MỤC LỤC
STT
1
NỘI DUNG
TRANG
MỞ ĐẦU
1
1.1
Lý do chọn đề tài
1
1.2
Mục đích nghiên cứu
2
1.3
Đối tượng nghiên cứu
2
1.4
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
16
3
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
18
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Năm học 2017- 2018 chuyên đề “Tăng cường tiếng việt “ là chuyên đề
trọng tâm của năm học. Việc tăng cường các biện pháp chuẩn bị tiếng Việt cho
trẻ vùng dân tộc thiểu số đảm bảo tất cả trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số được
chuẩn bị tiếng Việt trước khi vào lớp 1 đây là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm của trường mầm non có học sinh là người dân tộc thiểu số. Chính phủ đã ra
quyết định số 1008/ QĐ-TTg ngày 02/6/2016 của thủ tướng chính phủ phê duyệt
đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ Mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc
thiểu số giai đoạn 2016-2020 định hướng đến năm 2025”. Trong những năm học
gần đây, chuyên đề giáo dục “Dạy tiếng việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu sô”. Được
xác định là chuyên đề trọng tâm trong các trường Mầm non vùng dân tộc thiểu số,
với mong muốn để thực hiện có hiệu quả ngày một nâng cao chất lượng sử dụng
tiếng Việt cho trẻ em là người dân tộc thiểu số.
Trong các môn học và các hoạt động hàng ngày ở trường mầm non. Đều có sự
rèn luyện phát triển ngôn ngữ tăng cường tiếng việt cho trẻ, để trẻ hiểu tiếng việt
(tiếng phổ thông) giúp trẻ tiếp thu kiến thức đảm bảo sự phát triển toàn diện ở trẻ,
cho trẻ được sử dụng ngôn ngữ để trò chuyện, đàm thoại nhiều nhất là bộ môn khám
nhất là trong quá trình đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi sắp xếp từ trong câu lộn xộn
không đúng nghĩa, nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc giao tiếp và tiếp thu kiến
thức của trẻ.
Đối với trẻ em mầm non nói chung và trẻ 5- 6 tuổi nói riêng, trẻ rất nhạy
cảm với ngôn giao tiếp. Hoạt động khám phá khoa học là một quá trình tiếp xúc,
tìm tòi tích cực từ phía trẻ, nhằm phát hiện những cái mới, những cái ẩn dấu
trong sự vật, hiện tượng xung quanh. Chính vì vậy so với “làm quen” thì
“khám phá” bao gồm các hoạt động đa dạng, tích cực hơn, nội dung khám phá
cũng phong phú sâu sắc hơn.
Muốn nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, trước hết phải giúp trẻ
tạo điều kiện cơ bản để các hoạt động hàng ngày trong trường mầm non được tổ
chức đạt hiệu quả cao nhất là hoạt động giao tiếp thường xuyên giữa cô và trẻ
cũng như hoạt động trẻ khám phá khoa học và trải nghiệm cùng bạn bè, nhất là
việc giúp giao tiếp, đặc biệt và việc giúp trẻ nói rõ ràng mạch lạc nói đủ câu từ
bằng tiếng Việt, khắc phục được việc nói trống không khi giao tiếp, hay nói chưa
đủ câu của trẻ đây là điều kiện cần thiết giúp trẻ trong việc giao tiếp với mọi
người xung quanh mạnh dạn, tự tin chuẩn bị tốt các điều kiện vào lớp 1 sau này
Vậy làm như thế nào để học sinh khi đến trường có thể giao tiếp với cô,
với bạn và với những người xung quanh bằng ngôn ngữ giao tiếp một cách
thành thạo, đủ từ trong câu, khắc phục được việc nói trống không, nói tiếng dân
tộc đặc biệt là giúp trẻ biết sử dụng tiếng việt bằng những từ ngữ mang tính giáo
dục từ suy nghĩ đó tôi đã chọn đề tài " Một sô biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5- 6
tuổi là người dân tộc thiểu sô nói rõ ràng, mạch lạc thông qua hoạt động
khám phá khoa học " để thực hiện trong năm học tìm ra các biện pháp tổ chức
hoạt động có hiệu quả khắc phục các tồn tại trong quá trình tổ chức hoạt động
dạy trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi là người dân tộc thiểu số biết sử dụng tiếng việt rõ
ràng mạch lạc trong giao tiếp.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Với đề tài này mục đích nghiên cứu nhằm để tìm ra các biện pháp tổ chức
phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ dân tộc thiểu số lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi
động rất lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ sau này.
Quá trình học tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vào
giáo viên. Vì trong mỗi chủ đề chủ điểm giáo viên sẽ dạy trẻ cái gì và cần dạy
như thế nào để trẻ dễ hiểu, dễ nhớ, hứng thú tham gia vào các hoạt động, phát
huy được tính tích cực chủ động sáng tạo ở trẻ.
Ngôn ngữ cho trẻ giao tiếp là một chủ thể tích cực, là tiền đề để trẻ tích
cực giao tiếp với bạn bè và chủ động giao tiếp. Trong cuộc sống hằng ngày,
chúng ta sử dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại, thảo luận, trình bày những
hiểu biết, suy nghĩ, giải thích một vấn đề nào đó trong cuộc sống như: Miêu tả
lại được sự việc, câu chuyện đã được nghe, được chứng kiến, hay tự mình nghĩ
ra, sáng tạo ra. Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của cô của những người xung
quanh. Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết của mình theo ngôn ngữ
tiếng Việt.
Muốn phát triển ở trẻ kỹ năng, hiểu và nói được ngôn ngữ tiếng Việt,
trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò
chuyện, đàm thoại, và đặc biệt hơn để phát tiển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu
số cho trẻ học thông qua khám phá khoa học là vô cùng quan trọng nhưng hình
thành như thế nào đây mới thật là điều không phải dễ.
Trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số bắt đầu học tiếng Việt trên cơ sở kinh
nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt. Môi trường giao tiếp tiếng Việt của
trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số thu hẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian
(trong phạm vi trường lớp mầm non).Việc học tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân
tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất và sự giao thoa ngôn ngữ
giữa tiếng mẹ đẻ với tiếng Việt.
Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có khía cạnh ngôn ngữ
cũng ảnh hưởng tới việc học tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số. Sự khác
biệt về điều kiện sống của các dân tộc thiểu số có tác động nhất định đối với
việc học tiếng Việt của trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số.
Một số dân tộc sống ở khu vực gần nơi có nhiều người Kinh sinh sống,
tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc trong cộng đồng
cơ sở vật chất tương đối đầy đủ cho lớp .
Được sự quan tâm tín nhiệm và tin cậy sự phối hợp tích cực của phụ
huynh.
Được sự quan tâm của phòng giáo dục tổ chức lớp tập huấn chuyên đề
“Phát triển ngồn ngữ cho trẻ mầm non”
* Khó khăn.
Năm học 2017 - 2018 được sự phân công chủ nhiệm lớp 5- 6 tuổi trẻ là
người dân tộc Dao và dân tộc Mường trẻ đã sử dụng tiếng phổ thông nhưng khi
giao tiếp trẻ thường nói trống không, nói thiếu thành phần ngữ pháp, nói lắp
không rõ ràng còn lẫn lộn giữa tiếng mẹ đẻ với tiếng phổ thông, dẫn đến giao
tiếp gặp khó khăn.
Khi ở lớp trẻ chưa tự tin khi giao tiếp với cô giáo và các bạn.
6
Đồ dùng trực quan phục vụ cho quá trình khám phá khoa học chưa phong
phú, hấp dẫn về chủng loại, màu sắc, chưa đáp ứng được nhu cầu của trẻ.
Phụ huynh phần lớn là làm nông nghiệp, nên gặp rất nhiều khó khăn về
việc hỗ trợ đóng góp kinh phí để mua sắm đồ dùng trực quan cho trẻ được thực
hành, trải nghiệm.
Sân trường còn hẹp cho trẻ tham gia các hoạt động nên hạn chế nhiều
trong việc cho trẻ thực hành , trải nghiệm.
* Kết quả khảo sát thực trạng đầu năm.
TT
Tiêu chí
Đạt
Tổng
25
14
56%
11
44%
3
Trẻ thể hiện được ngôn ngữ nói
rõ ràng mạch lạc
25
13
52%
12
48%
Nhìn vào kết quả kháo sát số trẻ biết sử dụng tiếng phổ thông khi giao tiếp
còn hạn chế rất nhiều
2.3. Các biện pháp tổ chức thực hiện.
2.3.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường cho trẻ được KPKH sử
dụng ngôn ngữ nói tiếng việt.
Ví dụ: Mảng chủ đề tôi trang trí ở vị trí chính để trẻ dễ nhìn thấy, nội
dung của các mảng chủ đề thường tổng hợp các hình ảnh về chủ như chủ đề gia
đình. Mở đầu chủ đề tôi chuổn bị các điều kiện trang trí nhóm lớp ở các góc, tạo
điều kiện cho trẻ được quan sát khám phá tôi chú ý đặt các câu hỏi cho trẻ trả lời
bằng tiếng phổ thông, có thể trẻ tự khám phá, quan sát miêu tả sự vật tôi chú ý
sửa sai cho trẻ để trẻ phát âm tiếng việt rõ ràng mạch lạc.
Hình ảnh cô và trẻ trong tiết học khám phá các thành viên trong gia đình
Ví dụ: Khi trẻ quan sát tranh ảnh về" gia đình" trong chủ điểm gia đình
trẻ dân tộc mường hay gọi bố là “ Pác” cô sữa sai ngay cho trẻ phát âm từ
“Pác" thành từ “Bô” nhé, bố con làm nghề gì? nghề đấy tạo ra sản phẩm gì?
Hay cô chỉ vào hình ảnh người mẹ thì các trẻ dân tộc dao hay nói đó là “ Ông
mạ” nghĩa là “Mẹ” cô sữa được các từ trẻ hay dùng ở nhà để trẻ tránh được
8
trong khi trẻ đàm thoại với cô, tương tự các chủ điểm khác cô cũng có các bức
tranh về chủ đề chủ điểm để trẻ được tự quan sát miêu tả phát âm tiếng việt rõ
ràng mạch lạc.
Hình ảnh một sô đồ dùng trong gia đình
Ví dụ: Cũng ở chủ điểm gia đình bản thân tôi cũng đã làm thêm đồ dùng tự
tạo để bổ sung vào các góc và các tiết dạy khám phá khoa học với những đồ dùng
tự tạo này tôi đã vận dụng vào tiết dạy khám phá một số loại đồ dùng trong gia
đình: Khi khám phá một số loại đồ dùng trong gia đình cô đưa ra câu hỏi:
Đây là cái gì?(cái nồi)
Trẻ dao trả lời: “ Nom xoang” cô sửa sai ngay cho trẻ đọc từ “nom xoang”
từ tiếng mẹ đẻ thành từ “Cái nồi” của tiếng phổ thông các con nhé.
phát âm lại bằng tiếng việt.
Trồng hoa để làm gì? Trẻ dân tộc Dao trả lời “pun ruội” có nghĩa là “làm
cảnh” cô cũng sửa sai và phát âm lại cho trẻ bắt trước theo cô
Qua góc thiên nhiên này tôi thấy trẻ được trực tiếp với các sự vật trẻ hứng
thú học tập và nhận thức sâu sắc về các hiện tượng từ đó vốn từ của trẻ được mở
rộng hơn.
Hình ảnh: Cô và trẻ chăm sóc cây ở góc thiên nhiên
2.3.2. Biện pháp 2: Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện trong giờ hoạt động
khám phá khoa học.
10
Với đặc điểm tâm lý “Học bằng chơi, chơi mà học”. Trẻ 5- 6 tuổi tư duy
của trẻ là tư duy trực quan hành động, trẻ tri giác dưới đồ vật, sự vật qua các
hình ảnh, vật thật và nếu tổ chức cho trẻ tri giác quan sát các sự vật dưới nhiều
hình thức khác nhau thì trẻ hứng thú học tập và tiếp thu bài học tôt hơn, bằng
kinh nghiệm giảng dạy của bản thân tôi thấy nếu một tiết học đơn thuần cô chỉ
cung cấp kiến thức cô đưa tranh ra cho trẻ quan sát, đàm thoại và cung cấp kiến
thức cho trẻ thì tiết học trẻ học buồn chán, trẻ không tập trung, nhưng cũng tiết
học đó mà thay đổi hình thức dạy dưới các dạng trò chơi hay các hình thức thi
đua trẻ học tốt hơn nhất là môn khám phá khoa học thì yêu cầu cần phải chuẩn
bị tốt các điều kiện như đồ dùng dạy học và các không gian để để trẻ được thực
hành và trải nghiệm nhiều. Xuất phát từ tình hình trên tôi luôn luôn đặt ra cho
mình là phải luôn đổi mới các hình thức tổ chức và các thủ thuật khác nhau khi
cho trẻ làm quen khám phá khoa học. Tuỳ vào mỗi yêu cầu bài dạy tôi tổ chức
các dạy tiết học dưới các hình thức khác nhau. Như với bài cho trẻ quan sát các
con vật, các cây, các loại hoa quả thì tôi có thể chuẩn bị bằng vật thật hoặc tranh
ảnh và tổ chức dưới các dạng trò chơi để trẻ vừa chơi vừa quan sát tri giác các
Râu ngắn vểnh lên
Mình trơn bóng nhờn”
“Con cá trê” cô đố con gì trẻ dân tộc Dao lại gọi là “Tàu beo”, trẻ dân
tộc Mường lại gọi là “Cà khiên” Khi nghe trẻ trả lời như vậy tôi sẽ cho 1 trẻ
khác nói lại bằng tiếng phổ thông 1- 2 lần tôi sẽ củng cố lại sau đó tôi cho cả lớp
12
nhắc lại bằng tiếng phổ thông “Con cá trê’’ và trực tiếp cho những trẻ nói sai
phát âm lại 3 lần
Tuy trẻ đọc câu đố rất vui vẻ hào hứng và trả lời bằng ngôn ngữ dân tộc
mình một cách hồn nhiên không hiểu được mình phát âm sai hay đúng. Cô luôn
là người gợi mở giải thích để trẻ hiểu, khám phá kích thích tư duy và giúp trẻ
phát âm đúng tiếng phổ thông phong phú vốn từ cho trẻ.
Ví dụ: Chủ đề thế giới thực vật, nhánh một số loài hoa Cô cho trẻ khám
phá một số loại hoa: Cô đặt các câu hỏi để trẻ nhận biết tên hoa, màu sắc, tác
dụng của hoa. Khi trẻ trả lời một số trẻ trả lời bằng tiếng dân tộc thì cô cũng sửa
sai ngay cho trẻ như: Trẻ dân tộc dao gọi tên hoa và một số đặc điểm của hoa
bằng tiếng dân tộc của mình thì cô yêu cầu trẻ nhắc lại các từ bằng tiếng việt
như: trẻ nói “Nom pèm” cô yêu cầu trẻ nhắc lại đây là “Hoa hồng” và yêu cầu
cả lớp nhắc lại đồng thời cho một số trẻ có khả năng nói được tiếng việt trình
bày các đặc điểm của các loài hoa mà cô đang cho trẻ khám phá để kích thích
các trẻ khác thích được nói giống như bạn. Thực hiện như vậy sẽ rèn được khả
năng nói tiếng việt cho trẻ
Hình ảnh: Cô và trẻ trong giờ học khám phá một sô loại hoa
Thông qua việc chuẩn bị đầy đủ các điều kiện trong giờ hoạt động khám
phá khoa học tôi thấy tiết học có hiệu quả hơn tiết học trở nên sôi nổi và trẻ
hứng thú học bài hơn. Cùng với việc linh hoạt, sáng tạo trong hình thức tổ chức,
chức cho trẻ thăm quan các công việc của bác cấp dưỡng của cô giáo. Tổ chức
cô trẻ cùng nhau lao động lau chùi dồ dùng đồ chơi, chăm sóc góc thiên nhiên
trẻ biết tác dụng của đất và nước đối với cây, giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn.
Qua các công việc này trẻ rất hứng thú tham gia qua đó giúp trẻ hiểu sâu sắc về
con người lao động: Đó là ai? làm gì? ở đâu? Trẻ phải có thái độ như thế nào với
người đó và sản phẩm của họ. Trong hoạt động ngoài trời đây là cơ hội trẻ được
tiếp xúc với các sự vật hiện tượng và được trải nghiệm nhiều nhất ở hoạt động
này tôi luôn chuẩn bị tốt các đồ dùng cho trẻ quan sát trực tiếp hoặc qua tranh ảnh
Ví dụ : Thông qua giờ đón trẻ:
14
Hình ảnh giờ đón trẻ
Thông qua giờ đón, phụ huynh đưa trẻ đến lớp trẻ dân tộc mường chào cô:
“Con cháo cô dào” Khi cô nghe trẻ chào cô như vậy thì cô cần nói lại cho trẻ
học theo bằng tiếng việt: “Con chào cô giáo”, và nhắc trẻ hôm sau khi đến lớp
các con phải sử dụng đúng từ ngữ tiếng việt để chào cô nhé .
Ví dụ: Khi thực hiện về chủ điểm thực vật tôi cho trẻ đi thăm quan khu
vườn trường tạo cơ hội cho trẻ được quan sát và tri giác các loại cây, hoa, rau
trong vườn trường qua các buổi học tôi đều đặt ra cho trẻ các nhiệm vụ và yêu
cầu cho trẻ như trẻ phải nêu được tên gọi, đặc điểm của các loại cây, hoa, sự
giống và khác nhau của các cây, hoa… Sau khi giao nhiệm vụ tôi thấy các cháu
chú ý nhìn quan sát và sờ, ngửi.. sau đó trả lời các câu hỏi một cách tích cực và
hứng thú học tập giờ học đạt kết quả cao. Trong các buổi chơi cũng là cơ hội
giúp trẻ tiếp xúc và quan sát, tri giác rất nhiều các sự vật các công việc làm, mối
quan hệ của con người trong xã hội như thông qua trò chơi phân vai, hoăc trò
chơi học tập như chiếc túi kỳ lạ hoặc trò chơi “ Hoa nào quả ấy ” trẻ quan sát và
đoán tên hoặc chọn quả tương ứng hay trò chơi “tôi là ai” tập cho trẻ tả bạn trai
khám phá khoa học sử dụng ngôn ngữ nói tiếng việt rõ ràng mạch lạc, miệng nói
tai nghe, tay sử dụng, thông qua trả lời các câu hỏi cô đưa ra.
2.3.4. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh.
Để nâng cao chất lượng hoạt động của trẻ trong trường mầm non để có sự
giáo dục toàn bộ giữa gia đình và nhà trường là một việc làm hết sức cần thiết
tôi thấy rằng tất cả mọi khó khăn trong học tập không thể thiếu được vai trò giải
quyết khó khăn của phụ huynh vì thế ngay từ đầu năm học để phụ huynh hiểu
16
thêm về các hoạt động của trẻ trong trường mầm non trường tôi đã tổ chức họp
phụ huynh và tuyên truyền đến các bậc phụ huynh.
Hình ảnh: Cô tuyên truyền với phụ huynh
Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi nên quan tâm về lĩnh vực phát
triển ngôn ngữ cho trẻ, trong các tiết học khám phá khoa học, nhờ phụ huynh
giúp trẻ khám phá thêm ở nhà. Hàng tháng tuyên truyền với phụ huynh thông
qua các biểu bảng nêu trên lên nội dung về chủ điểm, về các tiết dạy của cô và
trẻ. Qua đó phụ huynh thấy được ngôn ngữ của trẻ phát triển như thế nào và có
biện pháp kích thích sự phát truyển ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình .
Bản thân tôi là một cộng tác viên tuyên truyền của nhà trường ngoài việc
tuyên truyền các chuyên đề của nhà trường giao về lớp tôi đã làm tốt công tác
tuyên truyền tới các bậc phụ huynh như thường xuyên trao đổi về tình hình sức
khoẻ của trẻ, tình hình học tập của trẻ đặc biệt qua các buổi đón, trả trẻ tôi đã
trao đổi với các bậc phụ huynh về trang thiết bị đồ dùng đồ chơi mà nhà trường
đã cấp nhu cầu lớp còn thiếu những gì từ đó vận động các bậc phụ huynh cùng
tham gia đóng góp thêm các loại đồ dùng như có phụ huynh đã sưu tầm các loại
tranh ảnh về các con vật, hoa quả, một số lanh lan thắng cảnh để ủng hộ, có bậc
phụ huynh đã ủng hộ các cây cảnh, cây hoa và một số loại cây ăn quả để trồng ở
số
Đạt
Chưa đạt
Strẻ
%
Strẻ
%
1
Nói thành thạo rõ ràng tiếng
phổ thông
25
25
100%
0
0
2
hiện tượng mà trẻ được học theo sự tưởng tượng của trẻ, khả năng sử dụng câu
đủ thành phần khi giao tiếp với mọi người được thực hiện thường xuyên, ngôn
ngữ nói rõ ràng, mạch lạc được sử dụng nhiều để trẻ giao tiếp với cô và với mọi
người gần gũi xung quanh một cách mạnh dạn tự tin hơn. Đó cũng là tiền đề tốt
cho trẻ chuẩn bị lên lớp 1.
* Đối với cô
Cô giáo phải đi sâu nghiên cứu để tạo ra được môi trường sống tốt cho trẻ hoạt
động một cách tích cực nhất, biết tạo ra các tình huống có vấn đề để trẻ được
khám phá.
Thường xuyên trò chuyện với trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được khám phá thế
giới xung quanh, để trẻ giao tiếp cô quan sát giúp trẻ sửa sai kịp thời.
18
Khuyến khích trẻ nói những ý nghĩ của trẻ qua nội dung hay chủ điểm
nào đó nhằm giúp trẻ luyện cách trình bày, diễn đạt theo nội dung khám phá.
Cho trẻ tham quan, hướng dẫn tự quan sát sự vật, hiện tượng nhằm mở
rộng vốn hiểu biết cho trẻ, kết hợp đàm thoại để trẻ hiểu sâu bản chất của sự vật
hiện tượng và nói lên nhận xét của mình.
Mở rộng vốn hiểu biết cho trẻ và khuyến khích cho trẻ sử dụng vốn từ
tiếng việt cho trẻ học được trong các hoạt động khác nhau, đặc biệt qua các tiết
học khám phá khoa học, trò chuyện, đàm thoại giữa cô và trẻ, trẻ với trẻ.
Phát truyển ngôn ngữ nói tiếng việt cho trẻ qua hoạt động khám phá khoa
học là một viêc rất thiêt thực nhất trong chương trình đổi mới hiện nay, đòi hỏi
cô giáo phải có sự sáng tạo linh hoạt khi dạy trẻ, phải có sự kiên trì rèn luyện
giữa cô và trẻ thì sẽ đem lại kết quả cao.
*Đối với phụ huynh:
Thông qua việc ủng hộ nguyên vật liệu, kết hợp với cô để làm đồ dùng,
đồ chơi phục vụ cho các tiết học phụ huynh cũng nhận thấy con em mình đã
thức giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non, để giáo viên
nghiên cứu tìm hiểu thêm trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng.
Tiếp tục mở các lớp chuyên đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu
số để tất cả giáo viên nghiên cứu tìm hiểu thêm trong quá trình tự học.
Trên đây là môt số kinh nghiệm "Dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi là người dân
tộc thiểu sô nói rõ ràng, mạch lạc thông qua hoạt động khám phá khoa học"
Tôi đã áp dụng đạt hiệu quả cao tại lớp mẫu giáo 5-6 tuổi trường mầm non Cẩm
Châu - Cẩm Thủy.
Cẩm châu, ngày 10 tháng 03 năm 2018
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết sáng kiến
Triệu Thị Thơ
Tài liệu tham khảo
1. Chương trình giáo dục mầm non (Nhà xuất bản giáo dục)
2. Nhứng vấn đề chung về phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
3. Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong
trường mầm non.
4. Chuyên đề tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số
20
Ý KIẾN NHẬN XÉT XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
TRƯỜNG MẦM NON CẨM CHÂU
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Xếp loại:………………
Ý KIẾN NHẬN XÉT XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
SỞ GD & ĐT THANH HÓA
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
23
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Xếp loại:………………
24
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD & ĐT CẨM THUỶ