MỤC LỤC
Nội dung
I- ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang
2
1. Lý do chọn đề tài
2
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Phương pháp nghiên cứu, phạm vi và kế hoạch nghiên cứu cứu
2
II- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sớ lí luận
2. Thực trạng của vấn đề
3. Các biện pháp tiến hành
4. Kiểm nghiệm
III- KẾT LUẬN, VÀ ĐỀ XUẤT
3
3
3-5
5 - 16
16
nghiên cứu đề tài “Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài
thơ cho học sinh lớp 9”
2. Mục đích nghiên cứu.
Từ những lí do thực tiễn, tôi nghiên cứu đề tài này nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn
của người học và nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn, nhất là nghị luận về
văn chương nói chung và nghị luận về tác phẩm thơ nói riêng. Đồng thời nhằm
trao đổi với đồng nghiệp một vài kinh nghiệm, qua đó giúp cho học sinh lớp 9 nắm
vững hơn phương pháp làm kiểu bài này, nâng cao chất lượng bài thi, bài kiểm tra
và kết quả học tập cho các em.
3. Phương pháp nghiên cứu, phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
a. phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận văn học
- Phương pháp điều tra sư phạm.
2
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đối chiếu kết quả bài làm của hai lớp
9ABtrước và sau khi áp dụng kinh nghiệm của đề tài trong giảng dạy.
b. phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
- Nghiên cứu đối tượng học sinh trung học lớp 9AB thông qua các tiết dạy
chương trình chính khóa, chương trình bổ trợ,...
- Nghiên cứu cách thức đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
của đồng nghiệp.
- Nghiên cứu đề tài qua việc các em ôn tập, thực hành tạo lập văn bản nghị
luận văn chương và nhất là thơ.
- Kết quả làm bài văn nghị luận về tác phẩm thơ.
II- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở lí luận:
Chúng ta đã biết rằng tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật mà người
đề ra làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ, trong đó có nhiều bài văn của
học sinh khiến người chấm dở khóc dở cười bởi những sai sót quá cơ bản của học
sinh. Ngoài các lỗi về chính tả, dùng từ, diễn đạt…nhiều em còn sai kiến thức cơ
bản do suy diễn theo cảm tính, rất ít học sinh biết rung động trước những tác
phẩm văn học, đặc biệt là thơ. Do vậy khi làm bài học sinh thường suy luận chủ
quan hoặc tái hiện một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên giảng, hoặc
là diễn nôm bài thơ mà chưa biết phân tích. Bình luận sâu sắc các tín hiệu nghệ
thuật thậm chí có chỗ ‘râu ông nọ cắm cằm bà kia” nhầm nội dung tác phẩm này
với tác phẩm khác, tác giả này với tác giả khác. Bố cục bài làm chưa rõ ràng,
mạch lạc ố một số bài yếu còn gạch đầu dòng ở mỗi ý…Sở dĩ chất lượng bài làm
văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ của học sinh thấp như vậy là do nhiều
nguyên nhân.
b. Về phía giáo viên:
Mặc dù những năm gần đây hầu hết giáo viên đã có ý thức đổi mới phương
pháp dạy học, nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức chứ chưa
đem lại hiệu quả như mong muốn. Ngay trong những giờ dạy các văn bản thơ bước chuẩn bị quan trọng đầu tiên để các em làm tốt bài văn nghị luận nhiều giáo
viên vẫn cứ quen thói cũ dạy theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều : giáo viên
giảng giải, học sinh lắng nghe ghi chép nên giờ học tác phẩm văn chương chưa
thu hút được sự chú ý của học sinh, nhiều em tỏ ra bàng quan, thờ ơ. Mặt khác
trong giờ hướng dẫn rèn luyện cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
hầu hết giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh một cách chung chung theo 2 tiết trong
sách giáo khoa nên học sinh không có kĩ năng vận dụng kiến thức vào để làm bài.
c. Về phía học sinh:
Phần lớn học sinh hiện nay không ham muốn học tập môn Ngữ văn, nhất là
ngại làm những bài văn. Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một
phần cũng do làm văn quá khó, lại mất nhiều thời gian. “Công thức” làm văn cho
các em lại không được hình thành cụ thể. Các em không phân biệt rõ các thao tác
nghị luận chính mà mình sử dụng. Càng ngày, kĩ năng tạo lập văn bản của học
sinh càng kém hơn, và rất hiếm có những bài văn nghị luận có được sức hấp dẫn,
thuyết phục bởi cách lập luận rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận
9A
38
1
2.6
8
21
13 34.2 12 31.5 4
10.5
9B
35
0
0
7
20
10
28.5
15
42.8
3
Thơ là nghệ thuật của ngôn từ. Tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật của thơ
được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, vần, nhịp, cách sử dụng dấu câu..
Vì vậy yêu cầu:
5
+ Nôi dung: bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần nêu lên được các nhận
xét, đánh giá và sự cảm thụ riêng của người viết. Những nhận xét, đánh giá ấy phải
gắn với sự phân tích, bình giá ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, nội dung cảm xúc của
tác phẩm.
+ Lời văn: phải gợi cảm, thể hiện những rung động chân thành của người viết.
+ Bố cục: Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần có bố cục rõ ràng, mạch
lạc
-Các bước làm bài văn nghị luận về bài thơ, đoạn thơ:
Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý:
-Tìm hiểu đề: Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng nhưng lâu nay nhiều khi học
sinh thường bỏ qua dẫn đến tình trạng làm lệch hướng, lạc thể loại của đề bài yêu
cầu (lạc đề). Vậy chúng ta phải làm thế nào?
+ Giáo viên yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài, tìm và gạch chân những từ ngữ
quan trọng để xem xét, xác định chính xác thể loại nghị luận cần hướng tới?
+ Xác định thể loại, kiểu bài nghị luận? (chú ý từ: suy nghĩ, phân tích, cảm nhận để
thực hiện đúng phương pháp làm bài).
Hiện nay nhiều em học sinh lớp 9 đang băn khoăn lo lắng: “Nhiều lúc em không
biết cái mình đang viết là phân tích hay cảm nhận.” Và nếu thầy cô ra hai đề “Em
hãy phân tích đoạn thơ trên” hoặc cảm nhận của em về đoạn thơ trên” thì em sẽ làm
hoàn toàn giống nhau…Đó là những lời bộc bạch chân thành dễ hiếu. Bởi vì phân
tích và cảm nhận là những thao tác cơ bản của kiểu bài nghị luận văn chương. Mà
trong chương trình Ngữ văn 9 tâp 2 có 6 tiết cung cấp kiến thức về nghị luận văn
chương (Nghị luận về thơ và nghị luận về truyện) nhưng lại không có một tiết học
phục. Trong cảm nhận phải có phân tích để đào sâu, làm điểm tựa, làm đòn bẩy cho
cảm xúc thăng hoa cất cánh. Hay nói cách khác, mọi rung động, cảm xúc của người
viết bắt nguồn từ sự phân tích bình giá ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu…nhân vật, cốt
chuyện hay chủ đề của tác phẩm . Sau đây xin dẫn ra một ví dụ cụ thể để các em
cùng xem xét:
Ví dụ: Cho đoạn thơ: Vẫn còn bao nhiêu nắng/ Đã vơi dần cơn mưa/ Sấm cũng bớt
bất ngờ/ Trên hàng cây đứng tuổi. (Sang thu, Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập hai)
Đề 1: Phân tích đoạn thơ trên
Bài làm…”Sang thu, cảnh vật thời tiết thay đổi. Tất cả còn những dấu hiệu mùa hạ
nhưng đang giảm dần mức độ, cường độ, từ gay gắt chuyển hóa thành dịu êm. Phép
tiểu đối giữa nắng và mưa, vẫn còn và đã vơi thể hiện sự phân hóa mong manh giữa
hai mùa. Bởi vì làm sao có thể đong đếm đầy vơi những dấu hiệu của thiên nhiên
lúc giao mùa. Khi đất trời sang thu, những hàng cây lâu năm không còn bất ngờ
trước những tiếng sấm chuyển mùa nữa. “Sấm “ và “hàng cây đứng tuổi” là hình
ảnh ẩn dụ. Sấm chỉ những vang động, những sóng gió cuộc đời. Còn “hàng cây
đứng tuổi” chỉ những người từng trải, thường điềm tĩnh chín chắn thêm trước
những vang động sóng gió cuộc đời.
Từ những thay đổi của mùa thu đời người, để rồi ta thấu hiểu rằng “Hãy biết chấp
nhận bình tĩnh sống với lòng tin. Hãy mở rộng lòng mình để yêu thiên nhiên, đất
nước, con người”
Đề 2: Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ trên.
Bài làm: …“Vẫn là nắng, mưa, sấm chớp, bão giông nhưu mùa hạ, nhưng mức độ
đã khác rồi. Để ý sẽ thấy cái gì cũng bắt đầu đi vào chừng mực, vào thế ổn định. Và
cái “đứng tuổi” của cây là cái chốt cửa để mở sang một thế giới khác: thế giới sang
thu của hồn người. Vẻ chín chắn điềm tĩnh của cây trước sấm sét bão giông hay
chính là sự từng trải chín chắn của con người sau những dâu bể cuộc đời?
Ở cái tuổi ấy, con người một mặt sâu sắc thêm, mặt khác lại khẩn trương gấp gáp
hơn vì quỹ thời gian không còn nhiều nữa.Thì ra, trước mắt việc đi mãi, ngoảnh
đầu thu đến rồi. Bốn mùa luân chuyển vô hình, lặng lẽ; bỗng chợt thu. Đời người
Bố cục chung của bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:
Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét, đánh giá của
mình.
Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, nhận xét, đánh giá về nội dung và
nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
Kết bài: Khái quát chung về giá trị và ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.
Bước 3: Viết bài.
-Khi thực hiện bước này, nhất thiết người viết phải bám sát vào dàn bài đã lập
để triển khai hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng.
-Về hình thức bài văn: bố cục của bài viết, các đoạn trong bài phải được trình
bày theo trình tự lô gic, có sự liên kết chặt chẽ cả nội dung lẫn hình thức, các câu
trong đoạn phải thống nhất với nội dung của đoạn. Các đoạn trong bài được trình
bày theo các cách lập luận (diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, song hành…)
8
-Về nội dung của bài văn: tùy từng yêu cầu của đề bài và phần dàn ý đã lập mà
chúng ta triển khai các luận điểm rõ ràng. Tránh tình trạng diễn nôm bài thơ.
Bước 4: Đọc và sửa lỗi.
Đây là bước cuối cùng khi hoàn thiện bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ.
Người viết phải có thói quen rà soát lại bài làm của mình để sửa lỗi về nội dung lẫn
hình thức.
- Về nội dung, người viết phải soát lại hệ thống luận điểm, luận cứ.
-Về hình thức, người viết phải soát lại bố cục, các đoạn văn, các câu văn diễn
đạt, lỗi chính tả thường mắc phải.
c. Các dạng bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ:
Lưu ý đối tượng nghị luận một đoạn thơ, bài thơ rất đa dạng, bao gồm: nghị luận
về một đoạn thơ, nghị luận về một bài thơ, nghị luận về một khía cạnh nội dung,
nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ hoặc có thể là nghị luận tổng hợp từ hai ba đoạn,
bài thơ trở lên.
thơ tiêu biểu để phân tích và làm dẫn chứng minh hoạ.
Ví dụ: Em hãy phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh
Cách làm: Đối với đề này bài làm cần đáp ứng được các yêu cầu sau:
Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm
Hữu Thỉnh thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Ông
là người viết nhiều, viết hay về quê hương và cuộc sống con người, đặc biệt là về
mùa thu. Với tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, Hữu Thỉnh đã phát hiện ra những chuyển
biến rất nhẹ nhàng của đất trời khi mùa thu đến mà với những bộn bề công việc
người ta rất khó có thể nhận ra. Với bài thơ “Sang thu”(sáng tác 1977) Hữu Thỉnh
đã góp vào nền thơ hiện đại Việt Nam một bức tranh thu với những nét mới mẻ,
sáng tạo, đầy ắp hơi thở của sự sống.
Thân bài: Phân tích bài thơ - học sinh có thể đi phân tích theo nhiều cách
khác nhau có thể phân tích theo từng khổ cũng có thể phâm tích theo mạch cảm
xúc.
Khổ 1: Là những dự cảm mùa thu đã về
Phân tích những hình ảnh, hiện tượng thể hiện sự biến chuyển của đất trời
lúc sang thu: tác giả đã cảm nhận qua nhiều yếu tố, bằng nhiều giác quan và qua sự
rung động thật tinh tế.
- Hương ổi lan vào không gian, phả vào gió se
- Sương giăng mắc nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ
xóm.
- Tâm trạng nhà thơ ngỡ ngàng, cảm xúc bâng khuâng qua các từ “bỗng”,
“hình như”
Khổ 2 và 3: Miêu tả bức tranh thiên nhiên đất trời lúc sang thu
- Từ khung cảnh chật hẹp nơi làng quê, nhà thơ đã dần hé mở thêm cho
không gian cả chiều cao, rộng, sâu. Đầu tiên nhà thơ quan sát sự vật ở tầng thấp sau
đó đến tầng cao. Chú ý phân tích hình ảnh “có đám mây mùa hạ- Vắt nửa mình
sang thu”. Đây là hình ảnh thú vị thể hiện sự liên tưởng phong phú và sự sáng tạo
độc đáo, mới mẻ của nhà thơ.
- Phân tích hình ảnh thiên nhiên khổ cuối: Khi mùa thu sang, những dấu hiệu
+ Trình tự cơ bản của bài nghị luận về một đoạn thơ cần lưu ý:
Mở bài: Giới thiệu khái quát về vị trí, nội dung của đoạn thơ trong toàn bài thơ (chú
ý các thao tác trích dẫn đoạn thơ nếu là đoạn ngắn)
Thân bài: Tập trung phân tích giá trị về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ được
yêu cầu nghị luận, tránh lạm dụng trích dẫn tư liệu mở rộng quá nhiều.
Kết bài: đánh giá chung về đoạn thơ trong mối quan hệ với tư tưởng, chủ đề của tác
phẩm.
Ví dụ:
Phân tích đoạn thơ :
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Mùa xuân nho nhỏ- Thanh Hải
Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn thơ “Mùa xuân nho nhỏ”
là một trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Thanh Hải, sáng tác 1980- không bao
lâu trước khi nhà thơ qua đời.Bài thơ là tiếng lòng tha thiết yêu mến và gắn bó với
11
thiên nhiên, đất nước, cuộc đời thể hiện ước nguyện chân thành được cống hiến,
góp một mùa xuân nho nhỏ của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc. Đoạn thơ thể
hiện rõ nhất lẽ sống cao đẹp ấy của nhà thơ là:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Kết bài: Khái quát chung
Tóm lại, với thể thơ 5 chữ, nhịp thơ tha thiết sâu lắng, hình ảnh thơ đẹp giàu
ý nghĩa, ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu. Đoạn thơ đã đem đến cho người đọc một bản
12
tình ca yêu đời,một lẽ sống cao đẹp của nhà thơ sông Hương núi Ngự. Đây cũng là
đoạn thơ đặc sắc kết tinh vẻ đẹp của cả bài thơ tiêu biểu cho hồn
thơ Thanh Hải: nồng nàn, dịu ngọt, thiết tha và sâu lắng.
c3. Dạng bài nghị luận về một khía cạnh của bài thơ, đoạn thơ:
+ Đề nghị luận có thể tập trung ở một phương diện, một khía cạnh cụ thể về
nội dung hay nghệ thuậtcủa bài thơ, đoạn thơ. Ví dụ với bài “Bếp lửa” của Bằng
Việt đề có thể yêu cầu học sinh trình bày cảm nhận về hình ảnh người bà và tình bà
cháu(nội dung),hoặc phân tích ý nghĩa của hình tượng bếp lửa(nghệ thuật). Hay với
bài “Đồng chí” của Chính Hữu, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến
Duật đề có thể yêu cầu cảm nhận về hình tượng người lính(nội dung), hay bàn về
bút pháp hiện thực, lãng mạn(nghệ thuật).
+ Khi làm kiểu bài này, cần xác định trọng tâm nghị luận(tức khía cạnh cụ
thể mà đề yêu cầu). Tuy nhiên cần tránh tình trạng tách rời hoàn toàn nội dung và
nghệ thuật trong quá trình phân tích, cảm nhận. Khi gặp đề bài có yêu cầu thiên về
khai thác phương diện nội dung cần đánh giá được các yếu tố nghệ thuật thể hiện
nội dung đó. Trái lại gặp đề bài có yêu cầu thiên về khai thác phương diện nghệ
thuật cần rút ra nội dung thể hiện.
Ví dụ 1: Phân tích nét nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Du trong việc miêu tả
chân dung nhân vật qua đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” (Trích “Truyện Kiều”)
Cách làm: Đây là đề yêu cầu nghị luận về khía cạnh nghệ thuật của đoạn thơ. Đối
với đề này, bài làm cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
Mở bài: Giới thiệu khái quát về Nguyễn Du
Trên thi đàn văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Du là thiên tài văn học.
Đặc biệt là ngòi bút miêu tả chân dung nhân vật.Với đoạn trích “Chị em Thuý
Cách làm:
Với đề này yêu cầu học sinh chủ yếu nghị luận về phương diện nội dung
(Nhân vật trữ tình trong thơ- người lính sau chiến tranh). Vì vậy bài làm cần làm rõ
được các nội dung sau:
Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm hoặc giới thiệu về hình ảnh
người lính sau chiến tranh.
Thân bài: Phân tích những suy tư của người lính sau chiến tranh:
- Trong quá khứ(thời tuổi thơ và những năm tháng chiến tranh ở rừng) con
người sống gắn bó, giao hoà, thuỷ chung với thiên nhiên đồng,sông, bể, rừng
(biểu tượng cho hình ảnh đất nước bình dị, hiền hậu) tiêu biểu là ánh trăng. Trăng
và người trở thành tri kỉ tưởng như không bao giờ có thể quên được.
- Khi chiến tranh kết thúc, người lính trở về bị hấp dẫn bởi cuộc sống hiện
đại đầy đủ nơi đô thị mà thờ ơ, vô tình với những ngày gian khổ cùng đồng chí
đồng đội-> trăng trở thành người dưng qua đường.
- Trong hoàn cảnh bất ngờ, ánh sáng nhân tạo vụt tắt, bóng tối bao trùm,
vầng trăng xuất hiện khiến con người ngỡ ngàng. Trước người bạn vô tình ấy, trăng
chẳng nói chẳng trách, khiến người lính cảm thấy có cái gì rưng rưng
- Ánh trăng trước sau vẫn vậy: mộc mạc, giản dị và thuỷ chung, tình nghĩa.
Trăng vẫn lặng lẽ tròn đầy một cách trong sáng vô tư mặc cho thời gian trôi, mặc
cho bầu bạn xưa ai đó quay lưng. Nhưng trăng cũng nghiêm khắc nhắc nhở, khơi
gợi niềm xúc động, đánh thức lương tâm để con người nhận ra sự vô tình vô nghĩa
của mình.
Kết bài : Đánh giá chung
Với giọng điệu tâm tình, tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm. Bài thơ là lời
tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó
với thiên nhiên đất nước bình dị, hiền hậu. Qua đó gợi nhắc, củng cố ở người đọc
thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ
c4. Dạng nghị luận tổng hợp về thơ:
14
môi trường chiến đấu khác nhau.
+ Anh bộ đội trong bài thơ “Đồng chí”, họ là những người lính xuất thân từ
nông dân bình dị, mộc mạc. Cuộc sống trong thời kì đầu kháng chiến chống Pháp
còn thiếu thốn gian khổ. Nét nổi bật ở những người lính này đó là tình đồng đội,
đồng chí của những con người cùng chung cảnh ngộ, cùng chung lí tưởng chiến
đấu, là tình thương của những con người tri âm tri kỉ.
+ Anh bộ đội trong bài “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến
Duật là những người lính tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ có học
vấn, có bản lĩnh chiến đấu, có đời sống tình cảm tâm hồn, khí phách, khí thế mới
mang tính thời đại. Họ trẻ trung, sôi nổi hơn và được đặt trong hoàn cảnh chiến
đấu ác liệt hơn.
- Đánh giá:
15
+ Từ buổi đầu kháng chiến chống Pháp đến cuộc kháng chiến chống Mĩ ác
liẹt, hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ đã liên tục phát triển lên một tầm cao mới, rõ nhất
là ở tư thế ung dung, hiên ngang của họ.
+ Hai bài thơ, trong hai giai đoạn văn học nhưng đều đã hoàn thành xuát sắc
sứ mạng của thi ca sau Cách mạng tháng Tám là thể hiện nhân vật trung tâm của
thời đại một cách cao đẹp – Anh bộ đội cụ Hồ. Đó là những người lính cùng chiến
đấu cho hoà bình, độc lập tự do của Tổ quốc. Đặc biệt họ đều là những con người
giàu lòng yêu nước, yêu quê hương, có tình đồng chí đồng đội sâu nặng, bền vững.
4. Kiểm nghiệm:
Trên đây là những biện pháp mà bản thân tôi đã áp dụng trong năm học
2012- 2013 để hướng dẫn học sinh làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Sau
khi áp dụng đề tài này vào thực tế giảng dạy, chất lượng làm bài nghị luận về một
đoạn thơ, bài thơ của học sinh lớp tôi trực tiếp giảng dạy đã nâng cao rõ rệt. Giờ
đây tình trạng học sinh làm một bài nghị luận về một đoạn thơ hay bài thơ chỉ có
nửa trang giấy hoặc chỉ viết có một đoạn văn không còn nữa. Bây giờ mỗi khi gặp
35
3
8.5
10
28.5
16
45.7
6
17.1
0
0
III - KÕt luËn vµ ĐỀ XUẤT:
Có thể nói nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là một dạng làm văn khó đối
với học sinh lớp 9. Mặc dù lí thuyết theo phân phối chương trình các em chỉ được
học 2 tiết nhưng đa số các bài thi học kì II và thi vào THPT câu tự luận đề lại ra
vào dạng này. Theo tôi đó là một cách tốt để đánh giá lực học của học sinh. Nó
buộc học sinh phải cải tiến cách học và biết phương pháp thể hiện kiến thức.
Những dạng bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ trên đây đòi hỏi học sinh phải
vận dụng kiến thức tổng hợp của mình từ bài học hiện tại, từ những năm trước và
Nga An, ngày9 tháng 4 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Tôi xin cam đoan SKKN trên là của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện
Nguyễn Thị Xuyến
17
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ CHO HỌC SINH LỚP 9
Người thực hiện: Nguyễn Thị Xuyến
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Nga An
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn
18
THANH HOÁ NĂM 2013-2014
19