i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA SỰ ĐA DẠNG THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG,
SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN CÂY RAU HỌ THẬP TỰ
TẠI QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
KHOÁ: 2008 – 2012
SINH VIÊN THỰC HIỆN: VÕ HOÀNG CHINH
Tháng 08 năm 2012
i
ĐIỀU TRA SỰ ĐA DẠNG THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG,
SÂU HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN CÂY RAU HỌ THẬP TỰ
TẠI QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tác giả
VÕ HOÀNG CHINH
Khoá luận được đệ trình để đáp ứng
yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Nông nghiệp ngành Bảo vệ thực vật
iii
TÓM TẮT
Võ Hoàng Chinh, Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh. Tháng 7/2012
Điều tra sự đa dạng thành phần côn trùng, sâu hại và thiên địch trên cây rau họ thập tự
tại quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.
Giảng viên hướng dẫn: TS. TRẦN THỊ THIÊN AN – KS. NGUYỄN TUẤN ĐẠT
Đề tài được tiến hành tại quận 12, Tp. Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện từ
tháng 02 đến tháng 06 năm 2012. Đề tài tiến hành điều tra trên cây rau cải xanh ở
ruộng rau an toàn và ruộng rau nông dân.
Trên ruộng rau cải xanh tại quận 12, Tp. Hồ Chí Minh ghi nhận 37 họ thuộc 10
bộ côn trùng. Bộ Hymenoptera có số lượng họ lớn nhất với 12 họ, bộ Diptera với 6 họ,
bộ Coleoptera với 5 họ, bộ Hemiptera, bộ Homoptera, bộ Lepidoptera với 3 họ, bộ
Orthoptera với 2 họ, các bộ có số lượng 1 họ là bộ Collembola, bộ Dermaptera, bộ
Thysanoptera.
Trên ruộng rau cải xanh ghi nhận có 4 loài thuộc 4 họ trong 4 bộ côn trùng là
sâu hại trên cây rau cải tại quận 12, TPHCM. Các loài sâu hại gồm bọ nhảy sọc vỏ lạc
Phyllotreta striolata, sâu tơ Plutella xylostella, rệp mềm Rhopasoliphum
pseudobrassiae, ruồi đục lá Liriomyza sativae.
Ghi nhận được 10 loài thiên địch thuộc 9 họ trong 5 bộ côn trùng. Nhóm thiên
địch bắt mồi ghi nhận được 7 loài thuộc 7 họ gồm bọ cánh cụt Paederus fucipes, bọ
chân chạy Chlaenius bimaculata, bọ rùa Cheilomenes sexmaculatus, bọ xít mù (đang
định danh) họ Miridae, kiến lửa nhỏ Monomorium pharaonis, ruồi ăn rệp Ischiodon
scutellaris, bọ đuôi kìm Labidura riparia. Nhóm thiên địch ký sinh có 3 loài gồm
Cotesia plutellae, Opius sp., Gromotoma sp.
iv
MỤC LỤC
trên cây rau họ thập tự ...................................................................................................................8
2.5.3 Nghiên cứu thành phần thiên địch và vai trò của chúng trong việc kiểm soát ruồi đục
lá trên cây rau họ thập tự ...............................................................................................................8
2.5.4 Nghiên cứu thành phần thiên địch và vai trò của chúng trong việc kiểm soát sâu
khoang trên cây rau họ thập tự....................................................................................................10
2.5.5 Nghiên cứu thành phần thiên địch và vai trò của chúng trong việc kiểm soát rệp muội
trên cây rau họ thập tự .................................................................................................................10
2.5.6 Nghiên cứu đa dạng động vật chân đốt và thành phần Collembola trên đất trồng rau
họ thập tự ......................................................................................................................................11
2.6 Đặc điểm hình thái và sinh học chính của một số sâu hại chính trên cây rau họ
thập tự ......................................................................................................................... 11
2.6.1 Sâu tơ Plutella xylostella (Yponomeutidae – Lepidoptera) ...........................................11
2.6.2 Bọ nhảy sọc vỏ lạc Phyllotreta striolata (Chrysomelidae – Coleoptera) .....................12
2.6.3 Rệp mềm (Aphididae – Homoptera)................................................................................13
Chương 3 ...................................................................................................................... 16
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................... 16
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu .................................................................... 16
3.1.1 Thời gian nghiên cứu .........................................................................................................16
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu ..........................................................................................................16
3.2 Nội dung nghiên cứu ........................................................................................ 16
3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................................ 16
vi
3.3.1 Vật liệu nghiên cứu ............................................................................................................16
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................................17
3.3.2.1 Điều tra sự đa dạng của côn trùng trên ruộng rau họ thập tự ......................................17
3.3.3 Xử lý số liệu ........................................................................................................................24
Chương 4 ...................................................................................................................... 25
TBSLM/Đ: Trung bình số lượng mẫu trên điểm
Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TT: Trưởng thành
viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG
TRANG
Bảng 4.1 Thành phần và số lượng các bộ côn trùng trên ruộng rau cải xanh........................26
Bảng 4.2 Chỉ số đa dạng Simspon của bộ côn trùng trên ruộng rau cải xanh .......................28
Bảng 4.3 Chỉ số đồng đều Shannon của bộ côn trùng trên ruộng cải xanh ...........................29
Bảng 4.5 Chỉ số đa dạng Simpson và chỉ số đồng đều Shannon của các họ côn trùng trên
ruộng rau cải xanh........................................................................................................................33
Bảng 4.6 Thành phần và số lượng các loài sâu hại chính trên ruộng rau cải xanh ...............36
Bảng 4.7 Thành phần và số lượng các loài sâu hại chính trên ruộng rau cải xanh an toàn và
ruộng rau cải xanh nông dân .......................................................................................................37
Bảng 4.8 Thành phần và số lượng các loài thiên địch trên ruộng cải xanh............................39
Bảng 4.9 Thành phần và số lượng các loài thiên địch trên ruộng rau cải xanh an toàn và
ruộng rau cải xanh nông dân .......................................................................................................42
Bảng 4.10 Chỉ số đa dạng Simpson của thiên địch trên ruộng rau cải xanh an toàn và ruộng
rau cải xanh nông dân ..................................................................................................................43
Bảng 4.11 Chỉ số đồng đều Shannon trên ruộng rau cải xanh an toàn và ruộng rau cải xanh
nông dân........................................................................................................................................45
ix
Hình 3.7 Sơ đồ bố trí các loại bẫy
21
Hình 3.8 Hộp nuôi thiên địch
23
Hình 3.9 Ong ký sinh vũ hoá
23
Hình 4.10 Phyllotreta striolata
38
Hình 4.11 Liriomyza sativae
38
Hình 4.12 Plutella xylostella
38
Hình 4.13 Rhopasoliphum pseudobrassiae
38
Hình 4.14 Chlaenius bimaculata
Hình 4.22 Cotesia plutellae
47
Hình 4.23 Opius sp.
47
1
Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Rau là thực phẩm rất quan trọng trong đời sống hằng ngày của con người, cung
cấp nguồn dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể như protein, axit hữu cơ, vitamin và các
khoáng chất. Trong các loại rau thực phẩm thì rau họ thập tự chiếm một vị trí quan
trọng trong cơ cấu cây trồng nước ta, cung ứng trên 50% sản lượng rau hàng năm của
cả nước.
Trong quá trình thâm canh sản xuất nông nghiệp, con người luôn khai thác
nguồn tài nguyên tối đa bằng nhiều biện pháp để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu
cuộc sống. Trong những biện pháp đó, việc sử dụng quá mức thuốc BVTV trong nông
nghiệp để phòng trừ dịch hại đã gây ra những mặt trái của nó, làm suy giảm nghiêm
trọng đa dạng sinh học trong nông nghiệp. Hậu quả của sự mất cân bằng hệ sinh thái
nông nghiệp đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng nguồn thiên địch tự nhiên, xuất
hiện một số loại dịch hại mới, sâu hại trở nên khó kiểm soát hơn đã gây ra thiệt hại to
lớn về cả sản lượng lẫn chất lượng thực phẩm. Cho đến nay, biện pháp phòng trừ sâu
hại chủ yếu vẫn là thuốc hóa học. Nhiều nông dân tiến hành phun thuốc định kỳ 2 – 5
ngày/ lần. Điều này không đáp ứng yêu cầu sản xuất rau an toàn.
Vì vậy, việc điều tra sự đa dạng thành phần côn trùng, xác định đầy đủ thành
Lovejoy (1980) cho rằng thuật ngữ “Đa dạng sinh học” là cụm từ để nói lên số
loài tồn tại trong một quần thể nào đó, đa dạng sinh học dùng để chỉ sự đa dạng về
gene và đa dạng sinh thái gồm 3 mức độ là đa dạng trong một loài, đa dạng số loài và
đa dạng trong một hệ sinh thái (trích dẫn bởi Dương Trí Dũng, 2001).
Đa dạng sinh học là tất cả các loài tồn tại trong một vùng nhất định theo hệ
thống phân loài. Đa dạng sinh vật là tài sản của hệ thống sống với nhiều loài khác biệt,
từ những sinh vật đơn bào đến những sinh vật to lớn, loài được hình thành từ các dạng
khác nhau của quần thể, rồi đến các dạng khác nhau của cá thể và cuối cùng là sự khác
nhau giữa các cơ quan, mô, tế bào và gene (Dương Trí Dũng, 2001).
Đa dạng sinh học là sự phong phú của tất cả các loài sinh vật từ các hệ sinh
thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước, và mỗi tổ hợp sinh thái mà chúng
tạo nên, đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn
gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các hệ sinh thái (Phạm Bình
Quyền, 2006).
2.2 Chỉ số đa dạng, chỉ số ưu thế
2.2.1 Chỉ số đa dạng (chỉ số Shannon)
Theo Dương Trí Dũng (2001) và Phạm Bình Quyền (2006) chỉ số Shannon
được Shannon và Weaver giới thiệu năm 1949. Chỉ số Shannon dùng để đánh giá mức
độ đa dạng sinh học, dựa trên cơ sở đa dạng trong tự nhiên, giả định các loài thể hiện
trong mẫu, không phụ thuộc các loài khác, chỉ số Shannon được tính theo công thức
4
H’= -∑pi log2 (pi)
Trong đó:
H’ là chỉ số đa dạng Shannon
pi là tỷ lệ cá thể của loài so với tổng số lượng cá thể (pi=ni/N)
ni là số cá thể của loài i
5
Arachnida, Diplopoda. Ở cây ăn trái có 8 bộ là bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ đuôi bật
(Collembola), bộ hai cánh (Diptera), bộ cánh nửa (Hemiptera), bộ cánh đều
(Homoptera), bộ cánh màng (Hymenoptera), bộ cánh thẳng (Orthoptera), bộ rận sách
(Psocoptera) và 5 nhóm động vật là Arachnida, Diplopoda, Chilopoda, Crustaceae,
Pauropoda.
Phạm Văn Lầm và Nguyễn Thị Nhung (2002) đã thu thập được trên cây rau đậu
đỗ vùng ngoại ô Hà Nội hơn 40 loài thiên địch, trong đó mới định danh được 32 loài.
Có 4 loài phổ biến nhất là bọ rùa 6 vạch Menochilus sexmaculatus, Micraspis discolor,
Episyrphus balteatus và Ischodion scutellaris.
Điều tra sự đa dạng côn trùng trên ruộng rau tại một số địa bàn thành phố Cần
Thơ đã phát hiện được 36 loài sâu hại thuộc 19 họ và 7 bộ côn trùng (Diptera,
Hemiptera, Homoptera, Coleoptera, Orthoptera, Lepidoptera, Thysanoptera), 19 loài
côn trùng ăn thịt thuộc 8 họ trong 5 bộ (Diptera, Hemiptera, Coleoptera, Odonada,
Orthoptera) và có 18 loài côn trùng ký sinh thuộc 6 họ của bộ cánh màng
Hymenoptera (Nguyễn Trọng Nhâm và Nguyễn Thị Thu Cúc, 2005).
Kết quả điều tra sự đa dạng và phong phú côn trùng thiên địch trên vườn cam
quýt tại một số địa bàn thành phố Cần Thơ đã phát hiện được 157 loài côn trùng thuộc
14 bộ với 89 họ, trong đó 77 loài có ích, 41 loài dịch hại và 39 loài chưa rõ vai trò
trong hệ sinh thái (Nguyễn Thị Thái Sơn, 2005).
2.4 Một số nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây rau họ thập tự
Kết quả điều tra côn trùng và nhện hại cây trồng ở miền Nam Việt Nam năm
1976 – 1978 đã cho biết trên các loại rau họ thập tự gồm các cây bắp cải, su hào, cải
bông, cải xanh, cải ngọt, cải thảo, được trồng phổ biến ở nước ta hiện nay đã phát hiện
được 30 loài sâu hại. Trong đó có các loài sâu hại phổ biến là sâu xám (Agrotis
ypsilon), sâu tơ (Plutella xylostella), sâu xanh bướm trắng (Pierie rapae), sâu khoang
(Spodoptera litura), rệp mềm cải (Brevicorynine brassicae), bọ nhảy sọc vỏ lạc
(Phyllotreta striolata), sâu đục nõn cải (Hellula undalis), sâu đo xanh (Plusia
eriosoma), sâu xanh da láng (Spodoptera exigua).
nhộng của sâu tơ và được tìm thấy ở Chiang Mai và Petchaboon. Tỷ lệ ký sinh nhộng
của ong D. collaris từ 9 đến 31 % (trung bình là 16%) trong tháng 2, 3 năm 1990.
7
Thành phần thiên địch của sâu tơ trên cây cải bông tại 5 huyện Kien Svay,
Kandal Stueng, S’ang, Leuk Daek và Kaoh Thom (thuộc tỉnh Kandal, Campuchia)
gồm Coccinella transversalis, Micraspis discolor, Ophionea intertitialis, Oxyopes
javanus, và Cotesia plutellae. Những loài thiên địch này có tần suất xuất hiện thấp,
nguyên nhân có thể do nông dân địa phương đã sử dụng nhiều loại thuốc bảo vệ thực
vật trong phòng trừ sâu bệnh hại (Chan Bunlong, 2008).
Theo Phạm Văn Lầm (1997) và Lê Văn Trịnh (1998) ghi nhận có 4 loài ong ký
sinh sâu tơ, trong đó 3 loài ong ký sinh nhộng và 1 loài ong ký sinh sâu non sâu tơ. Có
20 loài thiên địch trên rau họ thập tự.
Trong các loài thiên địch trên rau họ thập tự ở Việt Nam, ong Cotesia plutellae
ký sinh sâu non sâu tơ xuất hiện phổ biến nhất. Vòng đời C. plutellae trong phòng thí
nghiệm kéo dài 13,1 – 14,6 ngày. Ở điều kiện vùng rau ngoại thành Hà Nội, loài ong
ký sinh này phát sinh nhiều từ tháng 10 đặc biệt vào cuối tháng 3 đầu tháng 4. Ong C.
plutellae thường gây chết cho sâu non sâu tơ với tỉ lệ không cao, khoảng từ vài phần
trăm đến 30% (Lê Văn Trịnh, 1998).
Cotesia plutellae là loài ký sinh quan trọng nhất trên sâu tơ Plutella xylostella. Tỉ
lệ ký sinh tự nhiên của loài ong này trên sâu tơ khá cao. Ở Việt Nam, mặc dù số lần
phun thuốc bảo vệ thực vật của bà con nông dân rất cao, 14 – 15 lần/vụ nhưng tỉ lệ ký
sinh của loài ong này trên sâu tơ vẫn đạt từ 7,17 đến 57,01 % (Vũ Thị Chỉ và ctv, 2002).
Theo Nguyễn Duy Hải (2005), tại Đà Lạt ong Didromus collaris ký sinh trên
tiền nhộng sâu tơ và nhộng sâu tơ từ 1 đến 2 ngày tuổi, nhưng thích hợp nhất là tiền
nhộng sâu tơ và nhộng 1 ngày tuổi, tiền nhộng sâu tơ khi bị ký sinh cho tỉ lệ ong cái
cao hơn. Ong ký sinh D. collaris có tỉ lệ ký sinh trên đồng ruộng thấp và không ổn
định, cao nhất chỉ đạt 11,74%.
sâu non ruồi đục lá gồm Diglyphus begini, Halticoptera circulus và Chrysonotomyia
punctiventris.
Theo kết quả điều tra của Asadi và ctv (2003) ở Varamin (Iran) có các loài ong kí
sinh sâu non ruồi đục lá gồm Cirrospilus vittatus, Hemiptarsenus zilahisebessi,
Closterocerus formosus, Diglyphus isaea, Diglyphus crassinervis và Pnigalio sp. Trong
9
đó, loài phổ biến nhất là Diglyphus isaea, Closterocerus formosus và Diglyphus
crassinervis với tỉ lệ kí sinh ruồi đục lá chung đạt 51,12%.
Tại Hawaii, Ronald FL Mau (2007) cho biết, ong ký sinh ruồi đục lá bao gồm
Opius
dissitus,
Halticoptera
patellana,
Diglyphus
begini,
Hemiptarsenus
semialbicclavus, Derostenus fullawayi, Chrysocharis parksi, Cothonapis pacifica,
Ganaspidium hunteri và Closterocerus sp.
Tại các vùng phụ cận ở Hà Nội, Lê Ngọc Anh và Đặng Thị Dung (2006) đã phát
hiện trên các loài ruồi đục lá có 10 loài ong ký sinh thuộc 5 họ của bộ cánh màng. Trong
ký sinh
nhộng sâu khoang và 11 loài côn trùng gây hại quan trọng khác (trích dẫn bởi Ranga
và ctv., 1993).
Kết quả báo cáo của Deng và Jim (1985) tại Quảng Tây, Trung Quốc đã sử dụng
thiên địch bắt mồi Conocephalus sp. để hạn chế khả năng gây hại của sâu khoang và đã
nhân nuôi thành công bằng thức ăn nhân tạo (trích dẫn bởi Ranga Rao và ctv., 1993).
Ranga Rao và ctv (1993) cho biết, ong Chelonus heliopae được sử dụng để
kiểm soát sâu khoang tại Ấn Độ. Ong Telenomus remus ký sinh trứng, nhộng sâu
khoang, được ghi nhận tại phía Tây SaMoa với tỉ lệ ký sinh trung bình 54% đã hạn chế
được số lượng trứng sâu khoang trên ruộng rau thập tự.
Theo nghiên cứu của Bùi Xuân Phong và Trương Xuân Lam (2010), bọ đuôi
kìm đen Euborellia annulipes ăn được 22,78 con sâu khoang/ngày, thả bọ đuôi kìm
2
đen mật độ thả 2 con/m có thể phòng chống sâu khoang hại rau.
2.5.5 Nghiên cứu thành phần thiên địch và vai trò của chúng trong việc kiểm soát
rệp muội trên cây rau họ thập tự
Tại miền Tây Bengal (Ấn Độ), Ghost và ctv (1991) ghi nhận, có 4 loài nấm gây
bệnh, 4 loài ký sinh thuộc bộ Hymenoptera và 20 động vật săn mồi (9 loài bộ
Coleoptera, 7 loài bộ Diptera, 2 loài bộ Hemiptera và 2 loài bộ Neuroptera). Quần thể
thiên địch này khá ổn định đã kiểm soát rệp muội rất tốt trên cây họ thập tự.
William và ctv (1996) đã xác định được một loài ong ký sinh có tác dụng kiểm
soát rất tốt rệp muội là Aphidius ervi và các loài ăn mồi là bọ xít mù, bọ rùa, bọ chân
chạy, nhện bắt mồi cũng có tác dụng kiểm soát rệp.
11
Theo Bùi Minh Hồng và Hà Quang Hùng (2005), điều tra trên rau họ hoa thập
Sâu non sâu tơ tuổi nhỏ có màu trắng mốc đầu màu đen, tuổi lớn có màu xanh
lá cây non. Sâu non đẩy sức dài 8 – 10 mm, trên các đốt bụng đều có lông nhỏ, ở mảnh
lưng trước có nhiều chấm đen nhỏ xếp thành hình chữ U.
Nhộng sâu tơ có kén giả bằng tơ mỏng, có dạng hình thoi màu xanh nhạt hoặc
vàng nhạt, dài 5 – 6 mm.
Sâu tơ là loài có khả năng diapause ở tất cả các pha phát triển của cơ thể. Ngài sâu
tơ hoạt động nhiều và nhanh nhẹn từ chập tối đến nửa đêm, ban ngày ngài thường ẩn nấp
vào mặt dưới của lá cây. Khi khua động thì ngài bướm sẽ bay ra một khoảng ngắn.
Phần lớn ngài cái sau khi vũ hóa thì giao phối và đẻ trứng trong cùng ngày.
Ngài cái thường đẻ trứng rải rác từng quả hoặc cụm 3 – 5 quả ở mặt dưới lá. Trứng
thường được đẻ ở phần lõm của lá non hoặc lá bánh tẻ. Một ngái trung bình đẻ được
khoảng 300 trứng.
Tùy theo tuổi, sâu non của sâu tơ có tập tính sinh sống gây hại khác nhau. Ở
tuổi 1 và tuổi 2, sâu non ăn nhu mô lá chừa lại phần biểu bì trên. Tuổi 3, 4, 5 sâu cắn
thủng lá. Sâu non hoạt động nhanh khi bị khua động thì nhả tơ di chuyển lẩn trốn rất
nhanh. Khi đẫy sức sâu non nhả tơ kết kén ngay trên lá thì hóa nhộng, phần lớn sâu
non hóa nhộng ở mặt dưới lá già hoặc các khe lõm của lá.
Vòng đời trung bình của sâu tơ khoảng 21 – 25 ngày. Thời gian này thay đổi
tùy theo nhiệt độ trong năm. Thời gian phát dục của trứng là 3 – 4 ngày, của sâu non là
11 – 12 ngày, của nhộng là 5 – 6 ngày và của trưởng thành là 2 – 3 ngày.
2.6.2 Bọ nhảy sọc vỏ lạc Phyllotreta striolata (Chrysomelidae – Coleoptera)
Theo Trần Thị Thiên An (2010), những loài bọ nhảy sọc vỏ lạc thường gặp là
bọ nhảy sọc cong Phyllotreta striolata, bọ nhảy sọc thẳng Phyllotreta rectilineata, bọ
nhảy sọc uốn Phyllotreta nemorum. Trong 3 loài bọ nhảy thì bọ nhảy Phyllotreta
striolata là loài gây hại phổ biến nhất.
13
Trưởng thành bọ nhảy sọc vỏ lạc là một loài cánh cứng nhỏ, dài 2 – 3 mm, cơ thể
Rệp mềm cải phần lớn sinh sản vô tính và đẻ ra con. Khi điều kiện sống không
thuận lợi chúng có thể sinh sản hữu tính. Một rệp mềm cái không cánh có thể đẻ từ 40
– 70 rầy con ở nhiệt độ 16 – 30 0C và ẩm độ 70 – 80 %.
Rệp mềm cải khi gây hại rau có khả năng phục hồi quần thể.
Điều kiện thích hợp cho rệp mềm phát triển gây hại là 25 – 28 0C và ẩm độ 70 –
80 %. Thời gian phát dục và vòng đời của rệp mềm cải trung bình 6 – 7 ngày, trên một
vụ rau thường có 20 – 30 lứa rệp. Ở miền Nam trong một năm, mật độ rệp cải thường
tăng dần vào cuối mùa mưa, tăng cao trong màu khô và giảm nhiều vào mùa mưa.
2.6.4 Sâu khoang Spodoptera litura (Noctuidae – Lepidoptera)
Theo Trần Thị Thiên An (2010), sâu khoang là loài sâu ăn tạp có thể phá hoại
300 loài cây khác nhau của 99 họ thực vật.
Ngài sâu khoang có cơ thể dài 16 – 21 mm sải cánh rộng 37 – 42 mm. Cánh
trước có màu nâu vàng, khoảng 2/3 từ góc cánh có 1 đai ngang rộng màu trắng bạc có
2 vân gợn sóng 2 bên đai. Ngài cái ở cuối bụng có chùm lông màu vàng nâu.
Trứng sâu khoang có dạng hình bán cầu, rộng 0,5 mm.
Sâu non sâu khoang có dạng hình ống tròn, cơ thể mọng nước. Sâu non đẩy sức
dài 38 – 51 mm, trên mặt lưng cơ thể có nhiều vạch phụ, dọc 2 bên sườn bụng có 2
hàng vệt đen hình bán nguyệt không đồng đều. Vệt đen ở đốt bụng thứ 1 và 8 là đậm
nhất và lớn nhất.
Nhộng sâu khoang dài 18 – 20 mm, có màu nâu tươi, đốt cuối bụng có một đôi
gai ngắn.
Ngài sâu khoang hoạt động về đêm, thích mùi vị chua ngọt.
Ngài cái sau khi vũ hóa thì thường ghép đôi và đẻ trứng ngay trong đêm hoặc
đêm hôm sau. Ngài cái thường đẻ trứng thành ở lộ thiên ở trên bề mặt lá. Mỗi ở
thường có 1000 – 1200 quả trứng.
15
Sâu non của sâu khoang có 6 tuổi, tập tính sinh sống thay đổi tùy theo tuổi và