i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA MỨC ĐỘ GÂY HẠI, THÀNH PHẦN THIÊN ĐỊCH VÀ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC
CỦA SÂU XANH HAI SỌC TRẮNG Diaphania indica Sauders
(Pyralidae – Lepidoptera) TRÊN CÂY DƯA LEO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
NIÊN KHÓA: 2008 – 2012
SVTH: NGUYỄN THỊ HƯƠNG
Tp. Hồ Chí Minh tháng 07 năm 2012
1
ĐIỀU TRA MỨC ĐỘ GÂY HẠI, THÀNH PHẦN THIÊN ĐỊCH VÀ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC
CỦA SÂU XANH HAI SỌC TRẮNG Diaphania indica Sauders
(Pyralidae – Lepidoptera) TRÊN CÂY DƯA LEO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tác giả
luận văn.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2012
Nguyễn Thị Hương
3
TÓM TẮT
Đề tài: “Điều tra mức độ gây hại, thành phần thiên địch và nghiên cứu một số đặc
điểm sinh thái, sinh học của sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica Sauders
(Pyralidae – Lepidoptera) trên cây dưa leo tại Tp. Hồ Chí Minh” được thực hiện
trong phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm nghiên cứu và phát triển Nông Nghiệp công
nghệ cao và trên cánh đồng canh tác rau họ bầu bí thuộc ấp Bàu Trăn, xã Nhuận Đức,
Huyện Củ Chi từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 6 năm 2012. Đề tài nhằm cung cấp số liệu
về mức độ gây hại và một số đặc điểm sinh thái và sinh học của sâu xanh hai sọc trắng
D.indica ở TP. Hồ Chí Minh, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây
dựng các biện pháp quản lý hữu hiệu sâu xanh hai sọc trắng D.indica gây hại trên cây dưa
leo.
Kết quả thu được như sau:
Mức độ gây hại của sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica trên ruộng canh tác theo
ViệtGAP (1,84 con/ ngọn cây, tỷ lệ cây bị hại chiếm 100% tổng số ngọn điều tra), cao
hơn ruộng trồng theo tập quán nông dân (0,44 con/ ngọn cây, 44% ngọn điều tra bị hại).
Thành phần thiên địch của sâu xanh hai sọc trắng gồm có: ong đen kén trắng (Cotesia
sp.) ký sinh sâu non, ong vàng (Xanthopimpla sp.) ký sinh nhộng, bọ cánh cụt (Paederus
fuscipes), nhện linh miêu (Oxyopes javanus), ruồi ăn cướp (Neoitamus melanopogon).
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, ở nhiệt độ 30 ± 2oC, ẩm độ 65 ± 5%, với thức ăn là
lá dưa leo Cucumis sativus, cho thấy vòng đời của Diaphania indica trung bình 20,46 ±
1,45 ngày. Trong đó giai đoạn trứng trung bình là 2,90 ± 0,31 ngày, giai đoạn sâu non có
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ .......................................................................... ...x
Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG ................................................................................... 11
1.1Đặt vấn đề ...................................................................................................................... 11
1.2 Mục đích nghiên cứu .................................................................................................... 12
1.3 Yêu cầu đề tài ............................................................................................................... 12
1.4 Giới hạn đề tài .............................................................................................................. 12
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................................... 13
2.1 Giới thiệu về cây dưa leo .............................................................................................. 13
2.1.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển................................................................................. 13
2.1.2 Yêu cầu sinh thái ....................................................................................................... 13
2.2 Một số kết quả nghiên cứu về sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica trên thế giới và
tại Việt Nam........................................................................................................................ 14
6
2.2.1 Phân bố và phạm vi ký chủ ....................................................................................... 14
2.2.2 Đặc điểm hình thái..................................................................................................... 15
2.2.3 Đặc điểm sinh học ..................................................................................................... 16
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sâu xanh hai sọc trắng ......................... 19
2.2.5 Biện pháp phòng trừ .................................................................................................. 20
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................... 25
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................................ 25
3.2 Nội dung nghiên cứu .................................................................................................... 26
3.3 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu ............................................................................. 26
3.3.1 Vật liệu thí nghiệm .................................................................................................... 26
3.3.2 Dụng cụ thí nghiệm ................................................................................................... 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 27
3.4.1 Điều tra mức độ gây hại của sâu xanh hai sọc trắng trên cây dưa leo ...................... 27
3.4.2 Điều tra thành phần thiên địch của sâu non sâu xanh hai sọc trắng trên dưa leo ...... 28
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBH: Cây bị hại
NSGĐ: Ngày sau ghép đôi
NST: Ngày sau trồng
SD: Độ lệch chuẩn
SN: Sâu non
TB: Trung bình
ViệtGAP: Vietnamese Good Agricultural Practices
9
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Phân bố địa lý của Diaphania indica ................................................................. 4
Bảng 3.1 Điều kiện khí hậu thời tiết khu vực TP.HCM tháng 2/2012 – 6/2012.............. .15
Bảng 4.1 So sánh mức độ gây hại của sâu xanh hai s
ọc trắng trên 2 ruộng trồng theo
ViệtGAP và tập quán nông dân ......................................................................................... 27
Bảng 4.2 Thành phần thiên địch của sâu non sâu xanh hai sọc trắng trên ruộng dưa leo ở
xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi............................................................................................ 28
Bảng 4.3 Tỷ lệ sâu non sâu xanh hai sọc trắng bị ong ký sinh ở ngoài đồng ................... 30
Bảng 4.4 Kích thước các giai đoạn phát triển từ trứng đến trưởng thành của sâu xanh hai
sọc trắng Diaphania indica ................................................................................................... 31
Bảng 4.5 Thời gian phát dục cơ thể của sâu xanh hai sọc trắng D.indica .......................... 37
Bảng 4.6 Tuổi thọ và khả năng đẻ trứng của trưởng thành Diaphania indica .................. 40
Bảng 4.7 Khả năng phát triển sau đẻ trứng của sâu xanh hai sọc trắng .................................. 42
ngắn được trồng phổ biến Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Trong những năm gần
đây, dưa leo là một trong những cây xóa đói giảm nghèo hiệu quả và mặt hàng xuất khẩu
ổn định của nước ta.
Tuy vậy, năng suất và sản lượng của dưa leo ở nước ta vẫn chưa cao, ngoài các
nguyên nhân như thời tiết, kỹ thuật canh tác thì sự phá hại của các đối tượng sâu bệnh hại
như bọ trĩ (Thrips palmi), bọ dưa (Aulacophora similis), rệp muội (Aphis sp.)… cũng là
một trong những nguyên nhân cơ bản.
Sâu xanh hai sọc trắng (Diaphania indica) xuất hiện và gây hại nặng ở hầu hết các
khu vực trồng dưa leo trên thế giới. Ở Châu Á và Châu Phi D. indica là một dịch hại
nghiêm trọng đối với họ bầu bí. Tại Hoa Kỳ, sâu xanh hai sọc trắng (Diaphania indica) là
một đối tượng sâu bệnh được đưa vào đối tượng kiểm dịch (EPPO, 2005). D.indica cũng
là một đối tượng thường gặp ở Bắc Territory của Úc (Morgan & Midmore, 2002). Nếu
công tác điều tra không phát hiện, phòng trị kịp thời thì khả năng bộc phát của Diaphania
sp. có thể làm mất 100% sản lượng. Sâu có thể ăn trên lá, hoa, thân và quả (Arcaya,
2004).
Để phòng trừ sâu hại nói chung và sâu xanh hai sọc trắng nói riêng có hiệu quả, chúng
ta cần phải hiểu biết rõ đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng để từ đó đưa ra biện pháp
phòng trừ phù hợp. Vì vậy đề tài: “Điều tra mức độ gây hại, thành phần thiên địch và
nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học của sâu xanh hai sọc trắng
Diaphania indica Saunders (Pyralidae – Lepidoptera) trên cây dưa leo tại TP. Hồ
Chí Minh” được thực hiện.
12
1.2 Mục đích nghiên cứu
Cung cấp số liệu về mức độ gây hại và một số đặc điểm hình thái và sinh học của sâu
xanh hai sọc trắng D. indica ở TP. Hồ Chí Minh, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và
thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp quản lý hữu hiệu sâu xanh hai sọc trắng D.
indicagây hại trên cây dưa leo.
cao là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những bệnh ở lá và thân cành. Khi hạt nảy mầm yêu
cầu lượng nước bằng 50% khối lượng hạt. Thời kỳ thân lá sinh trưởng phát triển mạnh
đến ra hoa cái đầu cần ẩm độ đất 70 – 80 %, thời kỳ ra quả rộ và quả phát triển yêu cầu độ
ẩm cao trên 80 – 90% (Tạ Thu Cúc và ctv, 2000).
14
Cây dưa leo ưa thích đất đai màu mỡ, tơi xốp, pH từ 5,5 – 6,8, tốt nhất từ 6 – 6,5.
Cây dưa leo trồng trên đất thịt nhẹ, đất cát pha thường cho năng suất cao. Cây yêu cầu độ
phì cao. Dinh dưỡng khoáng không đủ ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng và phát
triển của cây. (Tạ Thu Cúc và ctv, 2000).
2.2 Một số kết quả nghiên cứu về sâu xanh hai sọc trắng Diaphania indica trên thế
giới và tại Việt Nam
2.2.1 Phân bố và phạm vi ký chủ của sâu xanh hai sọc trắng
Diaphania indica lần đầu tiên được quan sát thấy ở Yemen vào năm 1977 trên các
cây trồng họ bầu bí (Ba – Angood, 1979).
D. indica phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ Châu Phi, Châu
Á và Thái Bình Dương
Bảng 2.1 Phân bố địa lý của Diaphania indica
Phân bố địa lý của Diaphania indica
Bắc Mỹ
Hoa Kỳ (Florida)
Trung Mỹ
Không có hồ sơ
Nam Mỹ
*Dựa trên những phát hiện từ các lô hàng ở quốc gia này
Theo Peter và David (1991), Diaphania indica được phân bố rộng rãi ở Nhật Bản,
Nam Á, Ấn Độ, các đảo ở Thái Bình Dương, Australia, Châu Phi và nhiều khu vực khác.
15
Nelson và ctv (2000) cho rằng D.indica ưa thích dưa leo hơn những cây khác trong
họ bầu bí.
Sâu non của sâu xanh hai sọc trắng gây hại chủ yếu trên cây họ bầu bí. Những cây
ký chủ quan trọng của Diaphania indica là cây dưa leo (Cucumis sativus), dưa hấu
(Citrullus lanatus), dưa tây ngọt (Cucumis melo)…, nhưng gây hại nặng nhất trên cây dưa
leo. Diaphania indica còn hại nặng trên cây khổ qua (Momordica charantia L.). Ngoài ra
D. indica còn gây hại nhẹ trên cây họ đậu (Yudin, 1999; Nelson, 2000).
Theo Pandey (1975), 7 loại cây trồng đã được nghiên cứu về sự tàn phá của
D.indica gồm dưa lê (Cucumis melo momordica), bầu (Lagenaria vulgaris), bí đỏ
(Cucurbita moschata), dưa hấu (Citrulus vulgaris fistulossus), mướp hương (Luffa
cylindrica), mướp khía (Luffa acutangula) và mướp đắng (Momordica charantia). Trong
các loại cây trồng thì mướp đắng (Momordica charantia) có chất độc ảnh hưởng đến sự
phát triển của D. indica, dưa lê (Cucumis melo momordica) là kí chủ thích hợp nhất còn
mướp khía (Luffa acutangula) là kí chủ kém thích hợp.
2.2.2 Đặc điểm hình thái của sâu xanh hai sọc trắng
Trứng nhỏ, màu vàng nhạt, đẻ rời rạc từng quả trên đọt và lá non (Phạm Văn Biên
và ctv, 2003).
Trứng màu trắng đục, trước khi nở chuyển thành màu trắng hơi ngả vàng. Trứng
được đẻ riêng lẻ trên cả hai mặt lá, nhất là đọt non và trái non. Thời gian ủ trứng từ 4 – 5
ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003).
Trứng hình ôvan, màu trắng kem, dài khoảng 0,7 – 0,8 mm. Sâu non mới nở có
màu vàng trong suốt, khi sang tuổi 2 trên lưng xuất hiện hai sọc trắng chạy dọc theo suốt
Trong đó giai đoạn trứng khoảng 4 – 7 ngày, giai đoạn sâu non kéo dài khoảng hai tuần,
giai đoạn nhộng 10 ngày và giai đoạn trưởng thành từ 5 – 7 ngày (Ke và ctv, 1986).
Theo Ketipearachchi và Paranagama thí nghiệm từ 1989 – 1993 ở Sri Lanka, thì
chu kì của trứng, ấu trùng, tiền nhộng, nhộng và trưởng thành lần lượt là 3 – 5, 8 – 13, 1 –
17
3, 5 – 9 và 1 – 12 ngày. Trứng nở và trưởng thành xuất hiện vào buổi sáng. Số lượng sâu
trên dưa chuột bi đạt hai đỉnh từ tháng 6 – 10 và từ tháng 2 – 5.
Theo Teotong (1993), khi nghiên cứu D. indica trong điều kiện nhiệt độ 29,02 ±
1,710C và độ ẩm 65,57 ± 2,51% thì thời gian ủ trứng là 3,6 ± 0,49 ngày. Ấu trùng có 5
tuổi với thời gian 8,32 ± 0,75 ngày. Thời kì nhộng là 6,52 ± 0,57 ngày. Vòng đời của
trưởng thành đực và cái lần lượt là 7,1 ± 1,34 và 7,26 ± 1,51 ngày.
Theo Ganehiarachchi (1997), trưởng thành cái đẻ trứng sau 3 ngày giao phối với số
trứng trung bình là 267 trứng. Giai đoạn ấu trùng 8 – 10 ngày, nhộng 7 – 9 ngày. Thời gian
sống dài nhất của trưởng thành là 9 ngày.
Theo Kinjo và Arakaki (2001), thời gian từ trứng đến trưởng thành ở Okinawa
(Nhật Bản) là 18,2 ngày trong điều kiện nhiệt độ là 300C. Tỷ lệ sống sót của con cái đạt
100% sau 8 ngày xuất hiện sau đó giảm dần đến 0 vào ngày thứ 29. Tỷ lệ sống sót của
con đực giảm chậm hơn con cái và giảm về 0 sau 33 ngày. Vòng đời của con cái trưởng
thành (16,7 ngày) ngắn hơn con đực (21,6 ngày).
Vòng đời trung bình 25 – 30 ngày, trong đó thời gian trứng 4 – 5 ngày, sâu non 14
– 18 ngày, nhộng 5 – 7 ngày, ngài đẻ 1- 2 ngày (Phạm Văn Biên và ctv, 2003).
Vòng đời từ trứng đến trưởng thành của sâu xanh hai sọc trắng D. indica khoảng
25 ngày ( The Australian Centre for International Agricultural Research, 2011).
2.2.3.2 Khả năng sinh sản của sâu xanh hai sọc trắng
Theo Teotong (1993), khi nghiên cứu khả năng sinh sản của D. indica trong điều
kiện nhiệt độ 29,02 ± 1,710C và độ ẩm 65,57 ± 2,51% thì trưởng thành cái đẻ trung bình
111,64 ± 71,16 trứng.
của Diaphania indica từ trứng đến trưởng thành. Mật độ sâu xuất hiện nhiều nhất từ 40 –
45 ngày sau gieo (Nguyễn Thị Điệp, 2005).
Theo Trương Thị Thành (2005), D.indica xuất hiện khá sớm ở ngoài đồng. Ngay
từ thời điểm 14 ngày sau gieo đã thấy xuất hiện sâu tuổi 1 nhưng mật số thấp và tăng dần
theo giai đoạn sinh trưởng. Mật số cao nhất (8,7 con/cây) trong mùa nắng (tháng 2 – 4),
vào thời điểm mùa mưa (tháng 6 – 8) có mật số rất thấp (cao nhất 1 con/ cây).
19
Ở Trung Quốc có tối đa bốn thế hệ một năm. Không thấy sự xuất hiện của trưởng
thành Diaphania indica trước tháng 7 hoặc sau tháng 11(Kevà ctv, 1986). Mật số xuất
hiện cao nhất của vào khoảng từ tháng 8 đến đầu tháng 9 (Ke và ctv, 1988).
Tương tự, ở Hàn Quốc trưởng thành đầu tiên xuất hiện từ giữa đến cuối tháng 7 và
cao nhất vào cuối tháng 9, sâu non của D.indica từ cây ký chủ chui xuống đất trong tháng
10 và hóa nhộng và qua đông dưới mặt đất từ 5 và 10cm (Choi và ctv, 2003).
Tại Ấn Độ D.indica xuất hiện quanh năm và mật số xuất hiện cao nhất giữa tháng
4 và tháng 9 và thấp nhất giữa tháng 11 và tháng 2 (Peter và David, 1991).
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sâu xanh hai sọc trắng
Nhiệt độ và ẩm độ
Theo Kinjo và Arakaki (2001), khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát
triển và sinh sản của D. indica trên cây dưa leo kết quả cho thấy: giai đoạn phát triển của
trứng giảm từ 19,8 ngày xuống 3 ngày khi nhiệt độ tăng từ 15 – 300C. Thời kỳ sâu non
tuổi 1 giảm từ 4 ngày xuống 1,3 ngày và tuổi 5 từ 3,8 ngày xuống 2,3 ngày khi nhiệt độ
tăng từ 20 – 300C. Thời kì phát dục của nhộng giảm từ 16,5 ngày xuống 5,5 ngày khi
nhiệt độ tăng từ 20 – 300C. Nhiệt độ thấp nhất cho sự phát triển của trứng là 13,70C, sâu
non là 120C, nhộng 14,90C và trung bình từ trứng đến trưởng thành là 13,50C. Trứng nở
100% ở nhiệt độ từ 20 – 350C nhưng chỉ nở 72,2% ở nhiệt độ 150C. Tỷ lệ hóa nhộng đạt
87 – 96% ở nhiệt độ 20 – 300C nhưng chỉ đạt 26% ở 350C. Tỷ lệ vũ hóa cao hơn 80% ở
nhiệt độ từ 20 – 300C nhưng chỉ đạt 14% ở 350C. Trọng lượng nhộng ở 20, 25, 30 và 350C
là một lần/tuần, kiểm tra ở các lá non, những lá dính lại với nhau, bề mặt trái tiếp xúc với
mặt đất, tìm phân trên lá đó là cũng là dấu hiệu cho thấy có sự xuất hiện của sâu xanh hai
sọc trắng.
Dùng tay bắt sâu non, nhộng khi mật số sâu còn thấp cũng là một cách để hạn chế
sự phát triển của sâu xanh hai sọc trắng một cách khá hiệu quả.
Biện pháp hóa học
Một số gốc thuốc trừ sâu được khuyến cáo phun trên lá và trái non bao gồm
Endosulfan, Methomyl hoặc Pyrethoids tổng hợp, Carbaryl và Dimethoate cũng có hiệu quả,
21
Cypermethrin hiệu quả cao, Deltamethrin và Fenvalerate cũng có hiệu quả đối với sâu xanh
hai sọc trắng (CABI, 2005).
Theo Yang (2005), khi sử dụng các loại thuốc trừ sâu Chlorpyrifos, Fenvalerate,
Chlorfluazuron và Bacillus thuringiensis (Bt) trên họ bầu bí thì tất cả các loại thuốc đều
có độ độc cao đối sâu non của D. indica nhưng hiệu quả của Chlorfluazuron và Bt chậm
hơn. Tác giả này còn cho biết trong điều kiện phòng thí nghiệm Chlorpyrifos có tính độc
cao đối với ong Trichogramma kí sinh trứng D. indica trong khi Bt không độc đối với
chúng. Khi sử dụng Chlorpyrifos số trứng bị kí sinh thấp trong khi đó sử dụng Bt thì hiệu
quả kí sinh trên 70%. Ở ngoài đồng, sau 12 ngày ngừng sử dụng thuốc thì sự gây hại của
D. indica nặng khi sử dụng Chlorpyrifos và ít gây hại khi sử dụng Bt. Kết quả chỉ ra rằng,
việc sử dụng thuốc trừ sâu có chọn lọc có thể bảo tồn và nâng cao hiệu quả của kẻ thù tự
nhiên. Từ đó mang lại hiệu quả cho việc kiểm soát D. indica.
Theo Dupo (2006), khi sử dụng thuốc Indoxacarb (Steward 30WDG) với liều
lượng 30 g a.i./ha để kiểm soát D. indica trên cây mướp đắng thì khi mật số của D. indica
cao đã kiểm soát được 90% sâu non.
Khi sử dụng Bistrifluron, Benzoylphenylurea để phòng trừ D. indica thì kết quả
cho thấy sử dụng Bistrifluron không có hiệu quả diệt trứng. Tuy nhiên sâu non nở ra từ
trứng bị chết 100% trong vòng 24h. Khi sử dụng Bistrifluron ở nồng độ cao 50 ppm trên
(Braconidae
Trathala
:
D. indica bị kí sinh bởi A. taragamae, A.
Hymenoptera),
flavoorbitalis
Goniozus
(Ichneumonidae:
sensorius
(Bethylidae:
Hymenoptera),
Elasmus
brevicornis (Elasmidae: Hymenoptera) và Phanerotoma hendecasisella (Braconidae:
Hymenoptera). Trong đó, A. taragamae là yếu tố gây chết chính của D. indica. Ngoài ra,
nghiên cứu cũng đã phát hiện chỉ hai trong sáu loài kí sinh có vai trò quan trọng để kiểm
soát D. indica. Sự kết hợp giữa 2 loại kí sinh này từ tháng 1 – 3 và từ tháng 10 – 12 đã
kìm hãm được mật số D. indica xuống thấp hơn ngay trong những tháng không có kí sinh.
Theo Joy và Joseph (1972), hai loài kí sinh nhộng được báo cáo là Brachymeria
Theo Nguyễn Duy Phê (2005), thành phần thiên địch ăn mồi của sâu xanh hai sọc
trắng gồm: Ruồi ăn cướp, bọ xít hai sao Eocanthecona furcellata, bọ chân chạy Calleida
sp. và bọ ba khoang Ophionea intertitialis.
-
Sinh vật gây bệnh
Ở Marianas – Guam, trong một số mùa những loài mang bào tử nhỏ và bệnh virus
cũng làm giảm số lượng của Diaphania indica (NSF Center for Integrated Pest
Management).
-
Sử dụng thuốc có nguồn gốc sinh học
Khi nghiên cứu tác động sinh học của hai hoạt chất trong hạt cây Neem (neem CO2
supercritical và neem ethyl acetate) để phòng trừ D. indica thì cho thấy: cả hai hoạt chất
24
đều tác động ngăn cản sự phá hại, hạn chế sự phát triển, độc cho ấu trùng và cản trở sự đẻ
trứng. Chúng có tác dụng tốt hơn ở ấu trùng tuổi nhỏ so với tuổi lớn. Hoạt chất neem CO2
supercritical có tác động mạnh hơn neem ethyl acetate ở cùng nồng độ (He và ctv, 2007).
Có thể dùng các thuốc hóa học có nguồn gốc từ cây cúc và cây họ đậu để phòng
trừ D. indica vừa gây hại cho côn trùng và ít ảnh hưởng đến môi trường so với những loại
thuốc hóa học khác. Tuy nhiên, các loại thuốc này có thể bị phân hủy dưới ánh sáng mặt
trời và có thể làm chết các loài thiên địch của D. indica (The IPPSI Team Honiara).
Có thể dùng một trong các loại thuốc của Bacillus thuringiensis như Dipel để
phòng trừ và không làm ảnh hưởng đến các loài thiên địch.
Theo Qin (2001), khi sử dụng dầu thông, dầu bạch đàn và agezatochzomene để