xanh thấp hơn, thành phần các loài cây đa dạng và
không có họ nào ưu thế. Các loài chim đặc trưng cho quần xã chim ở quần thể
rừng thường xanh đất thấp là: Nhược nâu (Anorrhinus tickelli), Phướn đất
7
(Carprococcyx renauld), Khách đuôi cờ (Temnurus temnurus) và các loài
chim đặc hữu trong bộ Gà. Ở đai cao khoảng 1.000m so với mặt nước biển,
rừng thường xanh đất thấp trở thành dạng chuyển tiếp sang Rừng thường
xanh trên núi. Rừng thường xanh trên núi có thể chia thành Rừng thường
xanh núi thấp phân bố ở đai cao thấp hơn 1.700m so với mặt nước biển, kiểu
rừng này ưu thế bởi các loài trong họ Biển, đặc trưng bởi sự có mặt của các
loài Đỗ quyên (Rhododendron).
Quần xã của các loài chim ở kiểu rừng núi thấp và núi cao khá giống
nhau với sự đa dạng của các loài thuộc nhóm Sáo, Trèo cây, các loài Khướu,
và các loài Chim Chích, mặc dù rừng thường xanh núi cao thành phần chim
không phong phú bằng rừng thường xanh đất thấp, nhưng có một số loài đặc
trưng như Khướu lùn đuôi hung (Minla strigula), Lách tác ngực vàng
(Alcippe chryotis) và Khướu mào họng đốm (Yuhina gularis). Rừng thường
thuộc miền Trung Việt Nam và Lào.
Rừng lá kim ưu thế, là các loài cây hạt trần. Có rất nhiều dạng rừng
hỗn giao giữa cây lá kim và cây lá rộng ở Việt Nam, nhưng quần xã chim của
các kiểu rừng này tương tự như nhau và cũng không có gì khác biệt lớn so với
quần xã chim của kiểu rừng thường xanh. Ở Việt Nam rừng lá kim tự nhiên
hầu như chỉ còn phân bố ở cao nguyên Đà Lạt. Kiểu rừng này ưu thế bởi loài
Thông ba lá (Pinus kesiya). Ngoài ra còn có những diện tích thông trồng đáng
kể ở khắp cả nước, tuy vậy kiểu rừng này không có tầm quan trọng trong
công tác bảo tồn chim. Quần xã chim rừng lá kim không đa dạng so với các
kiểu rừng tự nhiên khác do cấu trúc rừng đơn giản. Tuy nhiên sinh cảnh rừng
thông có một số loài không có ở các kiểu rừng khác như Vàng anh mỏ nhỏ
(Oriolus tenuirostris), Mỏ chéo (Loxia curvirostra), và loài đặc hữu của Việt
Nam Sẻ thông họng vàng (Carduelis monguilloti).
9
Ngoài ra ở Việt Nam còn có những sinh cảnh khác như Trảng cỏ tự
nhiên, Trảng cỏ và cây bụi thứ sinh, đất nông nghiệp và đất thổ cư. Trong các
sinh cảnh này, Trảng cỏ tự nhiên có ý nghĩa quan trọng nhất đối với các loài
chim. Sinh cảnh Trảng cỏ tự nhiên đã từng một thời phân bố rộng ở Việt Nam,
dọc các con sông xung quanh ranh giới của các vùng đất ngập nước theo mùa
và ở những khoảng trống trong rừng. Tuy vậy, phần lớn diện tích của kiểu
sinh cảnh này đã chuyển đổi thành đất nông nghiệp và chỉ còn những diện
tích nhỏ phân bố rải rác. Một số loài chim sinh sống ở vùng đồng cỏ phải
thích nghi dần với sinh cảnh thứ sinh, nhưng nhiều loài khác bị thu hẹp phân
bố dần vào các sinh cảnh Trảng cỏ tự nhiên còn sót lại, ví dụ loài Ô Tác
(Houbaropsis bengalensis), Chích đuôi dài (Graminicola bengalensis) và Sẻ
bụi lưng xanh (Saxicola jerdoni), tất cả các loài trên đều đang bên bờ tuyệt
chủng ở Việt Nam.
tranh ở Việt Nam, khai thác gỗ củi không bền vững và mở rộng diện tích nuôi
trồng thuỷ sản dẫn đến hầu hết diện tích rừng ngập mặn bị phá huỷ. Mặc dù
chỉ có rất ít và Đồng bằng Sông Cửu Long, kiểu sinh cảnh này là nơi có nhiều
sân chim quan trọng. Các bãi lầy gian triều phân bố rải rác ở dọc bờ biển của
Việt Nam, tập trung ở các cửa sông lớn. Đây là kiểu sinh cảnh quan trọng đối
với loài chim nước di cư do là nơi kiếm ăn quan trọng của các loài chim ven
biển, các loài Mòng biển và Nhàn, trong đó có một số loài bị đe doạ toàn cầu
như Dẻ mỏ thìa (Eurynorhychus pygmeus), Choắt lớn mỏ vàng (Tringa
guttifer), Mòng biển mỏ ngắn (Larus saundersi) và Cò mỏ thìa (Platalea
minor). Đáng tiếc là kiểu sinh cảnh này đang bị tác động ở mức độ cao do các
hoạt động khai thác nghêu sò và nhiều hoạt động khác của con người, trong
đó có việc trồng rừng ngập mặn ở nhiều nơi. Các đảo lớn ngoài khơi có rừng
che phủ như Côn Sơn là nơi ở thích hợp của hai loài chim rừng đặc trưng cho
các đảo xa bờ là Gầm ghì trắng (Ducula bicolor) và Bồ câu (Nicoba Caloenas
nicobarica). Các đảo đá nhỏ hơn cũng là nơi sinh sản quan trọng của nhiều
loài chim biển như các loài Nhàn, các loài chim điên. Tuy vậy các nghiên cứu
điểu học ở sinh cảnh này còn rất ít trong những năm gần đây [1].
11
1.2. Khái quát những công trình nghiên cứu chim ở Vườn quốc gia Bến En
Khu rừng đặc dụng Bến En được thành lập ngày 22/03/1990 theo
Quyết định số 307/QĐ/TH đến năm 1992 nâng cấp thành Vườn Quốc gia
theo Quyết định số 33/CT ngày 27/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng. VQG
Bến En là khu vực núi thấp mức độ đa dạng về số loài và cá thể rất phong
phú.
Năm 1999, Viện Điều tra quy hoạch rừng - Phân viện Bắc Trung Bộ đã
tiến hành điều tra Khu hệ động vật VQG Bến En. Theo tài liệu này đã xác
định được ở Vườn Quốc gia Bến En có 66 loài chim thuộc 16 bộ, 35 họ, bao
Sinh thái học cá thể (Autoechlogia);
Sinh thái học quần thể (Population);
Sinh thái học quần xã (Biocenose);
Sinh thái học cá thể nghiên cứu về quan hệ của từng cá thể (Của một
loài) với các điều kiện ngoại cảnh. Các giới hạn sinh thái, các tập tính sinh
sống, chu kỳ sống là những vấn đề cần được lưu ý trong sinh thái học cá thể.
Sinh thái học quần thể nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc, sự thích ứng
của một nhóm cá thể cùng loài trong điều kiện sống cụ thể. Trong sinh thái
học quần thể điều cần chú ý là các mối quan hệ nội bộ các cá thể và sự biến
động số lượng.
Sinh thái học quần xã nghiên cứu các nhóm loài sinh vật khác nhau ở
một khu vực tự nhiên. Điều cần được chú ý ở đây là mối quan hệ khác loài,
đặc điểm cấu trúc của quần xã và môi quan hệ giữa quần xã với ngoại cảnh.
Mục đích quan trong của sinh thái học động vật nói chung và sinh tháí
học quần thể chim nói riêng là tìm hiểu các mối quan hệ giữa động vật với các
13
điều kiện ngoại cảnh và các quy luật vận động của chúng. Đây là những kiến
thức cơ bản và quan trọng để con người có thể điều khiển xu thế phát triển
của quần thể theo hướng có lợi nhất.
Quần thể chim là một nhóm cá thể của cùng một loài sống trong một
khoảng không gian xác định. Như vậy quần thể là hình thức tồn tại của loài
trong điều kiện cụ thể của cảnh quan địa lý. Loài gồm có nhiều quần thể, và
mỗi quần thể có nhiều cá thể của loài họp lại. Các quần thể của các loài khác
nhau bỡi những đặc điểm sinh thái, sinh lý, hình thái di truyền và địa lý phân
bố.
Nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của quần thể;
Nghiên cứu về mật độ và sự sinh trưởng của quần thể;
- Xác định các ưu tiên bảo tồn các vùng và các sinh cảnh quan trọng:
Các loài chim phân bố phân tán và rất đa dạng ở tất cả các vùng trên
thế giới tại các sinh cảnh và các độ cao khác nhau. Các nghiên cứu của
BirdLife cũng đã chỉ ra rằng phần lớn những vùng được xác định là quan
trọng dựa trên cơ sở khu hệ chim thì cũng đồng thời rất quan trọng đối với các
nhóm động vật, thực vật khác.
- Bảo tồn các vùng đất ngập nước quan trọng của các loài chim nước:
Đây là sinh cảnh của nhiều loài chim nước. Sự phá huỷ các vùng đất
ngập nước trong tự nhiên để canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản hiện
đang đe doạ sự tồn tại của sinh cảnh tự nhiên và bán tự nhiên, do vậy tầm
quan trọng bậc nhất phải bảo tồn những sinh cảnh này.
- Mở rộng hệ thống rừng đặc dụng cho Việt nam vào thế kỷ 21, xây
dựng năng lực cho cán bộ nghiên cứu về chim, đánh giá các khu bảo vệ là
những ưu tiên trong việc bảo tồn các loài chim nước [1].
15
Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của một số loài chim nước tại VQG
Bến En; nghiên cứu về thức ăn và cách tìm kiếm, sinh sản của chúng bao gồm
mùa sinh sản, làm tổ đẻ trứng và ấp và nuôi con non; hiện tương di cư của
chim, chim và sinh cảnh, chim và con người, nhịp điệu hoạt động ngày đêm.
Từ đó tìm ra các giải pháp bảo tồn chúng [5].
16
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU