I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Ở trường mầm non trẻ không chỉ được chăm sóc mà trẻ còn được làm
quen nhiều hoạt động khác nhau, trong đó hoạt động “ Khám phá khoa học” có
ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nhận thức cho trẻ. Việc cho trẻ “khám
phá khoa học” là tạo điều kiện hình thành và phát triển ở trẻ tâm hồn trong sáng,
hồn nhiên, lòng nhân ái, tình cảm yêu thương với người thân, với cuộc sống
xung quanh trẻ, biết yêu quí bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ những truyền thống của
quê hương đất nước, trân trọng và giữ gìn sản phẩm lao động tự làm ra.[1]
Đặc biệt nhu cầu nhận thức và phản ánh thế giới xung quanh của trẻ mẫu
giáo 4-5 tuổi rất lớn. Trẻ luôn muốn biết mọi thứ và thường đặt ra các câu hỏi để
tìm hiểu các sự vật, hiện tượng xung quanh. Thông qua tổ chức hoạt động khám
phá khoa học, giáo viên sẽ tạo cơ hội cho trẻ được tìm tòi, khám phá, trải
nghiệm. Tổ chức hoạt động khám phá khoa học phù hợp sẽ giúp trẻ tìm ra cái
mới, tiếp cận với những tri thức tiền khoa học, tích cực hoạt động nhận thức.
Trẻ 4-5 tuổi rất thích tìm hiểu, khám phá môi trường xung quanh mình,
bởi thế giới xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới lạ hấp dẫn và
còn có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá. Dạy trẻ
khám phá khoa học mang lại nguồn biểu tượng vô cùng phong phú, đa dạng,
sinh động, đầy hấp dẫn với trẻ thơ. Trong đó, khám phá khoa học đòi hỏi trẻ
phải sử dụng tích cực các giác quan, chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực
quan sát, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp… nhờ vậy khả năng cảm nhận
của trẻ sẽ nhanh nhạy, chính xác. Những biểu tượng, kết quả trẻ thu nhận được
trở nên cụ thể, sinh động và hấp dẫn hơn. Qua những thí nghiệm nhỏ trẻ được tự
mình thực hiện sẽ hình thành ở trẻ những biểu tượng về thiên nhiên, chính là cơ
sở khoa học sau này của trẻ.
Thực tế, việc tổ chức hoạt động khám phá khoa học trường mầm non nói
chung và đặc biệt là trẻ 4-5 tuổi nói riêng đã được chú trọng và quan tâm hơn,
tuy nhiên giáo viên còn ôm đồm nhiều nội dung khám phá trong một hình thức,
nặng về cung cấp kiến thức hơn là tạo cơ hội cho trẻ tham gia các hoạt động tìm
tòi khám phá và chưa thực sự chú trọng tới việc hình thành các kĩ năng nhận
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Tuổi mầm non là bậc thang đầu tiên, làm nền móng cho những bậc thang
tiếp theo của cuộc đời. Lứa tuổi này rất quan trọng vì có tốc độ phát triển nhanh
nhất so với tất cả các lứa tuổi khác. J.J.Rutxo (1712-1778) − nhà giáo dục học
người Pháp cho rằng: “Tri thức của trẻ mẫu giáo được hình thành bằng cách
tiếp xúc với đồ vật và qua hoạt động thực tiễn. Chính trong quá trình tiếp cận
với thế giới xung quanh mà tri thức của trẻ được hình thành”. M.Montexxori
(1870-1952)- nhà giáo dục Ý cho rằng: “Việc nhận biết thế giới khách quan (về
đặc điểm, tính chất) là rất quan trọng đối với trẻ trước tuổi đi học. Chính những
quan sát, tiếp xúc với thiên nhiên và xã hội có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự
phát triển năng lực, trí tuệ của con trẻ”.[2]
Việc tiếp xúc của trẻ với thế giới bên ngoài được mở rộng hơn. Trẻ bắt
đầu tìm hiểu thế giới xung quanh.
Vũ Thị Nho đã nhận xét: “Vào khoảng 4 tuổi trẻ em đã bắt đầu diễn ra
một bước ngoặt cơ bản về tư duy, đó là việc chuyển từ tư duy trực quan hành
động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong theo
cơ chế nhập tâm lý tư duy bằng tay trực quan hành động của thời ấu nhi được
chuyển dần sang kiểu tư duy trực quan hình tượng, đặc điểm của kiểu tư duy
này là việc thực hiện các hành động không chỉ bên ngoài mang tính chất cụ thể
mà đã được xét nghiệm trong tóc dựa trên hình ảnh biểu tượng mà trẻ đã lĩnh
hội trước nó”[3]
Thông qua việc dạy trẻ khám phá khoa học là rèn khả năng quan sát, so
sánh, phân loại, khả năng chú ý tư duy, tưởng tượng. Khám phá khoa học nhằm
củng cố hoá kiến thức, góp phần hình thành những biểu tượng đúng đắn về các
sự vật hiện tượng xung quanh, cung cấp cho trẻ những tri thức đơn giản có hệ
thống về thế giới xung quanh. Mở rộng vốn hiểu biết từ về thế giới xung quanh
và qua đó làm giàu vốn từ cho trẻ. Trẻ được tích cực sử dụng các giác quan như:
vật thật, đồ vật... Các góc đồ dùng ít, còn nghèo, chưa phong phú về chủng loại.
Giáo viên chưa tạo nhiều cơ hội cho trẻ khám phá, chưa phát huy tính tích
cực của trẻ để sáng tạo tìm tòi khi khám phá khoa học. Môi trường cho trẻ khám
phá còn nghèo nàn.
Giáo viên chưa chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động khám phá.
Phần lớn phụ huynh chưa nhận thức được đầy đủ về tầm quan trọng của
giáo dục mầm non, phụ huynh chỉ quan tâm xem đến lớp con có chịu ăn hay
không, con có thuộc bài hát, bài thơ, câu chuyện nào không....Chưa hiểu và chưa
quan tâm đến việc cho trẻ khám phá khoa học…..Vì vậy chưa tạo điều kiện để
trẻ phát huy hết khả năng của trẻ.
2.3. Kết quả thực trạng.
Qua kết quả khảo sát ngay từ đầu năm học, thể hiện qua bảng khảo sát số
liệu cụ thể mà tôi khảo sát mới chỉ đạt được như sau:
Kết quả đầu năm
Số
Đạt
Không đạt
Nội dung đánh giá
trẻ
Số
Số
KS
%
%
trẻ
trẻ
Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động khám
30
17 57
4
Còn nhiều trẻ chưa hứng thú tham gia vào hoạt động khám phá, chưa biết
phối hợp các giác quan để xem xét và tìm hiểu đặc điểm của các sự vật hiện
tượng, chưa biết nhận xét một vài mối quan hệ đơn giản của sự vật hiện tượng
và giải quyết các vấn đề đơn giản bằng các cách khác nhau.
Chính vì vậy mà tôi rất băn khoăn lo lắng và suy nghĩ để tìm ra một số
biện pháp tối ưu nào đó để lôi cuốn trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động khám
khoa học.
3. Một số biện pháp tạo hứng thú cho trẻ 4 – 5 khám phá khoa học ở trường
mầm non Sông Âm.
Từ kết quả khảo sát như trên, tôi luôn băn khoăn suy nghĩ tìm nhiều biện
pháp để tổ chức hoạt động “khám phá khoa học” đạt hiệu quả cao hơn. Từ đó
nâng dần khả năng quan sát, so sánh phân loại cho trẻ, làm phong phú biểu
tượng về khám phá khoa học trong mỗi trẻ.
Dựa vào vốn kiến thức đã học qua các lớp bồi dưỡng chuyên môn qua các
lớp học chuyên đề, qua thảo luận tổ, nhóm và qua nhu cầu ở lớp tôi đã tìm ra
một số biện pháp sau:
3.1. Xây dựng môi trường đa dạng, phong phú cho trẻ khám phá khoa
học:
Hoạt động khám phá khoa học cho trẻ được tổ chức theo chủ đề, nội dung
của hoạt động xuất phát từ nhu cầu và hứng thú của trẻ. Để tạo cơ hội cho trẻ
được trải nghiệm tối đa trong hoạt động khám phá khoa học, giáo viên cần xây
dựng môi trường cho trẻ hoạt động. Một môi trường hiệu quả cho trẻ khám phá
khoa học không chỉ giúp trẻ củng cố kiến thức mà còn phải giúp trẻ phát triển
năng lực khám phá và thái độ đối với hoạt động khám phá khoa học.
Xây dựng môi trường trong và ngoài lớp học đẹp và sáng tạo vừa để thoả
mãn nhu cầu vui chơi, giao tiếp, nhận thức, nhu cầu hoạt động cùng nhau của
trẻ, vừa tạo cơ hội cho trẻ được chơi và hoạt động theo sở thích, tích cực, độc
lấy khi chơi, các tranh lô tô được phân loại để vào các ô giá vừa dễ lấy vừa dễ
tìm như lô tô con vật vào một ô, lô tô các loại hoa quả vào một ô, đối với tranh
đều có các ký hiệu tương ứng để trẻ dễ nhận biết.
Trẻ mẫu giáo và cụ thể ở đây là trẻ 4-5 tuổi học chủ yếu qua chơi, qua tự
mày mò khám phá. Vì vậy tôi bố trí phòng nhóm sao cho trẻ hoạt động hợp lí và
dành phần lớn thời gian cho trẻ tự học qua chơi, các đồ dùng, đồ chơi đẹp, mới,
hấp dẫn, màu sắc tươi sáng để gần đồ dùng, đồ chơi cũ, màu tối sẽ khuyến khích
trẻ chọn và quan sát, so sánh, tìm ra đặc điểm nổi bật của chúng.
Tùy theo diện tích lớp học và số lượng trẻ, tôi bố trí cho trẻ khám phá
một cách linh hoạt.
Ví dụ: Ở tình huống hoạt động theo nhóm nhỏ, tôi bố trí bàn thấp cho
khoảng 4 – 5 trẻ có thể ngồi xung quanh. Ngược lại, ở tình huống số trẻ tham gia
nhiều hơn, tôi tích hợp với góc hoạt động khác hay sử dụng một nơi có diện tích
6
rộng hơn, tôi lựa chọn bàn phù hợp để trẻ có thể thoải mái hoạt động mà vẫn
tương tác có hiệu quả với các bạn trong nhóm.
Hình ảnh trẻ khám phá các loại quả theo nhóm
Ngoài ra, tôi chuẩn bị các loại sách liên quan đến chủ đề khám phá khoa
học để cung cấp thông tin, kinh nghiệm cho trẻ. Các phương tiện, công cụ cho
hoạt động đo lường, hoạt động thí nghiệm cũng rất cần thiết. Tôi bố trí phương
tiện, vật liệu ở vị trí mà trẻ có thể lấy và sử dụng dễ dàng. Để trẻ có thể thể hiện
kinh nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học, giáo viên chuẩn bị các phiếu
ghi chép để trẻ mô tả quá trình quan sát, thí nghiệm bằng tranh vẽ, kí hiệu hay
chữ viết. Sau hoạt động, các phiếu ghi chép của trẻ được giáo viên thu thập lại
và dán ở bảng để trẻ hay phụ huynh có thể nhìn thấy dễ dàng.
* Môi trường ngoài lớp học:
Để tổ chức hoạt động khám phá khoa học ở ngoài lớp, tôi trang trí góc
thiên nhiên để trẻ có cơ hội quan sát sự biến đổi của tự nhiên hay quá trình sinh
Trong giờ học tôi chuẩn bị đầy đủ đồ dùng trực quan, đó là những đồ
dùng phong phú về chủng loại, có hình thức màu sắc đẹp đảm bảo tính thẩm mỹ
khoa học và phù hợp với trẻ.
Sử dụng đầy đủ đồ dùng trực quan phong phú về chủng loại như tranh
ảnh
Ví dụ: mô hình đồ dùng, đồ chơi, vật thật, màn hình…
Bởi vì, trẻ mầm non luôn thích cái mới lạ. Nếu trong giờ học cô chỉ sử
dụng một loại đồ dùng trực quan, hoặc tranh ảnh, hoặc đồ chơi, hoặc mô hình….
thì sẽ gây cho trẻ sự nhàm chán, chán nản mặt khác mỗi loại đồ dùng đồ chơi
đều có một ưu điểm hạn chế riêng. Tranh ảnh thì đẹp nhưng không sinh động
không thể hiện hết được những đặc điểm sự vật, hiện tượng. Vật thật thì giúp trẻ
nắm bắt được đầy đủ chính xác các kiến thức về đối tượng và sinh động hơn
tranh ảnh nhưng không thể có đầy đủ các vật thật cho tất cả các tiết học và nhiều
vật thật để có thể cho trẻ chơi trò chơi được.
Cho nên tôi đã lựa chọn nhiều loại đồ dùng trực quan để đưa vào trong
tiết dạy và phù hợp với nội dung tiết dạy của mình sao cho vừa có thể thuận tiện
cho việc truyền thụ kiến thức của cô vừa có thể gây được hứng thú cho trẻ giúp
trẻ tập trung chú ý quan sát đối tượng, tích cực hoạt động với đối tượng để nắm
bắt kiến thức một cách dễ dàng, nhanh chóng, đầy đủ, chính xác.
Ví dụ: Làm quen với các loại quả. Khi quan sát tôi cho trẻ được quan sát
các loại quả thật(cho trẻ quan sát theo từng nhóm), sau đó cô cho từng nhóm
nhận xét về loại quả đó, khi tổ chức cho trẻ chơi để củng cố thì tôi lại chọn lô tô
để cho trẻ phân nhóm đối tượng hoặc dùng tranh vẽ…
Tôi lựa chọn đồ dùng trực quan phù hợp với nội dung của từng tiết dạy.
Trẻ mẫu giáo nhỡ có sự tưởng tượng phong phú, nhưng kinh nghiệm sống của
trẻ còn ít nên tôi thường xuyên vận dụng các vật thật để dạy trẻ. Khi trẻ được
tiếp xúc với vật thật thì sẽ trẻ thấy hấp dẫn và sinh động hơn vì vậy tiếp cận với
đối tượng cụ thể chính xác, giúp trẻ nắm bắt kiến thức một cách rõ ràng và chính
xác.
Ví dụ: khi đưa ra những loại rau quả thật để dạy cho trẻ từ những vật thật
thú ngắm nhìn, quan sát cũng kỹ hơn để có thể dễ dàng khám phá ra những đặc
điểm của đồ dùng đó.
3.3. Tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên được tiếp xúc với các sự vật
hiện tượng xung quanh trẻ giúp trẻ mở rộng hiểu biết kích thích ham học ở
trẻ .
Tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên tiếp xúc với các sự vật hiện tượng
chính là cho trẻ thường xuyên hoạt động với các sự vật hiện tượng xung quanh
một cách trực tiếp như nhìn, sờ, nắn, ngửi ,nếm, nghe, chơi với chúng…Trong
quá trình hoạt động đó trẻ được bộc lộ mình vừa được hình thành và phát triển
tâm lý, trẻ học được cách gọi tên, cách sử dụng, biết được các đặc điểm thuộc
tính, mối quan hệ của các sự vật hiện tượng rộng phát triển mở rộng vốn từ của
trẻ.
Xuất phát từ đặc điểm trên trong quá trình giảng dạy hàng ngày tôi luôn
tạo cho trẻ các cơ hội để trẻ được tiếp xúc với các sự vật hiện tượng một cách tốt
nhất thông qua các hoạt động hàng ngày của trẻ như giờ đón trả trẻ, giờ dạo chơi
thăm quan, hoạt động ngoài trời và các hoạt động khác bằng các hình thức cho
trẻ quan sát vật thật, tranh ảnh, băng hình, hoặc thăm quan trực tiếp. Tổ chức cô
trẻ cùng nhau lao động lau chùi đồ dùng, đồ chơi, chăm sóc góc thiên nhiên trẻ
9
biết tác dụng của đất và nước đối với cây. Qua hoạt động ngoài trời đây là cơ hội
trẻ được tiếp xúc với các sự vật hiện tượng và được trải nghiệm nhiều nhất ở
hoạt động này tôi luôn chuẩn bị tốt các đồ dùng cho trẻ quan sát trực tiếp hoặc
qua tranh ảnh.
Ví dụ: Khi thực hiện về chủ đề thực vật tôi cho trẻ đi thăm quan khu vườn
trường.
Qua quan sát, cô tạo cơ hội cho trẻ được quan sát và tri giác các loại cây,
hoa, rau trong vườn trường qua các buổi học tôi đều đặt ra cho trẻ các nhiệm vụ
và yêu cầu cho trẻ như trẻ phải nêu được tên gọi, đặc điểm, sự giống và khác
thổi qua chiếc ống hút, những bong bóng nổi lên như vậy.
Qua thí nghiệm này giúp trẻ hiểu được những vật có tính chất kim loại dễ
chìm, những vật nhẹ, mỏng khó chìm trong nước.
Qua việc tạo các điều kiện cho trẻ tiếp xúc các sự vật hiện tượng và môi
trường xunh quanh trẻ tôi thấy nhận thức của trẻ được mở rộng, khả năng quan
sát, tri giác của trẻ phát triển tốt, đa số trẻ thể hiện được tính tích cực chủ động
khi quan sát đối tượng, trong quá trình quan sát trẻ tỏ ra nhanh nhẹn linh hoạt và
phát triển nhiều vốn kinh nghiệm và vốn từ của trẻ trở nên phong phú hơn khả
năng diễn đạt tốt hơn.
3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết dạy khám phá khoa
học:
Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, sự phát triển của hệ thống
mạng cùng với những tiện ích, ứng dụng phong phú đã tạo nên một cuộc cách
mạng trong mọi người, mọi ngành và đặc biệt là giáo dục. Nếu trước đây giáo
viên mầm non phải rất vất vả để có thể tìm kiếm những hình ảnh, biểu tượng, đồ
dùng phục vụ bài giảng thì hiện nay với ứng dụng công nghệ thông tin giáo viên
có thể sử dụng Internet để chủ động khai thác tài nguyên giáo dục phong phú,
chủ động quay phim, chụp ảnh làm tư liệu cho bài giảng điện tử. Chỉ cần vài cái
"nhấp chuột" là hình ảnh những con vật ngộ nghĩnh, những bông hoa đủ màu sắc
... hiện ngay ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lập tức thu hút
được sự chú ý và kích thích hứng thú của trẻ vì được chủ động hoạt động nhiều
hơn để khám phá nội dung bài giảng. Đây có thể coi là một phương pháp ưu việt
11
vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên lý
giáo dục của Vưgotxki “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” một cách dễ dàng.
Thông qua những cảnh quay, đoạn băng được đưa lên màn hình sẽ tạo ra
sự thay đổi sự mới lạ cho trẻ. Bởi vì tất cả các sự vật hiện tượng trên thực tế đều
có thể quay lại, chụp lại, đưa lên màn hình những hình ảnh có thể tĩnh, có thể là
Hình ảnh: Giờ làm quen với các con vật sống trong rừng
Nếu chỉ quan sát tranh thì hoạt động sẽ trở nên đơn điệu, trẻ sẽ nhàm
chán, hiệu quả giờ học sẽ có phần hạn chế. Nhưng nếu cô ứng dụng power point
cho trẻ quan sát các con vật đang chuyển động với những hình ảnh “thật”, đặc
biệt trẻ tập trung chú ý khi được xem hổ đang chạy, con khỉ đang leo cây … thì
trẻ sẽ rất thích thú, tập trung chú ý, giờ học sẽ đạt được kết quả như mong muốn.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động khám phá khoa học sẽ
12
đem đến cho trẻ những màu sắc đẹp mắt, hình ảnh rõ nét, sống động, trẻ sẽ dễ
nhớ, lâu quên... Từ đó trẻ biết tự chăm sóc, bảo vệ bản thân trước những con vật
hung dữ, biết sự thay đổi của thời tiết, biết yêu thương chăm sóc cho cây cối, vật
nuôi…..
3.5. Phối hợp với các bậc phụ huynh giúp trẻ củng cố, khắc sâu kiến
thức.
Xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng và những khả năng nhận thức của trẻ
trong hoạt động khám phá khoa học, chúng ta cần chú trọng tới tất cả các đối
tượng. Đặc biệt là công tác phối kết hợp với gia đình, bởi chính gia đình là nơi
trẻ được tìm hiểu và tiếp cận với môi trường xung quanh một cách tích cực.
Phụ huynh thường không biết trẻ ở trường được học những gì và học như
thế nào để về nhà chia sẻ với trẻ. Lúc này trẻ sẽ là sợi dây liên hệ quan trọng
giữa giáo viên và gia đình. Việc cô giao nhiệm vụ cho trẻ về nhà tìm hiểu trước
vấn đề sẽ khám phá đó tạo cho trẻ hứng thú nhất định và tạo thói quen hàng
ngày chia sẻ với bố mẹ những điều vừa học ở lớp.
Trước và sau mỗi hoạt động khám phá yêu cầu trẻ về nhà tìm hiểu trước
bằng cách hỏi bố mẹ, xem tivi... Lặp lại nhiều lần như cách này sẽ tạo thành một
thói quen tốt và là sự kết hợp tuyệt vời giữa gia đình, nhà trường và bản thân trẻ.
Làm trẻ sẽ luôn háo hức mỗi khi trở về nhà và kể với bố mẹ những điều vừa
khám phá, đặc biệt qua các buổi đón trả trẻ tôi đã trao đổi với các bậc phụ huynh
rõ rệt.
4.1. Đối với trẻ
Kết quả khảo sát cụ thể như sau:
Kết quả đầu năm
Nội dung đánh giá
Trẻ hứng thú tham gia vào
hoạt động khám phá.
Số
trẻ
KS
30
Đạt
Số
trẻ
%
17
57
Kết quả cuối năm
Đạt
Không
đạt
30 15 50 15
50 30 100
người lớn để quan sát, tìm
hiểu đối tượng.
Phân loại các đối tượng
30 16 53 14
47 30 100
theo một dấu hiệu nổi bật.
Nhận xét được một vài
mối quan hệ đơn giản của
sự vật hiện tượng và giải 30 15 50 15
50 30 100
quyết các vấn đề đơn giản
bằng các cách khác nhau.
Qua đối chiếu kết quả khảo sát trẻ so với đầu năm học đã có sự chuyển
biến rõ rệt.
- 100% trẻ đã hứng thú tham gia vào hoạt động khám phá.
- Có khả năng sử dụng các giác quan để xem xét tìm hiểu các đối tượng.
- Biết phối hợp các giác quan để xem xét và tìm hiểu đặc điểm của các sự
vật hiện tượng.
Ngoài ra trẻ cũng đã biết mô tả được những dấu hiệu nổi bật của đối
tượng được quan sát.
4.2. Đối với bản thân
- Đã có kinh nghiệm trong việc tạo môi trường hoạt động trẻ. Sử dụng
thành thạo chương trình giáo án điện tử vào hoạt động giảng dạy.
- Có sự sáng tạo, linh hoạt hơn trong việc tổ chức hoạt động khám phá
khoa học và các hoạt động khác.
4.3. Đối với phụ huynh
14
- Tăng cường đầu tư kinh phí, thời gian cho giáo viên nghiên cứu, sáng tạo
các hoạt động mới hấp dẫn trẻ. Có hiệu quả trong công tác giảng dạy.
Trên đây là một số biện pháp mà tôi thấy hiệu quả qua đề tài “Một số
biện pháp tạo hứng thú cho trẻ 4-5 tuổi khám phá khoa học ở trường mầm
non Sông Âm trong năm học 2017-2018” mà tôi đã rút ra được từ trong quá
trình giảng dạy. Những gì đạt được còn rất khiêm tốn và mới chỉ là nền tảng
cho những năm tiếp theo. Rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của Hội đồng
khoa học trường mầm non Sông Âm, Hội đồng khoa học Phòng GD&ĐT Ngọc
Lặc để bản thân tôi có được những kinh nghiệm quý báu cho bản thân, để công
tác giáo dục trẻ ngày được tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
…………….…………………………
………………………………………
Nguyệt Ấn, ngày tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
15
………………………………………
………………………………………
khác.
Người viết