Phân tích điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và nêu những điểm cần sửa đổi bổ sung - Pdf 34

A.MỞ ĐẦU
Điều kiện kết hôn là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và
gia đình. Điều kiện kết hôn là chuẩn mực pháp lí để xác lập quan hệ hôn nhân và xây
dựng gia đình theo khuôn mẫu nhất định phù hợp với lợi ích chung của Nhà nước và xã
hội trong giai đoạn lịch sử nhất định. Các điều kiện kết hôn đã đi vào cuộc sống, trở
thành thói quen tốt đẹp trong đời sống hôn nhân và gia đình ở nước ta. Tuy nhiên, trên
thực tế, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã bộc lộ những thiếu xót, những vấn
đề cần được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các qui định về điều kiện kết hôn cho phù
hợp với sự biến động của điều kiện xã hội hiện nay. Sau đây, em xin được Phân tích
điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và nêu những điểm cần
sửa đổi bổ sung.
B.NỘI DUNG:
Điều kiện kết hôn được qui định tại điều 9, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:
“Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
1. Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;
2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa
dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;
3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10
của Luật này.”
I. Phân tích điều kiện kết hôn theo luật hôn nhân gia định năm 2000:
Kết hôn là việc hai bên nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng, là mốc khởi đầu của
quan hệ hôn nhân. Nhà nước qui định điều kiện hôn nhân nhằm hướng đến xây dựng gia
đình ấm no hạnh phúc, hôn nhân tự nguyện tiến bộ. Điều kiện hôn nhân bao gồm những
điều kiện về mặt nội dung và hình thức-pháp luật chỉ bảo vệ quan hệ hôn nhân tuân thủ
đầy đủ những điều kiện này. Điều kiện kết hôn về mặt nội dung: điều kiện về độ tuổi,
điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam nữ trong việc kết hôn, việc kết hôn không
1


thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn được qui định tại điều 10. Điều kiện kết
hôn về mặt hình thức: đăng kí kết hôn.

nguyện của hai bên nam, nữ. Sự cưỡng ép, lừa dối từ hai phía đối với nhau, sự cưỡng ép
hay cản trở từ phía gia đình xã hội đều không thể đem lại hạnh phúc trong quan hệ vợ
chồng. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của các bên khi xác lập một quan
hệ pháp luật, một giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố vô hiệu do bị lừa dối cưỡng ép;
quan hệ kết hôn cũng có thể bị hủy khi có dấu hiệu cưỡng ép, không tự nguyện.
3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định tại
Điều 10:
Điều 10, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định như sau:
“Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:
1. Người đang có vợ hoặc có chồng;
2. Người mất năng lực hành vi dân sự;
3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi
ba đời;
4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố
chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con
riêng của chồng;
5. Giữa những người cùng giới tính.”

a, Trường hợp cấm thứ nhất: Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với
người khác:
Qui định này là sự kế thừa và cụ thể hóa nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và
gia đình-nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng. Đó là qui định hết sức cần thiết đảm
bảo thực hiện nhiệm vụ của luật hôn nhân gia đình là xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình
phong kiến, xóa bỏ sự đối xử bất bình đẳng đối với người phụ nữ, xây dựng hôn nhân
tiến bộ xã hội chủ nghĩa.

3


Pháp luật phong kiến Việt Nam qui định người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ

c. Trường hợp cấm thứ 3: Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực
hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời:
Khoản 12,13 Điều 8 luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định: “những người
cùng dòng máu về trực hệ là cha, mẹ đối với con; ông bà đối với cháu nội và cháu
ngoại”, “những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra:
cha mẹ là đời thứ nhất, anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha
là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ 3”. Qui
định cấm kết hôn giữa những người này là hoàn toàn phù hợp với khoa học và phong
tục tập quán của nước ta. Việc cấm những người này kết hôn với nhau là để đảm bảo thế
hệ tiếp theo khỏe mạnh, duy trì nòi giống không mang bệnh tật bẩm sinh, theo nghiên
cứu của các nhà khoa học thì con sinh ra do quan hệ giữa những người có họ hàng trong
phạm vi ba đời thường có những biến chứng như quái thai, thoái hóa, dị dạng do cấu
trúc gen di truyền của họ, Về mặt xã hội và truyền thống dân tộc thì việc kết hôn giữa
những người này sẽ phá vỡ tôn ti trật tự trong họ hàng , cách xưng hô, những chuẩn
mực đạo đức bị xâm phạm, suy đồi,...
d. Trường hợp cấm thứ tư: Cấm kết hôn giữa những người đã từng là cha mẹ
nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là bố chồng với con dâu, mẹ vợ với
con rể, giữa người đã từng là bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng
của chồng.
Xét về quan hệ thực tế, giữa những người này không có quan hệ huyết thống, tuy
nhiên, trước đây giữa họ đã có mối quan hệ cha mẹ-con và có quan hệ chăm sóc, nuôi
dưỡng. Do vậy, việc pháp luât qui định những người này cấm kết hôn với nhau là hoàn
toàn đúng đắn, bảo đảm giữ gìn thuần phong mĩ tục của dân tộc, bảo đảm thực hiện các
nguyên tắc của cuộc sống, nhằm ổn định mới quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi,
5


phù hợp với đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam, ngăn chặn hiện tượng cưỡng ép kết
hôn do mối quan hệ phụ thuộc giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.
e. Trường hợp cấm thứ 5: Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.

“bắt buộc phải có đăng kí kết hôn trong hồ sơ chính thức của Nhà nước”.
Khoản 1, điều 11, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã qui định “ nam, nữ
không đăng kí kết hôn mà sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công
nhận là vợ chồng”. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không thừa nhận hôn nhân
thực tế, thể hiện rõ thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với những trường hợp kết
hôn không tuân thủ qui định của pháp luật. Ngoải ra, có những hoàn cảnh đặc biệt như
đời sống còn nhiều khó khăn của đồng bào vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn,
nên phải tạo thuận lợi cho nhân dân bằng cách tổ chức đăng kí kết hôn lưu động. Chính
quyền địa phương cần bố trí cán bộ có thẩm quyền cùng với cán bộ hộ tịch tư pháp hàng
tháng tăng cường xuống cơ sở để nắm tình hình và tổ chức đăng kí kết hôn ngay tại nơi
cư trú và tích cực phổ biến luật nói chung, luật hôn nhân và gia đình nói riêng đến đồng
bào các vùng xa xôi, hẻo lánh.
II. Một số điểm cần sửa đổi bổ sung với điều kiện kết hôn trong luật hôn nhân và
gia đình năm 2000:
Luật Hôn nhân và gia đình là một trong các văn bản pháp lý quan trọng nhất của
Nhà nước ta trong xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình Việt
Nam với mục tiêu gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững… Tuy
nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, Luật Hôn nhân và gia đình đang tồn tại một số bất
cập cần phải sửa đổi, trong đó, có quy định về độ tuổi kết hôn và hậu quả pháp lý của
các trường hợp kết hôn không tuân thủ điều kiện theo luật định.

7


Về điều kiện kết hôn, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: nam, nữ kết hôn với
nhau phải tuân thủ các điều kiện sau: nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi
trở lên. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc,
lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở. Tuy nhiên, chiếu theo quy định
của một số pháp luật liên quan thì quy định này chưa có sự thống nhất. Điều 17 của Bộ
luật Dân sự hiện hành quy định: năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của

mình yêu cầu tòa án hoặc đề nghị viện kiểm sát yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái
pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 điều 9 của luật này. Như vậy,
Luật Hôn nhân và gia đình mới chỉ quy định việc kết hôn không tuân thủ điều kiện kết
hôn là trái pháp luật và có thể bị tòa án xem xét, quyết định hủy việc kết hôn đó. Tuy
nhiên, Luật chưa quy định cụ thể các trường hợp kết hôn trái pháp luật cần thiết phải xử
hủy và những trường hợp kết hôn trái pháp luật không cần thiết phải xử mà cần công
nhận hôn nhân cho các bên đương sự.
Tại điểm d, mục 2, Nghị quyết số 02/2000/NQ- HĐTP(23/12/2000) của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án Nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định: đối với những trường hợp kết hôn khi một bên bị
ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm 2
Điều 9, tuỳ từng trường hợp mà mà tòa án quyết định như sau: nếu sau khi bị ép buộc,
bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà cuộc sống không có hạnh phúc, không có tình
cảm vợ chồng, thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Nếu sau khi bị ép buộc, bị
lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà bên bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép đã biết,
nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hoà thuận thì không quyết định huỷ việc kết
hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly
hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.
Như vậy, khi giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án cần chú ý đến từng
trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định hủy kết hôn trái pháp luật hay công nhận hôn
9


nhân của các đương sự. Đây là quy định phù hợp với thực tiễn, bảo vệ được các quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, điều này lại không được cụ thể hóa trong luật
nên gây vướng mắc trong giải quyết về vấn đề này. Từ thực tiễn thi hành luật cho thấy
đã đến lúc cần phải tiến hành sửa đổi quy định về độ tuổi kết hôn và hậu quả pháp lý
của các trường hợp kết hôn không tuân thủ theo luật định là điều hết sức cần thiết, nhằm
bảo đảm quyền lợi của đương sự, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các quy định của
pháp luật liên quan, đồng thời tạo được sự thuận tiện cho việc thực thi trong quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status