BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LIỀU LƯỢNG PHÂN LÂN ĐẾN
SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA
GIỐNG ĐẬU XANH V 91 – 15 TẠI XÃ XUÂN THIỆN
HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI
SVTH: Đỗ Ngọc Thành
Ngành: Nông Học
Khóa: 2007 – 2011
Tháng 08/2012
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LIỀU LƯỢNG PHÂN LÂN ĐẾN
SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA
GIỐNG ĐẬU XANH V 91 – 15 TẠI XÃ XUÂN THIỆN
HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI
Tác giả:
Đỗ Ngọc Thành
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
Kỹ sư ngành Nông học
Giáo viên hướng dẫn
ThS. Lê Văn Dũ
ii
TÓM TẮT
Đề tài “Ảnh hưởng của một số liều lượng phân lân đến sinh trưởng, phát
triển và năng suất của giống đậu xanh V 91 – 15 tại xã Xuân Thiện, huyện Thống
Nhất, tỉnh Đồng Nai”.
Sinh viên thực hiện: Đỗ Ngọc Thành, Giáo viên hướng dẫn ThS. Lê Văn Dũ.
Đề tài được thực hiện từ 26/02 – 03/05/2012, tại xã Xuân Thiện, huyện Thống
Nhất, tỉnh Đồng Nai. Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu
nhiên (RCBD) gồm 5 nghiệm thức với 5 mức phân lân: 0; 30; 60; 90; 120 kg P2O5/ha
với lượng bón tương ứng 0; 187,5; 375; 562,5; 750 kg Super lân/ha, 3 lần lặp lại với
giống đậu xanh V91 – 15, tổng diện toàn thí nghiệm kể cả các hàng bảo vệ là 400 m2.
Trong đó, nghiệm thức bón 0 kg P2O5/ha được chọn làm đối chứng, theo tập quán canh
tác đậu xanh của người dân tại địa phương không sử dụng lân. Ngoài phân lân, các quy
trình kỹ thuật được áp dụng theo phương thức canh tác tại địa phương.
Sau hơn 2 tháng thực hiện đề tài kết quả thu được như sau:
Thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số lá, số cành, số lá trên cành hầu như
không khác biệt giữa các nghiệm thức bón phân lân. Nhưng tổng số nốt sần, tổng số
nốt sần hữu hiệu và tỉ lệ nốt sần hữu hiệu trên cây đậu xanh là những chỉ tiêu mà phân
lân có ảnh hưởng rõ nhất và ảnh hưởng đến năng đậu xanh, nghiệm thức bón 120 kg
P2O5/ha có tổng số nốt sần, tổng số nốt sần hữu hiệu và tỉ lệ nốt sần hữu hiệu trên cây
cao nhất lần lượt là 30,87 nốt sần/cây, 29,8 nốt sần hữu hiệu/cây và 96,57% số nốt sần
hữu hiệu trên cây.
Phân lân cũng không ảnh hưởng đến số quả trên cây, số quả chắc trên cây, số
hạt trên quả, tỉ lệ hạt hạt chắc trên quả, trọng lượng 100 hạt, nhưng có ảnh hưởng đến
số hạt chắc trên quả giữa các mức phân lân.
Năng suất thực thu ở nghiệm thức bón 120 kg P2O5/ha là cao nhất đạt 1545
kg/ha, nghiệm thức bón 0 kg P2O5/ha (đối chứng) chỉ đạt 1400,5 kg/ha và thấp nhất là
1.2.1 Mục đích ................................................................................................................. 2
1.2.2 Yêu cầu ................................................................................................................... 2
1.2.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài ...................................................................................... 2
Chương 2 TỔNG QUAN.................................................................................................3
2.1 Nguồn gốc, lịch sử phát triển và phân loại cây đậu xanh .......................................... 3
2.1.1 Nguồn gốc, lịch sử phát triển ................................................................................. 3
2.1.2 Phân loại ................................................................................................................. 3
2.2 Tình hình nghiên cứu đậu xanh trên thế giới và trong nước ..................................... 4
2.2.1 Tình hình nghiên cứu đậu xanh trên thế giới.......................................................... 4
2.2.2 Tình hình nghiên cứu đậu xanh trong nước ........................................................... 4
2.3 Đặc điểm thực vật của cây đậu xanh ......................................................................... 6
2.3.1 Rễ ............................................................................................................................ 6
2.3.2 Thân và cành........................................................................................................... 6
2.3.3 Lá ............................................................................................................................ 7
2.3.4 Hoa......................................................................................................................... 7
2.3.5 Quả.......................................................................................................................... 7
2.3.6 Hạt .......................................................................................................................... 7
2.4 Giá trị của đậu xanh ................................................................................................... 7
v
2.5 Vai trò của lân trong sự sống của cây trồng .............................................................. 8
2.6 Một số nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cây đậu xanh ...................................10
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................11
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ...........................................................................11
3.2. Các điều kiện chung trong thời gian tiến hành thí nghiệm ....................................11
3.2.1 Đặc điểm về đất đai ..............................................................................................11
3.2.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết ...................................................................................12
lá trên cành cấp 1 của cây đậu xanh ..............................................................................26
4.5 Ảnh hưởng của các liều lượng phân lân đến số nốt sần và số nốt sần hữu hiệu trên
cây đậu xanh ..................................................................................................................27
4.6 Ảnh hưởng của các liều lượng phân lân đến khả năng hình thành quả và hạt của
cây đậu xanh ..................................................................................................................29
4.7 Ảnh hưởng của các liều lượng phân lân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất của cây đậu xanh ....................................................................................................30
4.8 Tình hình sâu, bệnh hại và cỏ dại ............................................................................32
4.8.1 Sâu hại ..................................................................................................................32
4.8.2 Bệnh hại ................................................................................................................33
4.8.3 Cỏ dại ....................................................................................................................34
4.9 Hiệu quả kinh tế.......................................................................................................35
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ..........................................................................37
5.1 Kết luận....................................................................................................................37
5.2 Đề nghị ....................................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................39
PHỤ LỤC ......................................................................................................................40
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
Đ/C
TGST
Thời gian sinh trưởng
NSLT
Năng suất lý thuyết
NSTT
Năng suất thực thu
P100
Trọng luợng 100 hạt
AVRDC
Trung tâm nghiên cứu và phát triển Rau Quả Châu
Á (Asian Vegetable Research and Development
Center)
viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất nơi thí nghiệm ............................................................11
Bảng 3.2 Một số yếu tố thời tiết trong thời gian thí nghiệm từ tháng 02 – tháng 05 năm
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Đậu xanh là một trong những cây đậu đỗ quan trọng của nước ta. Là cây trồng
có thời gian sinh trưởng ngắn, thích ứng với nhiều loại đất canh tác, dễ tính, đầu tư ít,
kỹ thuật canh tác đơn giản, có thể trồng thuần, trồng xen với các cây trồng khác, hoặc
trồng gối vụ. Năng suất và hiệu quả kinh tế cao chính là những lí do quan trọng khiến
cho cây đậu xanh đã và đang trở thành đối tượng đáng chú ý nên được trồng ở nhiều
nơi trong cả nước.
Tình hình sản xuất, tiêu thụ và chế biến đậu xanh ở nước ta đang có chiều
hướng gia tăng nhờ khai thác được một số ưu điểm quan trọng của đậu xanh. Đó là khả
năng cung cấp dinh dưỡng cao, dễ tiêu hoá, khả năng cải tạo đất nhờ sự cộng sinh của
vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) với hệ rễ và có giá trị xuất khẩu. Trên thế giới cây đậu
xanh được biết đến và đang được tiêu thụ rất mạnh ở các nước Đài Loan, Ấn Độ, Thái
Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Tây Âu…
Vùng Đông Nam Bộ nói chung và cây đậu xanh nói riêng có quy mô rất lớn
chiếm khoảng 26% diện tích gieo trồng toàn quốc. Mặt khác, bản thân cây đậu xanh là
một cây trồng truyền thống nhưng người sản xuất rất ít quan tâm đầu tư nên cây đậu
xanh thường sinh trưởng, phát triển và cho năng suất kém. Trong khi đó, đậu xanh là
một loại cây trồng phụ không phải chỉ ở năng suất và sản lượng mà còn ở tính chất sản
xuất và manh mún. Sản xuất đậu xanh ở Việt Nam hiện nay vẫn bị ảnh hưởng bởi tập
quán canh tác cũ. Trong đó việc trồng chay trên đất nghèo dinh dưỡng và ít đầu tư
thâm canh vẫn còn phổ biến ở nhiều vùng sản suất đậu xanh.
Phân bón cũng đang là vấn đề tồn tại trong hệ thống canh tác sản xuất đậu xanh
của nước ta. Nhìn chung, người nông dân chưa hiểu nhiều về phân bón và cách sử
dụng sao cho hợp lý, hiệu quả. Bên cạnh đó, hiện nay nông dân vùng địa phương vẫn
2
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Nguồn gốc, lịch sử phát triển và phân loại cây đậu xanh
2.1.1 Nguồn gốc, lịch sử phát triển
Đậu xanh là cây đậu thực phẩm ngắn ngày với nhiều ưu điểm quan trọng trong
hệ thống sản xuất cây lương thực và cây thực phẩm hiện nay.
Cây đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á, do đặc điểm phân bố rộng từ
400 Bắc – 400 Nam nên có thể được trồng rộng rãi ở hầu hết các vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới (N.I . Varivilov). Theo De Candole (1886) thì cây đậu xanh được trồng rộng
rãi ở Ấn Độ và thung lũng sông Nin (Ai Cập), (Phạm Văn Thiều, 2007). Ở khu vực
Đông và Nam Á, cây đậu xanh được phát triển mạnh ở các nước như Ấn Độ, Trung
Quốc, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Thái Lan, Philippin, Mianma, Indonesia…, và
gần đây nó được phát triển ở tại một số vùng ôn đới như ở Châu Úc và lục địa Châu
Mỹ.
Ở nước ta lịch sử trồng đậu xanh chưa đủ nguồn gốc xác định, song theo “Vân
Đài loại ngữ” của Lê Qúy Đôn đậu xanh được trồng lâu đời ở các vùng đồng bằng,
trung du và từ miền Bắc đến miền Nam (Trần Đình Long – Lê Khả Tường, năm 1998).
Ngày nay, đậu xanh được phát triển mạnh mẽ ở khắp nơi với mục đích làm thực
phẩm làm thuốc trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, nó có thể được sử dụng làm cây
phân xanh, cải tạo đất chống xói mòn và luân canh với cây trồng góp phần bảo vệ môi
trường.
2.1.2 Phân loại
Cây đậu xanh (Vigna radiate (L.) R. Wilczek) là cây có hoa thuộc họ đậu,
ngành hạt kín.
Với Việt Nam, đậu xanh mặc dù đã được trồng lâu đời khắp nơi trong cả nước
xong vẫn bị xem là cây trồng phụ tận dụng đất đai, lao động nên năng suất cũng rất
thấp chỉ chiếm diện tích khoảng 40 nghìn ha, năng suất trung bình 6 – 7 tạ/ha. Từ năm
1983, diện tích, năng suất và sản lượng tăng nhưng chậm và không liên tục. Năng suất
đậu xanh thời kỳ 1981 – 1985 là 5,5 tạ/ha, 1986 – 1991 là 5,9 tạ/ha. Năm 1999 là năm
4
có năng suất cao nhất 8,2 tạ/ha nhờ sự chuyển đổi giống mới. Năng suất đậu xanh ở
các tỉnh phía Nam thường cao hơn các tỉnh phía Bắc, một số vùng ở An Giang, Đồng
Tháp, Hậu Giang... đã đạt gần 20 tạ/ha trong vụ đông xuân vì có nhiều điều kiện thích
hợp cho canh tác đậu xanh. Các nhà tuyển chọn giống đậu xanh đã đạt được những kết
quả đáng ghi nhận với nhiều giống mới như: ĐX 06, ĐX 044, ĐX 92 – 1, HL 89 – E3,
V 87 – 13, V 91 – 15…là những giống ngắn ngày, chín tập trung cho năng suất khi
thâm canh đạt 15 – 17 tạ/ha.Tiềm năng năng suất đậu xanh của chúng ta khá lạc quan.
Tuy nhiên vì là cây chống đói, lấp vụ, xen canh nên ít được đầu tư đúng mức.
Từ đó rút ra những yếu tố làm hạn chế năng suất đậu xanh là:
Giống sử dụng là các giống cũ của địa phương không được chọn lọc.
Đậu xanh thường được trồng trên đất xấu không thể trồng cây lương thực vì
thiếu nước, đất tranh thủ, trồng xen, gối với các loại cây trồng khác nên không
có điều kiện thâm canh.
Quan niệm là cây trồng phụ nên được mùa là tốt nếu không cũng ít quan tâm
bằng cây trồng chính vì thế tất cả các khâu chọn giống, chăm sóc xới xáo, tưới
nước, bảo vệ thực vật không đúng phương pháp khoa học.
Nông dân nghèo vùng sâu vùng xa còn thiếu thông tin, chưa có điều kiện tiếp
cận những thành tựu về cây đậu xanh.
Tuy có những thành tựu lớn về giống, về giá trị kinh tế. Nhưng diện tích trồng
đậu xanh vẫn còn hạn chế so với các cây họ đậu khác (đậu nành, đậu phộng). Hầu hết
Một điều quan trọng khi nói đến bộ rễ là nốt sần. Các vi khuẩn nốt sần
Rhizobium là một loại vi khuẩn sống ở trong đất, nó có khả năng cố định đạm tự do
trong khí trời (N2) thành dạng đạm dễ tiêu (NO3) cung cấp cho cây trồng và làm giàu
cho đất.
2.3.2 Thân và cành
Đậu xanh là loại thân thảo, mọc thẳng đứng, có khi hơi nghiêng, hình tròn, có
một lớp lông màu nâu sáng bao bọc, lớp lông này dày hay mỏng đều do giống. Thời kì
khi cây có 3 lá kép thì tốc độ tăng trưởng của thân chậm, sau đó mới tăng nhanh dần
đến khi ra hoa và hoa rộ, và đạt chiều cao đến khi đã có quả chắc.
Chiều cao của cây tùy thuộc vào giống, thời vụ gieo, đất đai và sự chăm
sóc...chiều cao thường là 40 – 70 cm, tối đa 150 cm, đường kính thân trung bình chỉ từ
8 – 12 cm. Trên thân cây có 7 – 8 đốt, ở giữa hai đốt gọi là lóng. Các lóng dài khoảng
8 – 10 đốt, các lóng ngắn chỉ 3 – 4 đốt.
Cây đậu xanh ít phân cành và thường phân cành muộn, trung bình có 1 – 5
cành, khi mật độ cây quá dày số cành càng giảm.
6
2.3.3 Lá
Lá đậu xanh là loại lá kép, có 3 lá chét, mọc cách. Các lá chét có hình dạng
khác nhau từ ô van, thuôn tròn, thuôn dài, lưỡi mác… một lá được gọi là hoàn chỉnh
gồm có: lá kèm, cuống lá và phiến lá. Sau khi cây mọc được 1 – 2 ngày thì lá sò xòe
ra và sau đó 7 – 8 ngày cây mới hình thành các lá thật. Cả hai mặt lá đều có lông, gân
lá nổi rõ lên ở phía dưới mặt lá. Chiều dài của lá là nơi dài nhất là 10 – 12 cm chỗ rộng
nhất từ 7 – 10 cm.
2.3.4 Hoa
Hoa đậu xanh là hoa lưỡng tính, mọc thành chùm to, xếp xen kẽ nhau ở trên
các khoáng tố gồm Ca, Mg, K, Na, Zn, Fe, Cu, … Đậu xanh còn là nguồn cung cấp
chất xơ hòa tan, chất này đi qua đường tiêu hóa, lấy đi những chất béo thừa và loại bỏ
khỏi cơ thể trước khi hấp thụ, nhất là cholesterol. Đậu xanh được đánh giá là một trong
những nhóm cây đậu đỗ thực phẩm giàu hydratcacbon 40 – 47% trong trọng lượng khô
của hạt (Gopalan và CTV).
Theo Đông y, đậu xanh vị ngọt, hơi tanh, tính hàn, không độc, bổ nguyên khí,
thanh nhiệt mát gan, giải được trăm thứ độc, có thể làm sạch mát nước tiểu, chữa lở
loét, làm sáng mắt, nhuận họng, hạ huyết áp, mát buồng mật, bổ dạ dày, hết đi tả, thích
hợp với các bệnh nhân say nắng, miệng khát, người nóng, thấp nhiệt, ung nhọt, viêm
tuyến má, đậu mùa, nhìn mọi vật không rõ. Đậu xanh là loại thức ăn nhiều kali, ít natri.
Người thường xuyên ăn đậu xanh và chế phẩm của nó huyết áp của họ sẽ thấp. Trong
đậu xanh còn có thành phần hạ huyết mỡ hữu hiệu, nó còn giúp cho cơ thể phòng
chống chứng xơ cứng động mạch và bệnh cao huyết áp, đồng thời có công hiệu bảo vệ
gan và giải độc.
Trong đời sống hàng ngày, đậu xanh được sử dụng rộng rãi và phổ biến với
nhiều cách chế biến khác nhau như hấp, làm bánh, nấu chè, xôi, sữa, … thích hợp cho
cả ăn chay lẫn ăn mặn. Người Ấn Độ sử dụng đậu xanh như một thành phần chính
trong khẩu phần ăn hàng ngày. Người Trung Quốc và Việt Nam chúng ta thường ăn
điểm tâm bằng các loại cháo, như cháo thịt, cháo cá nhưng trong đó thông dụng nhất là
cháo đậu xanh, bởi tính nhẹ nhàng thanh sạch và tác dụng giải độc cho cơ thể. Để dễ
tiêu hóa và tốt cho dạ dày, mỗi ngày có thể sử dụng khoảng 50 – 100g đậu xanh nấu
nhừ ở dạng cháo. Có thể thay đổi khẩu vị bằng cách ăn với đường, muối hoặc nấu với
thịt và rau củ quả đều tốt cho sức khỏe, (Webtretho, 2010).
2.5 Vai trò của lân trong sự sống của cây trồng
Lân là yếu tố dinh dưỡng quan trọng không thể thiếu và đóng vai trò quyết định
sự tồn tại của mọi sinh vật sống. Hầu hết trong cây trồng, cơ thể động vật và trong đất
lân đều hiện diện ở một tỉ lệ trung bình. Lân giữ một vai trò quan trọng trong đời sống
của tế bào như: tham gia tích cực vào thành phần các Enzime, Protein, quá trình tổng
nhiều lại vitamin không hình thành được. Đối với cây họ đậu, thiếu lân ảnh hưởng đến
sự hình thành nốt sần và sinh trưởng, phát triển của cây.
9
2.6 Một số nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cây đậu xanh
Kỹ thuật bón phân là một yếu tố quan trọng quyết định trong việc nâng cao
năng suất và hiệu quả kinh tế cây đậu xanh. Theo những nghiên cứu về kỹ thuật bón
phân đã được tiến hành ở AVRDC – Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ... thì đa số đều
cho thấy việc sử dụng phân đạm ở dạng (NH4)2SO4, phân lân ở dạng Super phốt phát
và phân kali ở dạng Clorua là có hiệu quả cao nhất. Phân lân và kali bón lót 100% còn
đạm dùng 50% cho bón lót và 50% cho bón thúc khi ra hoa cũng cho hiệu quả rất lớn.
Những nghiên cứu về bón phân cho cây đậu xanh tại Thái Lan lại cho thấy lân
đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất cây đậu xanh đặc biệt là trên đất xấu
và đất nghèo lân. Những thử nghiệm về N, P, K cũng cho thấy trên đất có hàm lượng
mùn tương đối khá thì ảnh hưởng của N và P đến năng suất đậu xanh lớn hơn K.
Những vùng đất có kết cấu nhẹ thì P và K lại đóng vai trò quan trọng trong việc tăng
năng suất. Như vậy P là yếu tố quan trọng đối với cây đậu xanh khi trồng trên đất có
kết cấu nhẹ và trung bình. Tùy từng loại đất khác nhau ở các vùng khác nhau mà vai
trò của N, P và K biểu hiện ở mức khác nhau. Tuy nhiên, việc bón N, P, K đã góp phần
tăng năng suất từ 50 – 60% so với không bón.
Nghiên cứu về vai trò của các nguyên tố khoáng khác với năng suất đậu xanh
của Loneraga (1985) tại Chachoengsao (Thái Lan) cho thấy: Ca, S, Mo và Cu là những
nguyên tố quan trọng góp phần vào việc nâng cao năng suất cây đậu xanh. Qua việc
giảm năng suất (so với việc bón đầy đủ) thì cho kết quả là khi vắng một trong những
nguyên tố Mg, B, Zn thì năng suất có thể giảm tới 15%, vắng mặt Ca thì năng suất
giảm 8%. Đặc biệt khi không bón vi lượng (đối chứng) năng suất có thể giảm tới 22%.
%
16,2
pH (1:2,5)
3,32
40,58
5,84
5,05
P2O5
%
KCl
Dễ tiêu
0,22
C/N = 15
Cation trao đổi
Ca2+
mg/100g
19,52
Nhiệt độ
Độ ẩm
Luợng mưa
Số giờ nắng
TB (0C)
Max (0C)
Min (0C)
TB (%)
(mm)
(giờ)
2
27,6
35,7
21,4
72
237
5
28,5
35,5
23,5
82
329,0
202
Tháng
(Nguồn: Đài thủy tượng thủy văn khu vực Nam Bộ, 2012)
Trong bảng 3.2 cho thấy, nhiệt độ trung bình từ tháng 2 đến tháng 5 biến động
từ 27,6 – 28,8 0C, cao nhất là tháng 3 với nhiệt độ là 28,8 0C , thấp nhất là tháng 2 với
nhiệt độ là 27,6 0C. Nhiệt độ này thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây đậu
xanh. Ẩm độ tương đối tăng dần qua các tháng, cao nhất là tháng tháng 5 là 82% và
thấp nhất là tháng 2 là 72%.
Lượng mưa tăng khá cao qua các tháng và tăng cao nhất là ở tháng 5 với lượng
mưa 329,0 mm, thấp nhất là tháng 2 là 66,0 mm, điều này gây ảnh nhiều đến sinh
trưởng, phát triển và cho năng suất của cây đậu xanh.
Số giờ nắng biến động từ 202 – 237 giờ. Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng
4 là 237 giờ tức là 7,9 giờ, thấp nhất là tháng 2 và tháng 5 với số giờ nắng đều là 202
giờ tức là 6,7 giờ.
bảo quản, dễ vận chuyển nên được dùng nhiều trong sản xuất nông nghiệp.
Phân urê có khả năng thích nghi rộng và có khả năng phát huy tác dụng trên
nhiều loại đất khác nhau và đối với các loại cây trồng khác nhau. Phân này bón thích
hợp trên đất chua phèn. Phân urê được dùng để bón thúc hoặc có thể pha loãng theo
nồng độ 0,5 – 1,5% để phun lên lá.
P2O5 (Super lân Long Thành): Thành phần chính của phân super lân Long
Thành có chứa ≥16% P2O5 hữu hiệu, ≥ 20% CaO, ngoài ra còn chứa các chất trung và
vi lượng như Mg, S, Cu, Mn, Zn, Mo, Si…cần thiết cho sự sinh trưởng của cây trồng.
Phân Super lân Long Thành có thể sử dụng để bón ở các loại đất trung tính, đất kiềm,
đất chua đều được. Tuy nhiên, ở các loại đất chua nên bón vôi khử chua trước khi bón.
Để phát huy hiệu quả nhanh của phân, người ta thường bón tập trung, bón theo hốc,
hoặc sản xuất thành dạng viên để bón cho cây.
K2O (Clorua kali): chứa 50 – 60% K2O, phân có dạng bột màu hồng như muối
ớt nên nông dân ở một số nơi gọi là phân muối ớt. Cũng có dạng clorua kali có màu
xám đục hoặc xám trắng. Ngoài ra trong phân còn có một ít muối ăn (NaCl). Cloria
13
kali có thể dùng để bón cho nhiều loại cây trên nhiều loại đất khác nhau. Có thể dùng
phân này để bón lót hoặc bón thúc.
3.3.1.3 Thuốc bảo vệ thực vật
Gồm các loại thuốc BVTV được lưu hành hiện có trên thị trường:
Thuốc cỏ: Lasso 48EC.
Thuốc sâu: Diazan 10GR, Ascend 20SP, Sherpa 25EC.
Thuốc trừ bệnh: Anvil 5SC, New kasuran 16.6 BTN.
3.3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm
Gồm: máy xới đất, cuốc, cào, xe rạch hàng, bình phun thuốc, máy bơm nước.
3.3.2 Phương pháp tiến hành