VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------------------
PHẠM NGUYỄN HUY HOÀNG
TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN
NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG THEO
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------------------
PHẠM NGUYỄN HUY HOÀNG
TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN
NGHĨA VỤ DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG THEO
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 838.01.07
DLBK
Dân luật Bắc Kỳ
DLGYNK
Dân luật giản yếu Nam Kỳ
DLTK
Dân luật Trung Kỳ
HNGĐ
Hôn nhân và gia đình
SL
Sắc lệnh
TNLĐ
Trách nhiệm liên đới
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
thuận xác lập .............................................................................................................47
2.4. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung .......................................................................48
2.5. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng về tài sản đối với nghĩa vụ phát sinh từ
việc sử dụng tài sản riêng vì lợi ích chung ................................................................50
2.6. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng ..........................................................................................................51
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬTVỀ TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
DÂN SỰ CỦA VỢ CHỒNG ...................................................................................59
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật ...............................................................................59
3.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm liên đới THNVDS
của vợ chồng .............................................................................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa tới nay, HNGĐ luôn là một đối tượng được các nhà triết học, xã hội
học, tâm lý học, luật học tìm hiểu và nghiên cứu. Hôn nhân là nền tảng, là cơ sở chủ
yếu để hình thành nên gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng
con người mà trong đó kết hợp hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã
hội. Quan hệ HNGĐ là tổng thể gắn bó của nhiều mối quan hệ. Sự gắn bó đó không
chỉ thể hiện ở các quan hệ nhân thân mà còn được thể hiện thông qua các quan hệ
về tài sản. Nếu sự yêu thương, quan tâm chăm sóc giữa các thành viên trong gia
đình là điều kiện cần thì tài sản chính là điều kiện đủ để duy trì sự tồn tại và bảo vệ
hạnh phúc gia đình. Đó cũng chính là lý do pháp luật xây dựng những quy định để
của vợ chồng đối với giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nói riêng. Tuy
nhiên như thế nào là “trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng
thì chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc, riêng biệt và chưa có sự phân tích về
mặt thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như chưa cập nhật kịp thời các quy định theo
Luật HNGĐ 2014 về vấn đề này.
Nguyễn Ngọc Điện (2004), Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam, tập II–Các quan hệtài sản giữa vợ và chồng, NXB Trẻ. Đây là cuốn sách
chuyên khảo rất công phu trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, tác giả đã bình luận
rất kỹ càng, có góc nhìn sâu sắc về hầu hết các vấn đề liên quan chế độ tài sản của
vợ chồng, trong đó có các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng nói chung và TNLĐ của
vợ chồng nói riêng. Tuy nhiên, vấn đề TNLĐ của vợ chồng được nói đến một cách
rải rác và chưa thực sự toàn diện.
Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, NXB
Chính trị quốc gia Hà Nội: Đỗ Văn Đại, Giao dịch và giải quyết tranh chấp giao
dịch về quyền sử dụng đất, NXB Lao động: là cuốn sách chuyên khảo vềhợp đồng,
cuốn sách này cung cấp cái nhìn của tác giả về vấn đề hiệu lực của hợp đồng do một
bên vợ hoặc chồng giao kết đối với tài sản có giá trị lớn của gia đình, là một vấn đề
nổi cộm và còn nhiều tranh cãi trong xã hội thời gian gần đây.
* Dưới hình thức là luận án và luận văn, có các công trình nghiên cứu:
Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và
gia đình Việt Nam, luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội đã nghiên
2
cứu khái quát các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của
vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật
HNGĐ 2000. Đây là công trình nghiên cứu trên diện rộng về chế độ tài sản của vợ
chồng. Tuy nhiên chỉ mới bước đầu nêu sơ qua về trách nhiệm của vợ chồng đối với
các giao dịch dân sự nói chung, không đề cập rõ ràng, cụ thể khái niệm trách nhiệm
liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng, chỉ mới dừng lại ở những phân
của vợ chồng. Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu riêng biệt, toàn diện về đề
tài này.
Các công trình nghiên cứu này đã ít nhiều phân tích nội dung TNLĐ thực
hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng trong đời sống hôn nhân và sau hôn nhân của họ
dựa trên pháp luật thực định và thực tiễn xét xử, đem đến cho tác giả cái nhìn tổng
quan ban đầu về đề tài, đồng thời là tài liệu bổ ích để tác giả giúp tác giả hoàn thành
luận văn của mình. Tuy nhiên, những đề tài này được nghiên cứu khi Luật HNGĐ
2014 chưa được ban hành, do đó tác giả xin được khẳng định tính mới và tính cấp
thiết của việc lựa chọn đề tài này làm nội dung nghiên cứu của luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này, tác giả muốn làm sáng tỏ những quy
định pháp luật và chỉ rõ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng những
quy định pháp luật để giải quyết những vụ án dân sự nói chung, án HNGĐ nói riêng
về xác định TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng. Từ đó đề xuất một số
giải pháp thống nhất hoạt động xét xử tại Tòa án, góp phần hoàn thiện những quy
định pháp luật về TNLĐ của vợ chồng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các quy định pháp luật về TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự
của vợ chồng.
- Phân tích, đánh giá về thực trạng áp dụng các quy định pháp luật hiện hành
về TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm góp phần nào hạn chế những
bất cập liên quan đến TNLĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng.
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
tổng kết những kiến thức đã được triển khai trước đó, giúp người đọc thâu tóm
được vấn đề hướng đến.
Mỗi phương pháp nghiên cứu đem lại những hiệu quả nhất định trong việc
làm rõ đối tượng nghiên cứu, xác định mục đích của luận văn, thông qua đó truyền
tải được những nội dung mà người viết hướng đến.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn sẽ góp phần cung cấp cái nhìn sâu và thực tế đối với TNLĐ của vợ
chồng trong lĩnh vực hôn nhân gia đình. Trên cơ sở nắm bắt được bản chất của các
giao dịch để xác định được cụ thể hơn trách nhiệm của vợ và chồng trong việc thay
mặt cho nhau thực hiện giao dịch, đồng thời đảm bảo trách nhiệm liên đới đối với
bên tham gia giao dịch với vợ hoặc chồng. Thông qua việc thực hiện đề tài này, tác
giả mong muốn được đóng góp một phần công sức vào việc nghiên cứu hoàn thiện
chế độ tài sản của vợ chồng, cách thức xác định nghĩa vụ chung và riêng của vợ
chồng; đặc biệt là căn cứ để xác định TNLĐ của vợ chồng trong quá trình vợ chồng
tham gia vào quá trình giao lưu dân sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn này có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân đặc biệt các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, Luật sư nghiên cứu,
áp dụng thực tiễn trong việc giải quyết các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của gia đình. Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng để học tập nghiên cứu.
Đề tài này là một công trình nghiên cứu khoa học về luật. Tuy nhiên, do sự
hiểu biết về pháp luật cũng như khả năng nghiên cứu pháp luật của tác giả còn rất
nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tác giả rất mong
nhận được sự đóng góp của quý Thầy, Cô để luận văn này được hoàn thiện hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài
gồm ba chương.
Theo nguyên tắc này, khi thực hiện nghĩa vụ dân sự, người có nghĩa vụ phải
trung thực, không được lừa dối hoặc có những hành vi cản trở sự tiếp nhận nghĩa vụ
đối với người có quyền. Để đảm bảo lợi ích hợp pháp cho người có quyền, việc
thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ phải theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết.
Về nguyên tắc, pháp luật tôn trọng cam kết, thỏa thuận của các chủ thể trong quan
hệ nghĩa vụ nhưng trên nguyên tắc những cam kết, thỏa thuận đó không được vi
phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
1.2. Khái niệm trách nhiệm liên đới
Theo “Từ điển tiếng Việt phổ thông”, trách nhiệm là phần việc được giao
cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì
phải gánh chịu phần hậu quả. Từ đồng nghĩa với nó là “bổn phận” có nghĩa là sự
8
ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải
gánh chịu phần hậu quả [48].
Trách nhiệm trong “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” được định nghĩa là nhiệm
vụ phải gánh vác về phía mình và sự chịu kết quả về công việc của mình trước ai
[25].
Để có cái nhìn tổng quan về chế định trách nhiệm liên đới, chúng ta cần tìm
hiểu về hai chế định nghĩa vụ và trách nhiệm dân sự.
Theo BLDS 2015 thì nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể
phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện
công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một
hoặc nhiều chủ thể khác (Điều 274 BLDS 2015).
Về trách nhiệm dân sự, Điều 351 BLDS 2015 quy định trách nhiệm dân sự
chỉ xuất hiện khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng thời hạn, thực hiện không
đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
Như vậy, mối quan hệ giữa các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ, nghĩa vụ và
chồng như sau: Nghĩa vụ liên đới của vợ chồng là nghĩa vụ mà trong đó vợ hoặc
chồng có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ phát sinh trong
giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt thiết yếu của gia đình [24, tr.17].
Từ khái niệm nghĩa vụ liên đới của BLDS 2005 và Điều 25 Luật HNGĐ 2000
khái niệm trách nhiệm liên đới của vợ chồng có thể được khái quát: Trách nhiệm
liên đới của vợ chồng là quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc vợ, chồng phải cùng nhau gánh chịu những
hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có
quyền dân sự bị xâm phạm trong giao dịch dân sự mà họ tham gia [24, tr.19]. Hiểu
như vậy thì dường như Luật HNGĐ 2000 đã đồng nhất hai khái niệm nghĩa vụ liên
đới và trách nhiệm liên đới của vợ chồng.
Luật HNGĐ 2000 đã được thay thế bằng Luật HNGĐ 2014 có hiệu lực từ
01/01/2015. Luật HNGĐ 2014 đã tạo ra nhiều sự thay đổi với chế định trách nhiệm
liên đới của vợ chồng. Điều đầu tiên, nghĩa vụ liên đới của vợ chồng không còn bị
đồng nhất với trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi Luật HNGĐ 2014 đã bổ sung
Điều 37 quy định cụ thể về nghĩa vụ chung của vợ chồng. Xuất phát từ cơ sở lý luận
về mối quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ chung này chính là
nghĩa vụ liên đới của vợ chồng. Điều 27 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ
chồng cũng có những sửa đổi mang tính chất đột phá, tác giả có thể khái quát khái
niệm trách nhiệm liên đới của vợ chồng như sau: Trách nhiệm liên đới của vợ
chồng là quy định của pháp luật về việc vợ, chồng phải cùng nhau gánh chịuhậu
quả pháp lý phát sinh từ các quy định về đại diện giữa vợ chồng và nghĩa vụ chung
về tài sản của vợ chồng. Ngoài ra, Điều 27 của Luật HNGĐ 2014 đã khắc phục
10
được nhược điểm của Luật cũ đó là phạm vi quá hẹp, các nhà làm luật chưa dự liệu
đủ các tình huống xảy ra trong thực tế đời sống khi quy định trách nhiệm liên đới
của vợ chồng chỉ phát sinh từ giao dịch dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng thực
sinh trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Nghĩa vụ liên đới của vợ chồng (nghĩa vụ
chung) đã được quy định tại Điều 37, nhưng trong Điều 37 lại không có trách nhiệm
dân sự phát sinh từ giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24,
25, 26. Lẽ ra, nghĩa vụ của vợ chồng phát sinh từ loại giao dịch này cũng phải là
một trong các loại nghĩa vụ được liệt kê tại Điều 37. Và khi đó Điều luật về trách
nhiệm liên đới của vợ chồng chỉ cần quy định một cách ngắn gọn như tại Khoản 2
Điều 37 như hiện nay.
Điều 37 quy định cụ thể về nghĩa vụ chung của vợ chồng. Xuất phát từ cơ sở
lý luận về mối quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng, nghĩa vụ chung này chính
là nghĩa vụ liên đới của vợ chồng. Điều 27 quy định về TNLĐ của vợ chồng cũng
có những sửa đổi mang tính chất đột phá, có thể khái quát khái niệm như sau: Trách
nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ chồng là quy định của pháp luật về
việc vợ, chồng phải cùng nhau gánh chịu hậu quả pháp lý phát sinh từ các quy định
về đại diện giữa vợ chồng và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Ngoài ra,
Điều 27 của Luật HNGĐ 2014 đã khắc phục được nhược điểm của Luật cũ đó là
phạm vi quá hẹp, các nhà làm luật chưa dự liệu đủ các tình huống xảy ra trong thực
tế đời sống khi quy định TNLĐ của vợ chồng chỉ phát sinh từ giao dịch dân sự hợp
pháp do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia
đình.
1.3.2. Các loại trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự của vợ
chồng
Từ quy định tại Điều 288 BLDS 2015, vợ và chồng có trách nhiệm ngang
nhau đối với việc thực hiện nghĩa vụ liên đới, trường hợp một bên không có khả
năng thực hiện thì bên thứ ba (bên có quyền) có thể yêu cầu bên còn lại thực hiện
toàn bộ nghĩa vụ. Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà vợ, chồng không thực
hiện đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nội dung
của nghĩa vụ thì sẽ phát sinh TNLĐ với bên thứ ba. Tuy nhiên, nếu sự phạm này
chưa gây ra thiệt hại thì vợ, chồng có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ. Trường
hợp gây ra thiệt hại cho bên thứ ba thì vợ chồng phải chịu trách nhiệm BTTH. Vì
vậy, tùy thuộc vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ mà TNLĐ giữa vợ và
để từ đó các nhóm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được thiết lập. Việc kết hôn
phải hợp pháp tức là có đủ điều kiện kết hôn và tiến hành đăng ký kết hôn trước có
quan nhà nước có thẩm quyền mới được pháp luật Việt Nam công nhận (Điều 9
13
Luật HNGĐ 2014).
Tuy nhiên một số trường hợp nam nữ sống chung với nhau trước ngày
03/01/1987 (ngày Luật HNGĐ 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn thì pháp
luật vẫn công nhận là hôn nhân thực tế, vẫn công nhận họ là vợ chồng. Ngoài ra,
các trường hợp nam nữ đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn, mặc dù có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán hoặc
nghi lễ tôn giáo đều không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, không làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Như vậy, việc vợ chồng có trách nhiệm
chăm sóc lẫn nhau cũng như phải chăm lo và xây dựng gia đình chỉ xuất hiện sau
khi có quan hệ hôn nhân. Do đó, quan hệ hôn nhân hợp pháp chính là căn cứ đầu
tiên dẫn đến sự tồn tại của chế định TNLĐ của vợ chồng.
1.3.3.2. Hình thức sở hữu của vợ chồng
Sở hữu chung của vợ chồng được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 33 Luật
HNGĐ 2014 và Điều 213 BLDS 2015. Theo đó hình thức sở hữu chung của vợ
chồng là hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Tài sản chung của vợ
chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, trong đó vợ chồng có quyền, nghĩa vụ ngang
nhau đối với tài sản chung. Vợ chồng có quyền ngang nhau khi thực hiện quyền sở
hữu đối với tài sản chung, trong việc xác lập các giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của gia đình cũng như chịu trách nhiệm phát sinh đối với các giao dịch này.
Đây là xuất phát điểm của nguyên tắc khối tài sản chung chịu trách nhiệm cho nghĩa
vụ chung, trường hợp khối tài sản chung không đủ để thanh toán mới sử dụng đến
tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng khi tiến hành xác định TNLĐ của vợ chồng.
1.3.3.3. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản
Điều 17 Luật HNGĐ 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có
mình nhưng phải dựa trên lợi ích của gia đình. Cụ thể hơn, khi thực hiện những
quyền và nghĩa vụ về HNGĐ, vợ chồng phải tính toán đến lợi ích của gia đình trước
tiên, sau đó mới là của bản thân. Một thành viên của gia đình không thể thực hiện
một hành vi vì lợi ích của mình làm thiệt hại đến gia đình và yêu cầu gia đình phải
cùng chịu trách nhiệm đối với hậu quả mà hành vi gây ra.
Ngoài ra, vợ chồng cùng chung sống, cùng gánh vác công việc gia đình và
phát triển khối tài sản chung trong quá trình hôn nhân. Không thể chỉ nhắc đến tình
yêu khi nhắc đến gia đình mà để đáp ứng những nhu cầu thực tế của gia đình, vợ
chồng cần có tài sản. Để tạo lập và phát triển khối tài sản chung nhằm đảm bảo đời
15
sống chung, vợ chồng còn phải có sự trao đổi, giao lưu với rất nhiều bên thứ ba.
Trong quá trình giao lưu dân sự đó, nhiều trường hợp một bên vợ/chồng phải tự
mình thực hiện các giao dịch để đáp ứng nhu cầu của gia đình hay gây ra một thiệt
hại nào đó trong quá trình thực hiện các hành vi vì lợi ích của gia đình…, tuy nhiên
điều đó không có nghĩa là người vợ/chồng nói trên phải tự chịu trách nhiệm đối với
hành vi của mình. Bởi lẽ, trách nhiệm phát sinh từ việc thực hiện hành vi vì lợi ích
của gia đình trong những giới hạn luật định của một bên vợ/chồng sẽ ràng buộc bên
còn lại theo quy định tại Điều 27 Luật HNGĐ 2014. Lý do là bởi vợ chồng có
quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình dựa trên nguyên tắc bình
đẳng giữa vợ và chồng.
1.3.4. Các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ
dân sự của vợ chồng
1.3.4.1. Theo thỏa thuận của vợ chồng
TNLĐ của vợ chồng sẽ phát sinh dựa trên thỏa thuận của vợ chồng trong các
trường hợp sau:
Thứ nhất, bên còn lại tự nguyện chịu trách nhiệm chung đối với nghĩa vụ tài
sản riêng của một bên: đây vốn là trách nhiệm riêng của một bên, tuy nhiên pháp
luật đã tôn trọng sự tự do về mặt ý chí cũng như quyền tự do thỏa thuận của các bên
không thực hiện giao dịch, giao dịch có mang đến rủi ro hay ảnh hưởng đến quyền
lợi của bên vợ/chồng còn lại, của gia đình hay không.
1.3.4.2. Theo quy định của pháp luật
TNLĐ của vợ chồng sẽ phát sinh theo quy định của pháp luật trong các
trường hợp sau:
Thứ nhất, các trường hợp BTTH mà pháp luật quy định vợ chồng cùng phải
chịu trách nhiệm: vợ chồng chịu TNLĐ bồi thường thiệt hại khi một bên vợ/chồng
hoặc cả vợ và chồng có hành vi trái pháp luật, hành vi trái pháp luật này gây ra thiệt
hại trên thực tế, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy
ra; đồng thời thiệt hại đó ràng buộc trách nhiệm cả vợ chồng theo quy định của
pháp luật. Ví dụ về việc vợ chồng liên đới bồi thường thiệt hại trong hợp đồng: một
bên vợ/chồng thỏa thuận với bên thứ ba sẽ bán tài sản chung (không phải là tài sản
thuộc khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ 2014 [30]) để phục vụ nhu cầu thiết yếu của
gia đình nhưng sau đó lại không thực hiện và việc không thực hiện này gây ra hậu
quả về tài sản cho bên thứ ba (bên thứ ba đã hứa bán tài sản này cho người khác và
17
đã nhận tiền đặt cọc, việc bên vợ/chồng nói trên không thực hiện thỏa thuận khiến
bên thứ ba bị phạt cọc). Theo quy định tại Khoản 2 Điều 37 Luật HNGĐ 2014 thì
đây là nghĩa vụ chung của vợ chồng và vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm đối
với thiệt hại xảy ra do việc không thực hiện nghĩa vụ chung này. Ví dụ về việc vợ
chồng liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: vật nuôi do vợ chồng nuôi cắn
bên thứ ba gây thiệt hại về sức khỏe, theo quy định tại Khoản 1 Điều 603 BLDS
2015 thì chủ sở hữu của súc vật phải bồi thường. Vợ chồng sẽ liên đới chịu trách
nhiệm với bên thứ ba trong trường hợp này.
Thứ hai, BTTH do con chưa thành niên gây ra. Cụ thể [10]:
Con chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi
thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con có
tài sản riêng thì dùng tài sản riêng của con để bồi thường. Ngoại lệ của trường hợp
bên vợ/chồng là giám hộ/đại diện theo pháp luật phải vì nhu cầu, lợi ích của người
được giám hộ/đại diện.
Thứ tư, giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
gia đình. Xuất phát từ nhu cầu xây dựng gia đình và trách nhiệm của vợ chồng khi
duy trì đời sống gia đình, vợ chồng có quyền cũng như nghĩa vụ thực hiện giao dịch
với bên thứ ba nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (theo khoản1 Điều 30
Luật HNGĐ 2014). Để tránh trường hợp một bên vợ/chồng bỏ bê gia đình khiến
bên còn lại phải cáng đáng nhưng không thực hiện được các giao dịch phục vụ cho
mục đích chung của gia đình hoặc rủi ro phải tự chịu trách nhiệm khi liều lĩnh quyết
định tự mình thực hiện giao dịch.
Thứ năm, thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung. Xuất phát từ nguyên
tắc vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong
gia đình, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc thỏa thuận chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung đồng thời cùng nhau gánh chịu trách nhiệm phát sinh từ
việc thực hiện quyền sở hữu đó. Theo quy định tại Điều 35 Luật HNGĐ 2014 mọi
giao dịch liên quan đến tài sản chung đều cần sự thỏa thuận của vợ chồng, sự thỏa
thuận này phải được thể hiện bằng văn bản đối với một số loại tài sản chung. Nếu
không có sự thỏa thuận này thì giao dịch sẽ không có hiệu lực và nghĩa vụ phát sinh
là nghĩa vụ riêng.
Thứ sáu, sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc
để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình. Về nguyên tắc, quyền thực hiện các
19