skkn kinh nghiệm chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt việc lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 6 tuổi tại trường mầm non nga hải - Pdf 49

MỤC LỤC
Nội dung
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lý luận của vấn đề
2. Thực trạng của vấn đề
3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện
3.1. Cô giáo cần phối kết hợp với cha mẹ, người chăm sóc trẻ để dạy
trẻ cách sống tự lập.
3.2. Dạy trẻ kỹ năng sống thân thiện với môi trường.
3.3. Qua hoạt động vui chơi, cô giáo cần hình thành cho trẻ 1 số
kiến thức kỹ năng cũng như thói quen tốt trong sinh hoạt hàng ngày.
3.4. Thông qua những câu chuyện, bài thơ, ca dao tục ngữ bồi
dưỡng kinh nghiệm, hình thành nhân cách sống cho trẻ.
3.5. Sử dụng tình huống có vấn đề và cách giải quyết chúng để dạy
trẻ Kỹ năng phòng tránh khi cơ thể bị gặp nguy hiểm .
3.6. Sưu tầm 1 bài thơ, đồng dao, ca dao có tác dụng cung cấp 1 số kỹ
năng, kinh nghiệm sống quí báu mà ông cha ta để lại.
3.7. Tuyên truyền, phối kết hợp với cha mẹ trẻ về nội dung và cách
rèn kỹ năng sống cho trẻ.
3.8. Quan tâm, khuyến khích giáo viên đưa Nội dung giáo dục kỹ
năng sống thường xuyên vào các hoạt động trong ngày.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị

hội nhập quốc tế đã mang đến cho cuộc sống con người nhiều tiện ích, nhưng
đồng thời với nó cũng là những tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm trong đó có sự
hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ. Trong gia đoạn hiện nay, sự
thiếu hụt trong nhận thức về đạo đức của 1 bộ phận không nhỏ học sinh phổ
thông và 1 số Thanh thiếu niên Việt Nam nói riêng và Thế giưới nói chung, đặt
ra cho nghành giáo dục của những nhiệm vụ và thách thức lớn mà nghành giáo
dục phải giải quyết ngay từ lứa tuổi ban đầu, trong đó đặc biệt là đối với trẻ
mầm non.
Trẻ mầm non là lứa tuổi còn rất non nớt chưa có kiến thức và kỹ năng cần
thiết ứng phó phù hợp với các sự việc đến từ các yếu tố ngoại cảnh cũng như
yếu tố nguy cơ do chính sự thiếu kỹ năng sống của các cháu tạo nên, điều này
đòi hỏi mỗi trẻ đều phải có những kỹ năng sống cơ bản ban đầu để xử lý tình
huống cũng như bảo vệ chính bản thân mình.
Ngay từ khi trẻ sinh ra, bố mẹ đã cố gắng tạo ra môi trường an toàn cho trẻ.
Giai đoạn trẻ bước đi thành thạo và làm chủ được những hoạt động của mình:
Chạy, nhảy….việc hướng cho trẻ những việc an toàn bắt đầu hình thành và rất
cần thiết từ đây. Theo thời gian, những kỹ năng ấy ngày càng nhiều thêm bởi
tính tò mò và khả năng làm chủ hành động của trẻ. Bất cứ 1 sự vật nào hiện ra
đều trở thành 1 đề tài thu hút đối với trẻ. Đó được coi là cơ hội để mở rộng kiến
thức nhưng đồng thời cũng có thể là mối nguy hại khôn lường đối với trẻ. Việc
trang bị cho trẻ những kỹ năng bảo vệ bản thân an toàn và tự tin hơn để khám
phá cuộc sống muôn màu.
Hay nói cách khác kỹ năng sống như 1 nhịp cầu giúp con người biến kiến
thức thành thái độ, giá trị, hành vi và thói quen lành mạnh. Vì vậy cần dạy kỹ
năng sống cho trẻ ngay từ lứa tuổi còn thơ nhằm giúp trẻ tự biết chăm sóc và
bảo vệ bản thân tránh khỏi những nguy hiểm có thể xảy ra, trẻ có thể hòa nhập
nhanh với cuộc sống xung quanh, biết cách phát triển các mối quan hệ với mọi
người, với thiên nhiên từ đó học hỏi và làm giàu thêm vốn kiến thức, kinh
nghiệm cũng như các kỹ năng của bản thân. Nếu thiếu các kỹ năng sống cần
thiết trẻ sẽ khó tránh khỏi những lúng túng, sai phạm thậm chí gặp nguy hiểm

nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF)( năm 2015), hơn 2.000 trẻ em tử vong mỗi
ngày do thương tích không chú ý và mỗi năm có thêm hàng chục triệu trẻ em
trên toàn cầu phải tới bệnh viện do thương tích và hậu quả gây ra cho các em
thường là các thương tật lâu dài. Báo cáo toàn cầu về Phòng chống Thương
tích trẻ em là 1 đánh giá tổng thể đầu tiên trên toàn thế giới về thương tích
không chú ý ở trẻ em và đưa ra các biện pháp phòng chống. Báo cáo kết luận
rằng nếu các biện pháp phòng chống đã qua kiểm chứng được thực hiện ở mọi
nơi thì có ít nhất 1.000/ 2000 trẻ tử vong mỗi ngày, đây là 1 con số không hề
nhỏ.
Riêng ở Việt nam tai nạn thương tích rất cao so với các nước Đông Nam
Á, gấp 8 lần so với các nước đang phát triển. Theo thống kê giao đoạn 20102014 của Bộ y tế trung bình mỗi ngày nước ta có khoảng 580 trẻ em bị tai nạn
3


thương tích các loại, mỗi ngày có hàng chục gia đình chịu mất mát đau
thương vì sự ra đi của các em do tai nạ thương tích. Tai nại thương tích cũng
là nguyên nhân hàng đầu gây nên khuyết tật cho trẻ em và có thể kéo dài đến
hét cuộc đời. Bản báo cáo cũng chỉ ra 5 nguyên nhân dẫn đến thương tích
hàng đầu do tử vong là: Tai nạn giao thông đường bộ, đuối nước, Bỏng, Ngã,
Ngộ độc.
Bản thân tôi tự nhận thấy phải chăng mà các em được trang bị 1 số kiến
thức kỹ năng sống ngay từ thuở ban đầu thì chắc chắn số trẻ bị thương vong
và tàn tật không nhiều đến vậy, hơn ai hết và hơn lúc nào hết nghành giáo dục
nói riêng và toàn xã hội nói chúng chúng ta phải cung cấp cho trẻ những kiến
thức, những kỹ năng sống cơ bản cho trẻ càng sớm càng tốt.
Xuất phát từ những trăn trở ấy tôi đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo giáo
viên lồng ghép Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3-6 tuổi tại trường mầm non
Nga Hải nhằm mang đến những hiệu quả giáo dục rất cao và tôi đã lựa chọn
đề tài :“Kinh nghiệm chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt việc lồng ghép Giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ 3-6 tuổi tại trường mầm non Nga Hải”

chuẩn và trên chuẩn, đội ngũ giáo viên đa số trẻ, nhiệt tình chịu khó, yêu nghề
mến trẻ.
- 100 % CBGV đạt trình độ chuẩn trở lên, yêu nghề, mến trẻ, đoàn kết giúp
đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ.
- Một số giáo viên có bề dày kinh nghiệm trong công tác CSGD trẻ đây là
điều kiện thuận lợi để tôi học tập kinh nghiệm trao dồi kiến thức cho bản thân
-Tập thể nhà trường luôn đoàn kết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong công
tác cũng như trong cuộc sống.
1.4. Đối với học sinh:
- Đa số trẻ rất ngoan ngoãn và sạch sẽ, đi học chuyên cần..
- Các cháu rất mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp.
- 100% trẻ ăn bán trú tại lớp.
Tất cả những yếu tố trên tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc Chăm sócGiáo dục trẻ hàng ngày của giáo viên.
* Khó khăn:
2.1. Cơ sở vật chất, nhà trường:
- Tuy đã được ĐU-UBND, BGH nhà trường quan tâm đầu tư phối hợp mua
sắm trang thiết bị mới nhưng1 số trang thiết bị cũ lại có dấu hiệu xuống cấp, 1
số trang thiết bị cũ chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục mầm non mới.
- Đồ dùng, đồ chơi tự tạo trong các góc chưa phong phú về chủng loại,
chưa nhiều về số lượng, việc tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có để phục vụ
hoạt động góc chưa nhiều, các giá góc trong lớp còn to chiếm diện tích chơi của
trẻ.
2.2- Về phía phụ huynh:
- Một số bộ phận phụ huynh quá chú trọng đến việc phát triển kinh tế, ít
quan tâm đến việc học hành của con cái, chưa thực sự coi trọng giáo dục mầm
non, có phụ huynh chỉ nghĩ trẻ mầm non vài việc hát hò là xong còn các môn
học khác của trẻ chưa quan tâm đến.
- Nhận thức phụ huynh chưa đồng đều về kiến thức giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ, 1 số còn nặng giáo dục con theo quan điểm truyền thống.
2.3 - Đối với giáo viên.

hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 - 6 tuổi tại các nhóm, lớp ( Tổng số
giáo viên mẫu giáo: 12 giáo viên)
Tỉ lệ
%

Số
GV
chưa
đạt

Tỉ lệ
%

Số
TT

Nội dung tiêu chí khảo sát

Số
GV
đạt

1

Việc tổ chức hoạt động lồng ghép Giáo
dục kỹ năng sống thường xuyên theo
đúng kế hoạch đã xây dựng.

6



4

33

4

Giáo viên chú trọng việc sưu tầm
nguyên vật liệu sẵn có và vật thật để
phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng
sống.

7

58

5

42

5

Công tác tuyên truyền, phối kết hợp với
phụ huynh để giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ đạt hiệu quả.

7

58


đạt

Số
TT

Nội dung tiêu chí khảo sát

1

Sự hứng thú của trẻ khi tham gia hoạt động
giáo dục kỹ năng sống.

2

Trẻ có 1 số kỹ năng sống ban đầu phù hợp
với độ tuổi để tự tin trong các hoạt động ví
dụ: Kỹ năng mặc quần áo, kỹ năng cài áo
phao an toàn, kỹ năng đội mũ bảo hiểm….

130

53

114

47

3

Kỹ năng tự giao tiếp trong khi hoạt động.


109

45

6

Ý thức giữ gìn đồ dùng, đồ chơi và thực
hiện nội quy của lớp.

150

61

94

39

Từ thực trạng trên, tôi luôn suy nghĩ và trăn trở xem mình phải làm gì và
làm như thế nào để nâng cao kết quả chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3
- 6 tuổi tại các nhóm lớp của trường mầm non Nga Hải đạt hiệu quả cao. Chính
vì vậy, tôi đã tìm và nghiên cứu tài liệu về đặc điểm tâm sinh lý trẻ và những kỹ
năng sống cần thiết dành cho trẻ Mẫu giáo để nghiên cứu và tìm ra các biên
pháp sau:
3. Các giải pháp thực hiện
3.1. Chỉ đạo giáo viên cần phối kết hợp với cha mẹ, người chăm sóc
trẻ để dạy trẻ cách sống tự lập.
- Bước 1: Dạy trẻ những kỹ năng rèn luyện cần thiết.
Trước hết , cha mẹ phải dạy con tự lập sống dựa vào chính đôi tay của
mình ngay từ khi còn nhỏ.Trẻ em từ 3 tuổi trở đi đã dần nhận thức được mọi

- Bước 4: Cô phân công công việc cho bé theo lịch khuyến khích trẻ
yêu thích lao động.
Mỗi độ tuổi đều có thể làm những công việc riêng của mình tùy theo khả
năng và sở thích của bé hôm đó để cô khuyến khích trẻ làm. Ví dụ ở độ tuổi 3
tuổi thì trẻ đến lớp tự cất và lấy đồ dùng của mình, ở độ 4 tuổi trẻ có thể giúp
cô cùng thu dọn đồ chơi để vào nơi qui định, 5 tuổi cháu có thể cùng cô kê
bàn ăn, kê sạp ngủ…

Hình ảnh cô và trẻ đang quan sát lịch vệ sinh hàng ngày của bé lớp B1
3 .2. Dạy trẻ kỹ năng sống thân thiện với môi trường.
8


3.2.1. Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn trẻ cách phân loại rác thải và bỏ rác
đúng nơi qui định:
Sống thân thiện với môi trường là cách sống tạo nên sự gần gũi, hài hòa
giữa con người với môi trường. Đây là xu hướng sống nhân văn cần được cổ vũ
và nhân rộng bởi môi trường có liên quan đến sự sống còn của tất cả chúng ta,
nên chúng thuộc trách nhiệm chung của tất cả mọi người.
*Mục đích:
- Bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh nơi công cộng là 1 trong những yêu
cầu giúp trẻ thích ứng hòa nhập, sống có trách nhiệm hơn với xã hội với cuộc
sống của cộng đồng.
- Trẻ biết sử dụng tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả vật liệu, phân laoij và tái tạo
sử dụng vật liệu tiết kiệm điện nước…
- Giúp trẻ nhận ra và biết phân loại rác thải thành 2 loại đơn giản( Một loại
rác phân hủy được, 1 loại rác không phân hủy được trong môi trường tự nhiên)
* Chuẩn bị:
- Một thùng đựng rác màu xanh ký hiệu ảnh của 1 vài loại rác phân hủy
được không đánh dấu hoa chanh.


+ Ai biết về tác dụng của gió( thả diều, chong chóng, quạt gió, thuyền buồm
đi đánh cá…)
+ Cho trẻ quan sát chong chóng đang quay.
+ Hỏi trẻ vì sao chong chóng quay được? (nhờ gió)
- Kết quả: Sau lần làm các thí nghiệm này học sinh các nhóm lớp 4-5 tuổi,
5-6 tuổi đã có 1 số kiến thức về tác dụng của 1 số hiện tượng tự nhiên: Gió,
năng, mưa với sự sống của con người và tự nhiên.

Cô và trẻ lớp C2 đang làm thí nghiệm tác dụng của gió với chong chóng
Ví dụ 2: Cung cấp 1 số kinh nghiệm chỉ đạo giáo viên làm thí nghiệm
về nước sạch, nước bẩn :
- Mục đích:
+ Giúp trẻ nhận biết được lợi ích của nước sạch và có ý thức và có ý thức,
hành vi bảo vệ môi trường nước.
- Chuẩn bị:
+ Một chậu nước mưa sạch. Một chậu nước bẩn,
+ Hai con cá đang sống được và bơi trong chậu nước
- Tổ chức hoạt động:
+ Cô cùng trẻ thả 2 con cá, một con vào chậu nước sạch, 1 con vào chậu
nước bẩn bị ô nhiễm.
+ Sau 1 thời gian khoảng 30 phút mang 2 chậu cá ra quan sát cho trẻ nhận
xét hiện tượng gì xảy ra với 2 con cá.(Chậu nước bẩn cá bị chết, chậu nước sạch
cá vẫn sống)
+ Nếu không có nước sạch thì con người sẽ như thế nào? Cây trồng, vật
nuôi sẽ ra sao?
* Kết quả:
Qua các thí nghiệm này các nhóm lớp thu được 1 số kết quả sau: đa số trẻ
các nhóm lớp từ 3- 6 tuổi đã biết được tầm quan trọng của nước sạch đối với
môi trường sống của con người và sự vật sống quanh trẻ, từ đó có các hành vi

những tình huống xảy ra. Điều quan trọng là cô biết tìm ra những biện pháp
kịp thời xử lý tình huống, điều chỉnh hành vi cho trẻ, giúp trẻ có thói quen tốt,
biết được cái nào nên làm cái nào không nên làm, lâu dần những hành vi, thói
quen ấy sẽ được tích lũy trở thành kỹ năng sống đối với trẻ.

12


H.a Cô và trẻ lớp B2 đang học
kỹ năng gấp quần áo

H.a Cô và trẻ lớp A1
đang học làm bánh chưng

Ví dụ 3: Trò chơi ai nhanh hơn:
+ Cô chia thành 2 đội chơi : Đội 1 mang tên là đội thân thiện: trẻ bật qua
vòng lên chọn những vật dụng an toàn mà trẻ được chơi, được sử dụng được.
Đội 2 mang tên đội Nguy hiểm trẻ lên chọn những vật sắc nhọn… mà mình
cần tránh xa.
+ Mỗi lần 2 đội chơi thời gian là 1 bản nhạc, nếu kết thúc 1 bản nhạc đội
nào lấy được nhiều và đúng yêu cầu thì đội đó thắng.
+ Sau đó cô đổi vai chơi nhiều lần để trẻ được tiếp xúc với nhiều đồ vật.
Qua trò chơi hình thành cho trẻ kỹ năng hiểu được xung quanh bé có vô
vàn những con vật đồ vật đáng yêu thân thiện trẻ có thể đến gần tiếp xúc
nhưng ngược lại có những đồ vật con vật rất nguy hiểm mà trẻ phải tránh xa.
Kết quả: giáo viên trường tôi hầu hết các nhóm lớp đã chủ động tổ chức
lồng ghép trò chơi có nội dung Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ hầu hết các
hoạt động học. nên trẻ đã tự tin hơn trong cuộc sống biết nhắc nhở nhau
không được chơi những đồ dùng sắc nhọn, đồ dùng nguy hại, hoặc đã có 1 số
kiến thức cơ bản ban đầu để phòng tránh khi điện chập cháy đầu tiên phải

Các bài ca dao, đồng dao hay tục ngữ cũng là những kho tàng giá trị sâu
sắc cho trẻ noi theo về công cha nghĩa mẹ, đạo làm con hay tình anh em máu
mủ… thông qua nội dung trẻ thường xuyên được nghe, được đọc cùng với sự
giảng giải của cô, trẻ sẽ thấm dần ý nghĩa về tình cảm gia đình tình yêu
thương con người , lòng yêu quê hương đất nước từ đó tích lũy cho trẻ những
bài học kinh nghiệm trong cuộc sống.
Kết quả: Qua việc giáo dục lòng nhân ái cho trẻ thông qua những câu
chuyện, bài thơ, ca dao tục ngữ đa số trẻ 3-6 tuổi ở trường tôi ngoan ngoãn
hơn, khi chơi biết nhường nhịn không tranh giành đồ chơi của nhau, biết quan
tâm đến đến những người thân trong gia đình và những người xung quanh
mình, trẻ sống thân thiện, cởi mở, tình cảm hơn rất nhiều.
3.5. Hướng dẫn cho giáo viên biết sử dụng tình huống có vấn đề và
cách giải quyết chúng để dạy trẻ Kỹ năng phòng tránh khi cơ thể có nguy
cơ bị gặp nguy hiểm .
- Cô đưa ra 1 số tình huống có vấn đề cho trẻ giải quyết sau đó cô kết
luận cách giải quyết tốt nhất trong tình huống đó.
+ Ví dụ tình huống 1: cô kể cho trẻ nghe tình huống bạn Hải An đang
chờ mẹ đến đón, lại tự ý trốn cô giáo ra cổng, có 1 người lạ đến gần đưa cho
Hải An 1 cái bánh ngọt và bảo Hải An lên xe Cô đưa về với mẹ, cô dừng lại
hỏi theo các con ban Hải An có lên xe không? Vì sao? Nếu là con con sẽ làm
gì? Cô gọi 1 số trẻ trả lời câu hỏi con sẽ làm gì khi gặp tình huống đó? Và sau
đó cô đưa ra 1 số kết luận mà cô và các bạn cho là đúng nhất như Hải An sẽ
không đi lên xe và trả lời thật to không cháu không quen cô cháu không lên
xe được rồi chạy vào lớp nếu Cô cố tình lôi kéo hay hù dọa thì phải kêu to lên
“ cứu con với, có người muốn bắt con”,
+ Ví dụ tình huống 2: Ở tiết khám phá “bé làm gì khi bị lạc đường? cô
tạo tình huống để biết cách ứng xử: Bé phải làm gì?Phải tìm sự giúp đỡ từ ai?

14


Kẻo bị đốt đau
Người người bảo
nhau
Nằm màn để tránh
Là con gì?
(Con muỗi)

Ăn lá dâu
Nhả tơ vàng
Giúp người dệt lụa
Làm hàng gấm hoa
(Con tằm)

Con gì bé nhỏ tí ti
Đêm về đốm lửa lập lòe
sáng ghê
Trẻ nhỏ ai cũng thích mê
Thích bắt mang về, bỏ lọ
mà chơi?
(Con đom đóm)

- Ví dụ khác tôi thường khuyến khích giáo viên các nhóm lớp sưu tầm
các bài đồng dao, ca dao đã được ông cha ta đúc kết kinh nghiệm để lại đọc
xong những bài đồng dao, ca dao trên tôi thường nhắc nhở giáo viên giải thích
để trẻ hiểu được 1 số hiện tượng tự nhiên đơn giản và ý nghĩa của nó.

15


Đêm tháng năm chưa

tổ chức cho trẻ tham quan danh lam thắng cảnh của địa phương và dã ngoại…
qua đó khuyến khích trẻ cùng cô chuẩn bị 1 số điều kiện vất chất để tham gia…
3.8.3. công khai kế hoạch giáo dục kỹ năng cho trẻ ở từng chủ đề để phụ
huynh biết và phối hợp với cô về cơ sở vật chất cũng như phương pháp chăm
sóc- giáo dục trẻ.
3.8.4. Vận động cha mẹ học sinh, người chăm sóc trẻ xã hội hóa giáo dục
đóng góp đồ dùng, đồ chơi nguyên vật liệu phế thải có giá trị sử dụng để làm
đồ dùng đồ chơi phục vụ môn học.
3.8.5. Bản thân tôi là Phó hiệu trưởng tôi cũng tham mưu cho Hiệu trưởng
tuyên truyền vận động, có bài tuyên truyền về nội dung giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ ngay trên đài truyền thanh của xã vào các dịp mùng 8/3 hoặc Quốc tế
thiếu nhi 01/6.để cung cấp thêm cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ 1 số kinh
nghiệm quí báu để phụ huynh biết và chăm sóc con em mình.
Kết quả: Sau 1 thời gian chỉ đạo các nhóm, lớp lập kế hoạch và treo
lịch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở góc tuyên truyền , đã được các bậc phụ
huynh các nhóm lớp chú ý quan tâm và chủ động phối hợp với cô giáo trong
vấn đề hỗ trợ đồ dùng dạy học mà phụ huynh có cũng như nhiều phụ huynh đã
trao đổi với cô giáo về kinh nghiệm dạy trẻ trong nội dung giáo dục kỹ năng
sống.

16


3.8. Quan tâm, khuyến khích giáo viên đưa Nội dung giáo dục kỹ năng
sống thường xuyên vào các hoạt động trong ngày.
Là 1 người quản lý muốn nâng cao công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
tại trường mầm non tôi không thể trực tiếp truyền đạt cho trẻ những kiến thức
và kinh nghiệm của mình mà phải nhờ đến các giáo viên của các nhóm lớp,
nhưng để tâm huyết của mình không bị sao nhãng tôi thường xuyên đi dự giờ và
khuyến khích điểm nếu giáo viên nào chú ý đưa nội dung chuyên đề giáo dục

Số
TT

Nội dung tiêu chí khảo sát

1

Việc tổ chức hoạt động lồng ghép Giáo dục
kỹ năng sống thường xuyên theo đúng kế
hoạch đã xây dựng.

12

100

0

0

2

Nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa và sự quan
trọng của việc tổ chức hoạt động giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ.

12

12

0

0

0

5

Công tác tuyên truyền, phối kết hợp với
phụ huynh để giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ đạt hiệu quả.

11

91

1

9

Bảng 2: Kết quả khảo sát cho trẻ sau khi các nhóm lớp áp dụng 1 số kinh
nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ( Tổng số trẻ mẫu giáo: 244 cháu)
Số TT

Nội dung tiêu chí khảo sát

1

Sự hứng thú của trẻ khi tham gia hoạt động
giáo dục kỹ năng sống.

2

92

19

8

230

94

14

6

235

96

9

4

228

93

16

7



18


C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Như vậy qua nghiên cứu cho thấy Giáo dục Kỹ năng sống cho trẻ 3-6 tuổi
nói riêng và lứa tuổi mầm non nói chung là 1 việc làm rất cần thiết và cấp bách
mà giáo viên là người đóng vai trò rất quan trọng trong việc lập kế hoạch và tổ
chức các hoạt động cho trẻ, giúp trẻ có những vốn kiến thức, kinh nghiệm sống
ban đầu để trẻ tự tin hòa nhập cộng đồng và hạn chế được 1 số tai nạn thương
tích có thể xảy ra ở đâu và bất cứ nơi nào với trẻ, vì vậy.
- Đối với giáo viên Cô giáo và cha mẹ trẻ luôn là những tấm gương của trẻ
bằng những việc làm rất giản dị hàng ngày để trẻ em nhìn thấy, đặc biệt khi dạy
trẻ những kỹ năng mới giáo viên cần diễn đạt những kiến thức khoa học 1 cách
chính xác, đơn giản và tự nhiên.Cô phải kiên trì, bền bỉ không thúc giục gò ép
hoặc làm hộ trẻ.
- Sưu tầm tranh ảnh, tận dụng những nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương
làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hứng thú tham gia hoạt động.
- Tận dụng dạy kỹ năng cho trẻ mọi lúc mọi nơi, khi nào trẻ tò mò học hỏi
cô phải kịp thời giải đáp ngay.
- Để làm tốt được việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ cô giáo cũng phải là
người thật sự tâm huyết với nghề yêu nghề, mến trẻ phải hiểu được đặc điểm
tâm sinh lý của trẻ có như vậy thì việc giáo dục trẻ mới trở nên nhẹ nhàng và
hứng thú.
2. Kiến nghị
Để giáo viên trong nhà trường hoạt động có hiệu quả đạt hiệu quả nội dung
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để trẻ hứng thú hơn rất mong muốn lãnh đạo nhà
trường quan tâm nhiều hơn nữa trong công việc bổ sung thêm thiết bị đồ dùng
cho môn môi trường xung quanh nói riêng để trẻ có thêm nhiều đồ dùng để

Nguyễn Thị Huệ

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non - Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam, năm 2009.
2. Tài liệu bồi dưỡng hè cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, năm học
2015 – 2016, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
3. Tạp chí Giáo dục mầm non số 3 năm 2013 về giáo dục đẩy mạnh công tác
phổ cập, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
4. Thực hiện theo tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục
Mầm non dành cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi ) của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam do TS.Trần Thị Ngọc Trâm và TS.Lê Thu Hương; PGS. TS.Lê Thị
Ánh Tuyết (đồng chủ biên).
5. Tuyển tập các bài đồng dao và trò chơi dân gian cho trẻ mầm non của nhà
xuất bản giáo dục việt nam do Hoàng Công Dụng sưu tầm và biên soạn. Tháng
năm 2011 số 15-2011/CXB/57-2074/GD
6. Tạp chí giáo dục mầm non số 1/2012 của Bộ giáo dục và đào tạo

21


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNH KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD & ĐT, CẤP SỞ GD & ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó HT Trường MN Nga Hải

(Phòng, Sở,
Tỉnh…)

Kết quả đánh
Năm học đánh
giá xếp loại
giá xếp loại
( A,B hoặc C)

PGD & ĐT

B

2009 - 2010

PGD & ĐT

B

2010 - 2011

Sở GD& ĐT
B

2014 - 2015

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status