SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ, THU HÚT TRẺ
TÍCH CỰC THAM GIA HOẠT ĐỘNG NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC CHO TRẺ
4 – 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON NGA VĂN
Người thực hiện:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
SKKN thuộc lĩnh vực:
Bùi Thị Hằng
Giáo viên
Trường Mầm non Nga Văn
Chuyên môn
THANH HOÁ NĂM 2018
MỤC LỤC
Tên đề mục
Trang
1. Mở đầu
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
4
2.3.1. Tích cực tự học, tự nâng cao kiến thức, năng lực sư phạm và kỹ
năng thu hút trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động.
4
2.3.2 Tạo môi trường học tập hấp dẫn và phù hợp để rèn luyện cho trẻ.
6
2.3.3. Thay đổi hình thức tổ chức trên hoạt động học có chủ định, lôi
cuốn trẻ tham gia một cách chủ động, tích cực.
7
2.3.4. Tăng cường cho trẻ quan sát vật thật để phát triển các giác quan,
khắc sâu nhận thức về đối tượng tìm hiểu.
9
2.3.5. Tổ chức hoạt động khám phá khoa học ngoài trời một cách thích
hợp nhằm gây hứng thú và truyền đạt kiến thức cho trẻ đạt kết quả cao.
12
2.3.6. Sử dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động khám phá khoa
học
xã hội với trẻ em - những chủ nhân tương lai của đất nước sau này. Xác định
được tầm quan trọng đó Đảng và Nhà nước ta ngày càng coi trọng hơn nữa công
tác giáo dục, đặc biệt là giáo dục Mầm non.
Trường mầm non là trường học đầu tiên của mỗi người, nơi đó là phôi thai
đầu tiên nuôi trẻ lớn lên trên con đường học vấn. Chính vì thế những kiến thức
mà nhà sư phạm đưa tới cho trẻ dù chỉ là những kiến thức, tri thức sơ đẳng, đơn
giản song vô cùng quan trọng trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ sau này.
Vì vậy, chúng ta hiểu rằng muốn có ngày mai trẻ trở thành một nhà khoa
học, một bậc hiền tài nào đó cũng không bao giờ dám phủ nhận rằng: Tôi không
phải trải qua những tháng ngày bập bẹ ở cấp học mầm non. Vì giáo dục mầm
non là khâu đầu tiên trong hệ thống quốc dân, là nền tảng cho sự hình thành
nhân cách con người, giúp trẻ phát triển hài hòa, cân đối về mọi mặt “đức, trí,
lao, thể, mỹ”. Hoạt động khám phá khoa học đã đóng góp phần không nhỏ vào
việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
Ở trường mầm non nếu như văn học, âm nhạc, tạo hình là những hoạt động
nghệ thuật, như là một nguồn sữa nuôi dưỡng đời sống tinh thần của trẻ, cổ vũ
tinh thần của các cháu bằng những lời hát ru ngọt ngào, những câu chuyện kể
đầy tính nhân văn thì "Khám phá khoa học" lại là một bộ môn khoa học. Nó mở
ra cho trẻ một cái nhìn, một nhận thức hoàn toàn mới về con người và cuộc sống
xung quanh trẻ. Đưa trẻ đến thế giới xung quanh, chính là chúng ta đã và đang
dẫn trẻ bước đi những bước đầu tiến hành trình khám phá khoa học sau này. Thế
giới khách quan xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới lạ hấp
dẫn, và còn có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá.
Thông qua môn học trẻ được khám phá một thế giới của riêng mình. Trẻ
được cung cấp vốn kiến thức sơ đẳng về thế giới xung quanh mình, được phát
triển nhận thức, được rèn luyện óc quan sát, tri giác, khả năng ghi nhớ, chú ý, tư
duy và tưởng tượng, nhằm củng cố hệ thống hoá kiến thức, mở rộng vốn hiểu
biết về thế giới xung quanh, qua đó làm giàu vốn từ của trẻ.Trẻ được khám phá
thế giới xung quanh mình, những điều trẻ chưa biết hoặc đã biết nhưng chưa cụ
thể. Trẻ được trải nghiệm thông qua các hoạt động và trực tiếp khám phá chúng:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại, trò chuyện
- Phương pháp dùng lời, sử dụng vật thật
- Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
- Phương pháp tổng hợp số liệu.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Khám phá khoa học là phương tiện để giao tiếp và giúp trẻ làm quen với
môi trường xung quanh và môi trường xã hội, trẻ được tìm tòi khám phá trải
nghiệm, cùng nhau bày tỏ nguyện vọng của mình và đồng thời là công cụ tư duy
của trẻ, trẻ khám phá ra những điều mới lạ ở môi trường trẻ sống.
Cho trẻ hoạt động khám phá khoa học sẽ cung cấp cho trẻ vốn hiểu biết
những gì xung quanh mình, từ môi trường tự nhiên (cỏ cây, hoa lá, chim muông
…) đến môi trường xã hội (công việc của mỗi người trong xã hội, mối quan hệ
của con người với nhau…). Và trẻ hiểu biết về chính bản thân mình.
Theo quan điểm của ngành giáo dục Singapo đã chỉ ra rằng: “Giáo dục
không phải là đổ đầy một cái bình mà là thắp sáng lên ngọn lửa”[2]. Điều đó có
nghĩa là dạy trẻ là cứ nhồi nhét lượng kiến thức khối lượng kiến thức vô bờ bến
cho trẻ mà dạy trẻ cách học, cách tư duy, nuôi dưỡng lòng ham hiểu biết, thích
tìm tòi khám phá. Hay nói cách khác, giáo dục mầm non không nhằm cung cấp
một khối kiến thức mà nhằm hình thành các chức năng tâm lý, các cơ sở ban đầu
cho sự phát triển nhân cách sau này.
2
Do đặc điểm tâm sinh lý trẻ 4 - 5 tuổi thích khám phá, tò mò về những gì,
tại sao đang xảy ra xung quanh trẻ với những câu hỏi liên tục: Tại sao? Thế nào?
Tại sao lại như vậy? thường được kết nối lần lượt để trẻ nắm bắt thông tin và
những thông tin này có thể thay đổi trong cách trẻ tìm hiểu về thế giới xung
quanh.
lẫm. Các kĩ năng quan sát, ghi nhớ còn hạn chế, khả năng nhận thức chậm. Chưa
tích cực tham gia hoạt động trải nghiệm.
c. Kết quả của thực trạng:
Là giáo viên chủ nhiệm lớp mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi, tôi nhận thấy hoạt
động cho trẻ khám phá khoa học về môi trường xung quanh còn hạn chế, vốn
hiểu biết về môi trường xã hội còn ít, trẻ chưa tích cực tham gia các hoạt động
trải nghiệm.
3
* Bảng 1 kết quả khảo sát trẻ đầu năm học tháng 9/2017 kèm theo phụ lục
minh họa
Qua khảo sát thực tế trên lớp tại các giờ cho trẻ khám phá khoa học nhiều
trẻ nhận biết được sự vật, hiện tượng một cách đơn giản, qua loa và không nhớ
hết những đặc điểm của sự vật. Hình ảnh về sự vật đó không lưu lại trong trí nhớ
của trẻ, vì vậy trẻ không hứng thú khi khám phá chúng.
Qua bảng khảo sát ban đầu tôi thấy thực trạng thực hiện trên chúng ta
thấy kết quả thu được qua các hoạt động khám phá ở trẻ trong lớp rất thấp, điều
này gây ảnh hưởng lớn đến phát triển nhận thức ở trẻ nói chung. Đứng trước
tình hình đó tôi rất băn khoăn trăn trở, từ đó tôi chú ý hơn nhiều đến hình thức
sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào? Nhằm giúp trẻ khám phá và lĩnh hội kiến
thức tốt mà gây được hứng thú khám phá của trẻ. Tôi thường xuyên sử dụng đồ
dùng, học liệu là vật thật, cho trẻ sờ, ngắm và nếm mùi vị của đối tượng, kích
thích tính tìm tòi, tưởng tượng của trẻ.
2.3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Tích cực tự học, tự nâng cao kiến thức, năng lực sư phạm và kỹ năng
thu hút trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động.
Với mong muốn nâng cao chất lượng hoạt động cho trẻ khám phá khoa học
về môi trường xung quanh trước tiên bản thân phải xác định cần nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác của bản thân. Tôi xác định được
trường xung quanh có tầm quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt trí
tuệ, đạo đức, thẫm mỹ, thể lực và lao động.
Ví dụ: Làm thế nào để giúp trẻ hứng thú hoạt động cho trẻ khám phá khoa
học về môi trường xung quanh. Trước tiên bản thân thường xuyên nghiên cứu kỹ
từng đề tài đưa ra mục đích, kiến thức, kỹ năng, thái độ sao cho phù hợp với
từng đối tượng trẻ ở lớp, trên cơ sở đó tôi lựa chọn các hình thức thủ thuật để
thu hút trẻ vào hoạt động khám phá. Hơn nữa để hoạt động khám phá khoa học
về môi trường xung quanh của trẻ đạt kết quả cao, tôi phải đầu tư thời gian, trí
tuệ chuẩn bị đồ dùng đồ chơi bằng vật thật tạo mọi điều kiện, cơ hội tổ chức các
hoạt động để cho trẻ tích cực tìm tòi trải nghiệm về các sự vật, hiện tượng mà tôi
đã chuẩn bị. Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp, hấp dẫn, phong phú sinh động
nhằm kích thích hứng thú, tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ, tôi thường sử dụng
đồ thật, vật thật cho tiết học.
Dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ, tôi đề nghị với BGH nhà trường trang bị
thêm thiết bị, đồ dùng dạy học như: Bảng, tranh ảnh, lôtô, và với mỗi tiết cần có
đồ dùng để phục vụ vật thật đầy đủ. Đối với các bậc phụ huynh vận động họ tận
dụng những nguyên liệu sẵn có của địa phương như các loại hoa, quả thật ... Sưu
tầm những câu ca dao, tục ngữ, đồng dao để làm phong phú vốn hiểu biết về môi
trường xung quanh của trẻ .
Với chính bản thân mình tôi tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn ở địa
phương như: vải vụn làm con rối, cọng rơm khô làm mái nhà, sưu tầm lá khô với
nhiều màu sắc, hoa ép khô, vỏ cây khô để làm tranh ảnh cho tiết dạy. Sưu tầm
các loại hạt, các loại vỏ trai ốc, hến sò... để bổ xung vào tiết học của trẻ.
2.3.2 Tạo môi trường học tập hấp dẫn và phù hợp để rèn luyện cho trẻ.
Việc tạo môi trường cho trẻ hoạt động là rất quan trọng trong quá trình tổ
chức chăm sóc giáo dục trẻ. Đây là hình thức tổ chức giáo dục tích hợp với đặc
điểm tâm sinh lý trẻ nhỏ. Trẻ được hoạt động học tập, vui chơi, tìm tòi khám phá
và phát hiện những điều mới lạ, hấp dẫn nhằm củng cố, bổ sung kiến thức và kỹ
năng cho trẻ. Giáo viên cần giữ vai trò tích cực trong việc chuẩn bị môi trường
học tập cho trẻ, trang trí tạo môi trường bên trong và ngoài lớp học bằng các
thường la mắng trẻ, hoặc trẻ thích được tận tay mình sờ vào bông hoa mới nở,
thì người lớn cho rằng trẻ đang ngắt hoa. ..vv. Nhưng thực chất trẻ đang tìm hiểu
xem mưa rơi như thế nào, và sờ xem cánh hoa như thế nào mịn hay xù xì. Tôi
luôn suy nghĩ: Hằng ngày trẻ đến trường được học tập, vui chơi cùng bạn bè, cô
giáo từ sáng đến chiều. Để trẻ tích cực hoạt động khám phá trải nghiệm. Tôi
luôn tạo môi trường, để môi trường thiên nhiên luôn có xung quanh trẻ, tôi luôn
tạo môi trường trong lớp để trẻ tìm hiểu góc thiên nhiên của lớp để trẻ tìm hiểu
khám phá, tìm tòi trải nghiệm. Phía sau lớp tôi có một khoảng sân trống nhỏ, tôi
trang trí vào đó một giá gỗ. Trên giá này tôi dùng để trưng bày một số đồ dùng,
đồ chơi thiên nhiên như: gỗ chìm nổi, sỏi, bình tưới, thuyền xe, que xếp hàng
rào… Một góc nhỏ tôi để chậu cá và một số chậu cây cảnh để trang trí góc cho
sinh động.
Khoảng không gian nhỏ này tuy còn nhỏ hẹp nhưng thật sự thu hút trẻ.
Hằng ngày nhất là vào hoạt động ở các góc, đây chính là không gian thiên nhiên
cho trẻ tìm hiểu khám phá. Trẻ tự mình chơi với nước, chơi với cá, cho cá ăn…
Ngoài ra tôi còn sưu tầm mấy chậu nhựa nhỏ lấy đất để gieo vào đó mấy
hạt đậu, hạt lạc, để giúp trẻ biết quá trình phát triển của cây từ hạt, để cho trẻ
được hàng ngày quan sát xem sự nảy mầm và lớn lên của (cây đậu, cây lạc),
hoặc có thể cùng trẻ thực hành. Qua quan sát tôi thấy trẻ rất hứng thú tò mò và
rất thích tham gia vào các hoạt động này, có những cháu đi học rất sớm để xem
cây ngày hôm sau có gì lạ…
Trẻ trao đổi với nhau với những cảm xúc “ngạc nhiên”, “thú vị “, “reo hò”,
“vui sướng”, reo lên ồ cậu ơi nhìn kìa ! Hạt đã nãy mầm rồi.
6
Hình ảnh minh họa góc thiên nhiên của bé
2.3.3. Thay đổi hình thức tổ chức trên hoạt động học có chủ định, lôi cuốn trẻ
tham gia một cách chủ động, tích cực.
7
+ Tôi là quả táo xin chào các bạn (chúng tôi chào bạn quả táo), tôi là quả na
các bạn biết gì về tôi? Các bạn hãy kể về tôi nào?
Giúp trẻ tích cực hơn trong hoạt động khám phá với vật thật thì nội dung
câu hỏi còn phụ thuộc vào mục đích, nhiệm vụ cụ thể của mỗi hoạt động.
Để kích thích trẻ hứng thú, tính tò mò của trẻ cần sử dụng câu hỏi nêu vấn
đề. Đó là những câu hỏi về đặc điểm, dấu hiệu của sự vật, hiện tượng mà trẻ
chưa biết rõ.
+ Các con biết gì về quả mít? Quả mít có những đặc điểm gì?
+ Quả mít dùng làm gì? Ăn vào thì giúp cho chúng mình như thế nào?
Để trả lời được câu hỏi nêu trên trẻ phải chú ý quan sát, nhìn ngắm, sờ,
ngửi, nếm mùi vị của các loại quả…Để khuyến khích trẻ tìm hiểu về đặc điểm,
dấu hiệu các đặc trưng của sự vật hiện tượng xung quanh, đồng thời kích thích
hoạt động các giác quan.
+ Con thấy vỏ quả na như thế nào? (Cô cho trẻ sờ vỏ na để trả lời)
+ Khi na chín ăn vào có vị như thế nào?(Cô cho trẻ nếm na)
Trong quá trình khám phá khoa học trẻ rất cần sự tham gia tích cực của tư
duy và hình thành biểu tượng cho trẻ sâu sắc hơn, có thể sử dụng câu hỏi để kích
thích hoạt động tư duy.
+ Con thấy quả na và quả táo có đặc điểm gì khác nhau? Giống nhau ở
điểm nào?... (Cho trẻ sờ vỏ 2 loại quả, ngửi, nếm mùi vị...)
Cứ thế lần lượt cho trẻ tìm hiểu khám phá từng loại quả, để thay đổi trạng
thái cho trẻ trong hoạt động tránh ngồi lâu tôi mời cả lớp đứng lên biểu diễn
cùng các loại quả.
Để giúp trẻ mở rộng và nâng cao kiến thức của trẻ về thế giới xung quanh,
hình thành ở trẻ sự hiểu biết về đặc điểm các sự vật hiện tượng xung quanh,
ngoài các loại quả các con vừa tìm hiểu con hãy kể tên một số loại quả mà con
hay được ăn và con biết nào?
khám phá trải nghiệm thì hoạt động khám phá trên tiết học sẽ nhàm chán. Vì thế
mà thay đổi hình thức trên các hoạt động học có chủ định là điều rất cần thiết
giúp trẻ tham gia hoạt động khám phá một cách tích cực và học tập có hiệu quả.
Trên 95% trẻ tích cực tham gia hoạt động.
2.3.4.Tăng cường cho trẻ quan sát vật thật để phát triển các giác quan, khắc
sâu nhận thức về đối tượng tìm hiểu.
Các sự vật, hiện tượng trong môi trường thiên nhiên và xã hội xung
quanh chúng ta rất đa dạng và phong phú vì vậy tôi cần lựa chọn các sự vật hiện
tượng gần gũi với trẻ để trẻ khám phá. Ở lứa tuổi này trẻ thích tò mò, ham muốn
hiểu biết các sự vật hiện tượng, đứng trước các sự vật cụ thể trẻ rất hiếu động,
trẻ muốn tự tay mình sờ mó, nâng niu các đối tượng cần quan sát thì những
thông tin mà cô giáo cần truyền đạt đến trẻ được tiếp thu một cách đồng bộ dễ
dàng.
Trẻ khám phá khoa học thông qua các giác quan. Nếu sử dụng tranh ảnh
chỉ giúp trẻ quan sát, tìm hiểu bề ngoài (các bộ phận, màu sắc, hình dáng, công
cụ…) của các sự vật, hiện tượng chủ yếu bằng mắt nhìn. Để hoạt động khám
phá thêm sinh động ngoài quan sát bằng tranh ảnh, tôi luôn tranh thủ lựa chọn
những đề tài có thể sử dụng được vật thật nhằm giúp trẻ có thể tận dụng tất cả
các giác quan trong quá trình quan sát. Khi thực hiện cho trẻ quan sát bằng vật
thật bao giờ trẻ cũng rất thích thú và trẻ không những được nhìn, được nghe
tiếng kêu của con vật mà trẻ còn được sờ mó vào đồ vật, con vật nhằm giúp trẻ
tiếp nhận, mở rộng hiểu biết của mình một cách đầy đủ về đối tượng.
Ví dụ: Chủ thề Thế giới Thực vật “Tìm hiểu một số loại quả, để giúp trẻ có
thể tri giác và sử dụng các giác quan như vị giác, khứu giác một cách đầy đủ.
Tôi chuẩn bị các loại quả như quả chuối, quả cam, quả khế, quả đu đủ..vv khi
quan sát xong để biết được các vị quả có vị ngọt hay chua , tôi có thể cắt gọt các
quả đó cho trẻ nếm xem quả có vị gì? và cho trẻ ngửi và cảm nhận xem mùi vị
9
VD: trò chơi chơi chiếc hộp kì diệu trong hoạt động làm quen 1 số loại
quả. Giúp trẻ được tri giác về loại quả đó, được sờ, được nếm vị của quả, thì
trong trò chơi để nhận ra được quả mà mình tìm thấy trong hộp cần ở trẻ 1 trí
nhớ thật tốt, điều đó kích thích trí nhớ, sự tưởng tượng và kĩ năng nhận biết của
trẻ, lúc này trẻ cần phát huy hết khả năng của mình sờ và phán đoán để nhận ra
loại quả đó.
Hình ảnh trẻ chơi trò chơi chiếc hộp kì diệu.
Sau khi sử dụng giải pháp này tôi nhận thấy. Những hoạt động mà trước khi
cung cấp kiến thức cho trẻ đơn thuần tôi thường dùng tranh, ảnh, mô hình thì sự
tập trung chú ý của trẻ không cao, trẻ dễ nhàm chán. Đến khi tôi sử dụng đồ
dùng là vật thật có sẵn đã chuẩn bị từ trước để cung cấp kiến thức cho trẻ, trẻ
khám phá nhanh hơn, hứng thú hơn, đạt = 95%
2.3.5. Tổ chức hoạt động khám phá khoa học ngoài trời một cách thích hợp
nhằm gây hứng thú và truyền đạt kiến thức cho trẻ đạt kết quả cao.
Ngoài cung cấp kiến thức ở hoạt động học có chủ định. Để kiến thức truyền
đạt đến trẻ có hiệu quả, tôi nhận thấy qua nghiên cứu kế hoạch thực hiện theo
từng chủ đề đối với hoạt động theo từng nội dung, thì tổ chức cho trẻ khám phá
khoa học ở hoạt động ngoài trời rất bổ ích và thiết thực đối với trẻ.
Vì khi dạo chơi ngoài trời, trẻ có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi
trường thiên nhiên và môi trường xã hội. Các sự vật hiện tượng mà trẻ được tiếp
xúc vừa phong phú, đa dạng vừa phản ánh sinh động các mối quan hệ và quan
hệ trong thực tiễn nên chúng rất có giá trị đối việc cho trẻ khám phá môi trường
xung quanh. Vì vậy, việc tổ chức hoạt động ngoài trời sẽ giúp trẻ tiếp cận các sự
vật, hiện tượng xung quanh một cách có hiệu quả. thông qua việc tiếp xúc với
thiên nhiên và xã hội trong hoạt động ngoài trời góp phần hình thành cho trẻ
những biểu tượng ban đầu chân thực về thế giới khách quan, giúp trẻ tích lũy
kiến thức và ứng dụng chúng vào thực tiễn, phát triển và rèn luyện cho trẻ các
kỹ năng nhận thức như quan sát, so sánh , phán đoán, đo lường ,..ngoài ra cho
trẻ hoạt động ngoài trời còn giúp trẻ tăng cường sức khỏe và thể lực cho trẻ
thông qua việc tiếp xúc với phong cảnh đẹp thiên nhiên, hít thở bầu không khí
nông dân.
12
Hình ảnh minh họa trẻ thực hành trải nghiệm quy trình sảnh xuất thuốc lào
Khi trực tiếp tiếp xúc với không gian thiên nhiên, những đề tài này luôn
giúp trẻ hứng thú hoạt động và hiệu quả đạt tỉ lệ cao. Mặt khác giúp trẻ thoả mãn
về nhu cầu vận động, nhu cầu tiếp cận thông tin qua khám phá, tự khám phá
thiên nhiên.
VD: Quan sát bầu trời, trẻ được nhận biết về thời tiết hôm nay như thế nào,
bầu trời trong xanh hay âm u, qua đó không chỉ góp phần mở rộng củng cố thêm
kiến thức mà hơn thế trẻ được khám phá lâu hơn, ghi nhớ sâu sắc hơn.
Hình ảnh: Trẻ quan sát bầu trời nhận xét về thời tiết
Hay khi tôi tổ chức cho trẻ tham quan nhà bếp và quan sát cô cấp dưỡng
nấu ăn trẻ được trực tiếp nhìn thấy các loại rau, các loại thức ăn, thấy các đồ
dùng nấu ăn của cô cấp dưỡng, trẻ còn được giáo dục vệ sinh trong ăn uống.
Khi kết thúc hoạt động ngoài trời là lúc chuyển sang hoạt động góc đối với
mùa hè và giờ ăn đối với thời điểm mùa đông. Tôi thường tạo cơ hội cho trẻ
thực hành thao tác rửa tay. Để giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, cần phải rửa
13
tay sau khi lao động, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh và trước khi ăn. Vì vậy, tôi
cho trẻ rửa tay với xà phòng, trong quá trình rửa tay tôi hướng dẫn trẻ thực hiện
đúng quy trình và giáo dục trẻ có thói quen thường xuyên rửa tay để giữ gìn vệ
sinh và bảo vệ sức khỏe không mắc các bệnh truyền nhiễm.
Hình ảnh trẻ rửa tay dưới vòi nước trước khi ăn
2.3.6. Sử dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động khám phá khoa học
được phụ huynh sử dụng đa số bằng những vật thật có trong gia đình. Tôi cũng
khuyến khích phụ huynh ở nhà trao đổi với trẻ nhiều về đồ vật, sự vật đó không
14
những cung cấp kiến thức mà còn làm tăng vốn từ của trẻ, giúp phát triển ngôn
ngữ mạch lạc, phát triển tư duy, trí nhớ một cách sâu sắc nhất.
Ngoài ra tôi huy động phụ huynh sưu tầm tranh ảnh, nguyên vật liệu phế
thải hoặc đồ vật thật như: cây rau bắp cải, củ su hào để tôi cho trẻ khám phá về
các loại rau. Hoặc huy động phụ huynh ủng hộ cây cảnh, cây hoa để xây dựng
góc khám phá khoa học tại lớp, tạo thành vườn thiên nhiên thu nhỏ để trẻ thực
hành trải nghiệm hàng ngày nhằng củng cố và khắc sâu kiến thức cho trẻ về các
sự vật hiện tượng trẻ được làm quen.
Tóm lại, làm tốt công tác phối kết hợp với phụ huynh nên tôi đã thu được
nhiều kết quả đáng khích lệ. Tôi đã xây dựng được vườn thiên nhiên thu nhỏ tại
lớp với tổng số tiền 2.500.000, cùng 25 chậu cây các loại.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Qua quá trình triển khai vận dụng các biện pháp nâng co chát lượng tổ chức
hoạt động khám phá khoa tại lớp mẫu giáo 4-5 tuổi trường mầm non Nga Văn
tôi đạt được kết quả như sau:
* Đối với hoạt động giáo dục:
- Trẻ nhận thức về sự vật, hiện tượng nhanh hơn.
- Thích tìm tòi, khám phá sự vật, hiện tượng nhiều hơn.
- Khả năng ghi nhớ, tập trung, chú ý, phân tích, tổng hợp, so sánh nâng cao
hơn.
- Trẻ có kĩ năng sử dụng đồ dùng, đồ chơi thuần thục hơn.
- Hứng thú trong các hoạt động.
* Đối với cô:
muốn truyền đạt, không những thế mà bản thân phải luôn trau dồi học hỏi đúc
rút kinh nghiệm để nâng cao kiến thức sư phạm, phải luôn gương mẫu cho trẻ
noi theo từ lời nói, cách nói để trẻ học tập. Ngoài ra cần làm tốt công tác tuyên
truyền phối kết hợp với nhà trường và phụ huynh để cùng thực hiện chăm sóc
giáo dục trẻ, bồi dưỡng cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi, để khắc sâu trí nhớ cho trẻ,
giúp trẻ hoàn thiện hơn nữa về mọi mặt, không những về trí tuệ mà còn hoàn
thiện về đức, trí, thể, mỹ, nhân cách cho trẻ.
Việc thực hiện quá trình nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm trên đã
cho thấy trong tiết học cho trẻ khám phá khoa học nói riêng và những môn học
khác nói chung đã đem lại những kết quả đáng khích lệ. Những đồ dùng, đồ vật
đó đem lại cho trẻ những hiểu biết đầu tiên, những kiến thức sơ đẳng về sự vật,
hiện tượng và hơn thế còn giúp trẻ phát triển tư duy, ghi nhớ có chủ đích, phát
triển thẩm mỹ và cả nhân cách cho trẻ. Việc sử dụng phương pháp dùng vật thật
trong tiết học cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn học liệu luôn được
quan tâm hàng đầu trong quá trình giáo dục trẻ mẫu giáo.
Ngay từ đầu năm học cần nắm rõ đặc điểm tâm sinh lí của trẻ, tôi luôn sưu
tầm những đồ dùng, đồ chơi có chất lượng cả về hình thức lẫn nội dung, tham
khảo thêm ý kiến đóng góp của ban giám hiệu, tổ chuyên môn và đồng nghiệp
trên lớp của mình, thường xuyên cho trẻ khám phá đối tượng ở mọi lúc mọi nơi
nếu có điều kiện, cô gần gũi hơn nữa với trẻ để giúp trẻ khám phá sự vật, hiện
tượng một cách chính xác và hiệu quả.
3.2 Kiến nghị
- Mở các lớp chuyên đề về nâng cao chất lượng hoạt động cho trẻ khám phá
khoa học và các tiết dạy mẫu để bản thân được trực tiếp học hỏi thêm kiến thức.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ bé của bản thân được rút ra trong quá
trình công tác của bản thân tôi và đang thực hiện tại lớp mẫu giáo nhỡ trường
Mầm non Nga Văn. Tôi xin mạnh dạn trình bày với các bạn đồng nghiệp tôi
mong được sự đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, phòng giáo
dục và các bạn đồng nghiệp để từ đó bản thân tôi rút ra được nhiều kinh nghiệm
sâu sắc hơn khi cho trẻ hoạt động khám phá khoa học.
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘ ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD & ĐT, CẤP SỞ GD & ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Bùi Thị Hằng
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường mầm non Nga Văn
TT
1
2
Tên đề tài SKKN
Một số biện pháp sử
dụng đồ dùng dạy học
bằng vật thật trong hoạt
động khám phá khoa
học cho trẻ 3 – 4 tuổi ở
trường mầm non Nga
Thiện.
Một số biện pháp tạo
hứng thú, thu hút trẻ tích
cực tham gia hoạt động
nhằm nâng cao chất
lượng khám phá khoa
học cho trẻ 4 - 5 tuổi ở
trường mầm non Nga
Văn.
Cấp đánh giá xếp
Tổng
số trẻ
47
Kết quả khảo sát trên trẻ
Nội dung khảo sát
Số
trẻ
Đạt
%
Chưa
đạt
%
Trẻ hứng thú, tích cực
tham gia hoạt động
khám phá
47
25
53,2
Khả năng so sánh
phân tích tổng hợp.
47
10
21,3
37
78,7
Bảng 2: Kết quả khảo sát cuối năm trên trẻ
Tổng
số trẻ
47
Kết quả khảo sát trên trẻ
Nội dung khảo sát
Số
trẻ
Đạt
%
Chưa
0
Năng lực quan sát
47
43
91
4
9
Khả năng so sánh
phân tích tổng hợp.
47
43
91
4
9
20