BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------
TRẦN THỊ TRANG
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN DỰ ĐỊNH
DUY TRÌ THAM GIA HỆ THỐNG NQTM
CỦA BÊN NHẬN QUYỀN TẠI TP.HCM
Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số: 62.34.01.2
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018
Công trình được hoàn thành tại:
Người hướng dẫn khoa học:
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
trường họp tại
978-604-938-723-4, page 473-480.
8. Tran Thi Trang, 2014. Service quality in convenience franchising
stores. Proceedings of the 5th International conference on Green
Technology and Sustainable Development. ISBN: 978-604-7328178, page 650-654.
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1.1. Bối cảnh nghiên cứu của luận án
Có nhiều nghiên cứu mang tính học thuật về sự duy trì và phát
triển NQTM, nhưng đa số các học giả cho rằng, lợi nhuận và hiệu
quả hoạt động kinh doanh là mục tiêu và lợi ích chung mà cả hai Bên
nhượng quyền và Bên nhận quyền hướng đến. Đây là những nhân tố
quan trọng nhất để duy trì mối quan hệ vì sự thua lỗ của bên này sẽ
tác động không thuận lợi đến bên kia và ngược lại. Một số nhà khoa
học khác lại cho rằng chất lượng sự duy trì và phát triển NQTM phụ
thuộc vào chất lượng mối quan hệ (CLMQH) Bên nhượng quyền Bên nhận quyền (Rubin, 1978; Shane, 1996) ), mối quan hệ này được
thể hiện qua ba yếu tố sau: (1) Chất lượng hợp đồng NQTM quy định
trách nhiệm, quyền quyết định và chia sẻ nguồn lực giữa Bên nhượng
quyền và Bên nhận quyền (Rubin, 1978; Pizanti và đtg, 2003), (2)
Phát triển mối quan hệ Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền và (3)
CLMQH trong hoạt động NQTM phụ thuộc nhiều vào năng lực của
Bên nhận quyền (Kaufmann và đtg, 1995; Nathan, 2004).
Mặc dù còn rất nhiều ý kiến khác nhau về NQTM, nhưng các
nhà khoa học đều nhấn mạnh với đặc điểm chung: Phương thức kinh
doanh NQTM là phương thức kinh doanh giúp nhanh chóng mở rộng
quy mô kinh doanh và phát triển thương hiệu thông qua sự đầu tư của
các Bên nhận quyền trong hệ thống, cho nên, một hệ thống NQTM
cần phải ổn định và phát triển về mặt số lượng các Bên nhận quyền.
Việc lựa chọn Bên nhận quyền có đủ tiềm lực tài chính, năng lực
NQTM của Bên nhận quyền có ảnh hưởng như thế nào đến dự định
duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền. Bên cạnh đó,
các yếu tố đặc điểm cá nhân của Bên nhận quyền, CLMQH Bên
nhượng quyền - Bên nhận quyền đã được đề cập riêng biệt khi
nghiên cứu tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM
3
của Bên nhận quyền. Đặc điểm cá nhân của Bên nhận quyền có liên
quan đến việc lựa chọn Bên nhận quyền của Bên nhượng quyền cho
hệ thống NQTM. Đồng thời, trong một hệ thống NQTM không chỉ
tồn tại mối quan hệ Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền mà còn có
mối quan hệ giữa các Bên nhận quyền trong hệ thống. Do vậy, tương
quan giữa đặc điểm cá nhân, CLMQH Bên nhượng quyền - Bên nhận
quyền và dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận
quyền như thế nào, vấn đề này cần được nghiên cứu làm rõ hơn. Hơn
nữa, tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, văn hóa, ngôn
ngữ, pháp luật, con người, thu nhập, mức sống,… có nhiều điểm
khác biệt so với các nước phát triển. Vì vậy, hoạt động NQTM, dự
định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền sẽ có
những điểm chung nhưng có thể tồn tại những nhân tố, đặc thù riêng
cần được khám phá thêm thông qua các nghiên cứu mang tính học
thuật và kiểm định qua nghiên cứu thực tiễn.
NQTM là một phương thức kinh doanh đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo công ăn việc làm và góp phần phát triển nền kinh tế
(Shane và đtg, 2006). Phương thức kinh doanh NQTM được áp dụng
trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như: nhà hàng, dịch vụ
nhà trọ, bán lẻ, dịch vụ cá nhân, ô tô, bất động sản, dịch vụ thương
mại,… Tại Việt Nam nói chung và Tp.HCM nói riêng, hoạt động
kinh doanh theo phương thức NQTM đang trong giai đoạn đầu của
-
Thiết kế mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến dự định
duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền.
-
Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến dự
định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền.
-
Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao mức độ dự định duy
trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền và các hàm ý
chính sách đối với Nhà nước về hoạt động NQTM.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1.
Đối tượng nghiên cứu của luận án
Các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống
NQTM của Bên nhận quyền.
1.4.2.
-
Phạm vi nghiên cứu
Về vấn đề nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến dự định duy trì
Dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM được hiểu là hành vi
của Bên nhận quyền trong việc lên kế hoạch hoặc ra quyết định tái
ký hợp đồng NQTM hoặc mở rộng hợp tác với Bên nhượng quyền
trong hệ thống NQTM mà họ đang tham gia. Khi Bên nhận quyền có
hành vi này tức là Bên nhận quyền đang có dự định duy trì tham gia
hệ thống NQTM.
2.1. Các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống
NQTM của Bên nhận quyền
6
Bảng 2.4: Tổng hợp các nhân tố tác động đến dự định duy
trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền
Tt
1
Nhân tố
Tác giả, năm
CLMQH Bên nhượng
Adeiza và đtg (2017), Chen (2011),
quyền - Bên nhận
McDonnell và đtg (2011), Ulaga và
quyền
(1999),
Morrison
(1997), Justis và đtg (1991)
4
Victoria
Sự cam kết
đào tạo, chương trình
huấn luyện
Lợi thế cạnh tranh,
6
và
đtg
(2008)
Chất lượng dịch vụ,
5
Bordanaba-Juste
hình ảnh thương hiệu
Bên nhượng quyền
Victoria
thông tin và hợp tác
Bordanaba-Juste và đtg (2008), Chiou
7
và đtg (2004)
9
Môi trường KD
Huang và đtg (2009)
10
Định hướng dài hạn
Ono và đtg (2009)
11
Chủ nghĩa cơ hội
Ono và đtg (2009)
12
Tự chủ nhận thức
Các lý thuyết tạo động cơ dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu: động
cơ thúc đẩy con người hành động xuất phát từ mong muốn thỏa mãn
8
nhu cầu. Quá trình thực hiện nhu cầu là một quá trình phức tạp: Cảm
thấy có nhu cầu về một cái gì đó và tìm cách để thỏa mãn nó.Trong
kinh doanh, động cơ được cho là có tác động mạnh mẽ đến hành vi
(Herron và đtg, 1993; Renko và đtg, 2011). Bird (1998) cho rằng dự
định của người sáng lập quyết định hình thức và chỉ đạo của một tổ
chức. Còn trong lĩnh vực NQTM, hai lý thuyết về động cơ có thể rất
hữu ích khi vận dụng để hiểu được động cơ tham gia trong hệ thống
NQTM của Bên nhận quyền là lý thuyết nội dung và lý thuyết quá
trình về động lực. Trong đó, lý thuyết quá trình động lực đóng vai trò
quan trọng vì chúng giúp hiểu rõ thêm những gì ảnh hưởng đến quá
trình hình thành dự định của Bên nhận quyền.
2.2.1.2. Lý thuyết hành vi dự định (Theory of planned behavior)
Lý thuyết hành vi dự định là lý thuyết về mối liên hệ giữa thái độ
và hành vi, nhận diện kiểm soát hành vi và các yếu tố chủ quan ảnh
hưởng đến hành vi dự định cá nhân (Ajzen, 1991). Các nhà nghiên
cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: tâm lý xã hội (Ajzen, 2002), du
lịch (Hsu, 2012), lễ hội và sự kiện (Horng và đtg, 2013; Shen, 2014),
đã vận dụng thành công lý thuyết hành vi dự định để làm rõ tác động
của động cơ vào hành vi dự định và hành vi.Lý thuyết hành vi dự
định là một phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (theory of
reasoned action - TRA) khi đã bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi
cảm nhận (Ajzen, 2002). Ngoài ra, lý thuyết này còn xem xét sự liên
quan giữa yếu tố niềm tin và việc sở hữu các nguồn lực cần thiết
cũng như cơ hội để thực hiện một hành vi cụ thể. Một số nghiên cứu
trước chứng minh tác động của yếu tố kiểm soát hành vi đến dự định
Dwyer và đtg (1987) đã nghiên cứu đầu tiên về CLMQH. Đến
năm 1990, Crosby và đtg đã xây dựng thành hệ thống lý thuyết về
CLMQH. Khi đó, CLMQH được định nghĩa là sự đánh giá về sức
mạnh mối quan hệ và sự mở rộng mối quan hệ nhằm đáp ứng những
10
kỳ vọng và nhu cầu của các bên liên quan. CLMQH giữa khách hàng
và công ty là một thước đo xem khách hàng có muốn tiếp tục duy trì
mối quan hệ với người cung cấp dịch vụ hay không (Roberts và đtg,
2003). CLMQH được xem xét trên ba phương diện chính: Sự hài
lòng (satisfaction), sự tin tưởng (trust), và sự cam kết (commitment)
(Hennig và đtg, 1997; Smith, 1998; Liang và đtg, 2005).
Trong nhiều ngành công nghiệp ngày nay, CLMQH là công cụ
nhằm duy trì mối quan hệ dài hạn giữa người bán và người mua
(Dwyer và đtg, 1987). Điều này tương tự CLMQH Bên nhượng
quyền - Bên nhận quyền trong lĩnh vực NQTM. Bên nhận quyền
chính là khách hàng, là đối tác ký kết hợp đồng NQTM với Bên
nhượng quyền. Mối quan hệ NQTM là loại mối quan hệ hợp tác dài
hạn tiêu biểu. Thời gian duy trì mối quan hệ giữa hai bên phản ánh
CLMQH giữa họ (Ernández Monroy và đtg 2005).
2.2.1.5. Lý thuyết Đặc điểm cá nhân (Big Five personality traits)
Lý thuyết này đề cập đến tính cách khác nhau cơ bản của mỗi cá
nhân thông qua năm đặc điểm: Hướng ngoại (extraversion), sự đồng
thuận (agreeableness), sự tận tâm (conscientiousness), ổn định cảm
xúc (emotional stability) và sự tưởng tượng (imagination) (Costa và
đtg, 1992). Trong NQTM, Peterson và đtg (1990), tính cáchBên nhận
quyền là một trong những tương quan ảnh hưởng đến cảm nhận của
họ về NQTM. Nghiên cứu những đặc điểm cá nhân của Bên nhận
quyền giúp hiểu động cơ tham gia hệ thống NQTM (Lee, 1999).
đúng các thỏa thuận được ghi trên hợp đồng NQTM của Bên nhận
quyền có ảnh hưởng đến CLMQH giữa họ và Bên nhượng quyền.
Ngoài ra, khi Bên nhận quyền có niềm tin sẽ được pháp luật NQTM
bảo vệ quyền lợi hợp pháp, họ sẽ yên tâm và có khuynh hướng tiếp
tục duy trì tham gia hệ thống NQTM. Tuy nhiên, trong nhiều nghiên
cứu về hoạt động NQTM trong và ngoài nước, các nghiên cứu vẫn
chưa xem xét việc thực thi pháp luật NQTM có ảnh hưởng như thế
nào đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM cũng như CLMQH
giữa 2 bên. Với những lý do trên, NCS đề xuất hai giả thuyết sau:
12
Giả thuyết H3: Thực thi pháp luật NQTM có tác động cùng chiều
đến CLMQH Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền.
Giả thuyết H4: Thực thi pháp luật NQTM có tác động cùng chiều
đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền.
Điểm đáng chú ý trong hoạt động NQTM là mối quan hệ mang
tính cộng sinh giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền. Một hệ
thống NQTM chỉ được xem là thành công khi ngày càng có nhiều
Bên nhận quyền tham gia và duy trì lâu dài trong hệ thống. Trong khi
đó, dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền
phụ thuộc rất lớn vào cảm nhận của họ về mối quan hệ hiện tại với
Bên nhượng quyền. Hai bên thường có những quan điểm và động cơ
khác nhau nhưng họ đều có chung một mục tiêu và lợi ích chung cần
đạt đến chính là hiệu quả kinh doanh. Do vậy, hai bên phải có một sự
ràng buộc nhất định, cần phải duy trì CLMQH Bên nhượng quyền Bên nhận quyền một cách lâu dài, tốt đẹp để cùng phát triển vững
chắc trên thị trường. Vì vậy mà CLMQH là trở thành một thành tố
quan trọng đem đến thành công cho sự hợp tác lâu dài trong lĩnh vực
NQTM (Ernández Monroy, 2005). CLMQH Bên nhượng quyền Bên nhận quyền càng tốt thì Bên nhận quyền càng có nhiều khả năng
dự định tiếp tục hợp tác, duy trì tham gia hệ thống NQTM. Do vậy,
Dự định duy trì
tham gia hệ
thống NQTM
của Bên nhận
quyền
H4 (+)
Thực thi Pháp
luật NQTM
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu lý thuyết
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu
3.1.1.
-
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện bằng phương
pháp thảo luận tay đôi với các chuyên gia trong lĩnh vực NQTM
nhằm khẳng định tính khoa học của mô hình nghiên cứu lý
thuyết và với 10 đại diện đối tượng khảo sát nhằm đảm bảo bảng
câu hỏi khảo sát rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với đối tượng khảo sát.
-
Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện ở giai đoạn
là nghiên cứu định lượng sơ bộ nhằm đánh giá sơ bộ các thang
đo và nghiên cứu định lượng chính thức nhằm kiểm định mô
khảo sát sơ bộ.
-
Kết quả nghiên cứu sau khi phỏng vấn chuyên gia đã giúp khẳng
định mô hình nghiên cứu lý thuyết được đề xuất ở Chương 2,
đồng thời bổ sung thêm năm biến quan sát cho bốn thang đo Sự
tin tưởng, Sự hài lòng, Thực thi pháp luật NQTM và Dự định
duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền. Như vậy,
Mô hình nghiên cứu lý thuyết có 10 thang đo đo lường các khái
niệm nghiên cứu với tổng cộng 49 biến quan sát.
3.3. Nghiên cứu định lượng
3.3.1.
-
Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Phương pháp thực hiện nghiên cứu định lượng sơ bộ: Các thang
đo được điều chỉnh thông qua đánh giá độ tin cậy và độ giá trị
của nó (phân tích nhân tố khám phá - EFA).
-
Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ: Kết quả đánh giá độ tin
cậy của thang đo cho thấy từ 49 biến quan sát ban đầu, có 14
15
biến quan sát bị loại, trong đó có một thang đo bị loại là thang đo
-
Phương pháp thực hiện nghiên cứu định lượng chính thức: Các
thang đo tiếp tục được kiểm định bằng phương pháp hệ số tin cậy
Cronbach Alpha’s và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Sau đó,
các thang đo này tiếp tục được kiểm định bằng phương pháp
phân tích nhân tố khẳng định (CFA). Khi dùng phương pháp
CFA, nghiên cứu sẽ: Đo lường mức độ phù hợp của mô hình với
thông tin thị trường, Đánh giá độ tin cậy thang đo, Giá trị hội tụ,
Giá trị phân biệt. Sau khi đã kiểm định các giá trị hội tụ, tính đơn
16
hướng và giá trị phân biệt, các biến quan sát đạt điều kiện sẽ
được sử dụng để kiểm định mô hình lý thuyết.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC
ĐỘNG ĐẾN DỰ ĐỊNH DUY TRÌ THAM GIA HỆ THỐNG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI BÊN NHẬN QUYỀN
4.1. Thống kê mẫu nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu định lượng chính thức thực hiện khảo sát 200 nhà
nhận quyền tại Tp.HCM, kết quả thu về được 178 phiếu hợp lệ.
4.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Theo kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ ở mục 3.5.1, có chín
thang đo cần được đánh giá độ tin cậy thang đo cho mô hình nghiên
cứu Các nhân tố tác động đến dự định duy trì tham gia hệ thống
NQTM. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo của các nhân tố cho
thấy có hai biến quan sát bị loại sau khi đánh giá độ tin cậy thang đo
là: PL5 (thang đo thực thi pháp luật NQTM) và Y3 (thang đo dự định
duy trì tham gia hệ thống NQTM). Như vậy, 33 biến quan sát còn lại
đã đáp ứng độ tin cậy thang đo và sẽ được sử dụng trong phần phân
-
Kết quả CFA mô hình đo lường tới hạn: Để kiểm định giá trị
phân biệt của tất cả các khái niệm nghiên cứu trong mô hình
nghiên cứu, các khái niệm nghiên cứu được tự do quan hệ với
nhau trong mô hình tới hạn. Kết quả cho thấy tất cả các thang đo
đều đạt tính đơn hướng, độ tin cậy tổng hợp, phương sai trích, độ
tin cậy Cronbach’s alpha, giá trị nội dung, giá trị hội tụ và giá trị
phân biệt. Vì vậy, các khái niệm này đạt được giá trị phân biệt.
4.5. Kiểm định mô hình nghiên cứu (SEM)
4.5.1.
Kiểm định mô hình nghiên cứu
Kết quả SEM cho thấy mô hình lý thuyết phù hợp với dữ liệu thị
trường: Chi-square/df = 1,275 (< 2), TLI = 0,957 (> 0,9), CFI =
0,961 (> 0,9), RMSEA = 0,039 (< 0,08). Kết quả kiểm định cho thấy,
cả mô hình nghiên cứu lý thuyết và mô hình cấu trúc tuyến tính đều
có cùng bậc tự do, hiện tượng Heywood không xuất hiện trong quá
trình ước lượng mô hình SEM và các sai số chuẩn đều < |2,58|.
Kết quả ước lượng chưa chuẩn hóa của các tham số chính trong
mô hình cho thấy, với độ tin cậy 95%, các mối quan hệ nhân quả này
đều có ý nghĩa thống kê vì có giá trị p < 0,05.
18
Kiểm định ước lượng mô hình nghiên cứu lý thuyết bằng
Bootstrap. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Bootstrap với số
lượng mẫu lặp lại là N = 350. Kết quả ước lượng từ 350 mẫu được
Giả thuyết thực thi pháp luật NQTM có tác động cùng chiều đến
dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền
(H4) được chấp nhận với p = 0,044.
-
Giả thuyết CLMQH Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền có tác
động cùng chiều đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM
của Bên nhận quyền (H5) được chấp nhận với p = 0,008.
4.5.3.
-
Phân tích đa nhóm
Phân tích đa nhóm theo số năm hoạt động: Giá trị khác biệt Chi-
19
bình phương giữa hai mô hình là 2,835 và khác biệt của bậc tự
do là 5. Vì vậy, mức khác biệt này không có ý nghĩa giữa hai mô
hình (p-value = 0,725 >0,05). Do đó mô hình bất biến được
chọn. Điều này có nghĩa là không có sự khác biệt trong sự tác
động giữa các khái niệm trong mô hình theo thời gian hoạt động.
-
Phân tích đa nhóm theo xuất xứ thương hiệu: Giá trị khác biệt
Chi-bình phương của hai mô hình bất biến và khả biến là 11,080
và khác biệt bậc tự do là 5. Mức khác biệt này có ý nghĩa thống
mô hình hóa cấu trúc tuyến tính (SEM). Dữ liệu thu thập được xử lý
bằng phần mềm SPSS 23.0 và phần mềm AMOS 23.0. Cụ thể, dữ
liệu của nghiên cứu định lượng sơ bộ được thu thập bằng bảng câu
hỏi khảo sát 100 nhà nhận quyền tại Tp.HCM (thu về được 95 phiếu
hợp lệ). Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ cho thấy, có 14 biến
quan sát bị loại. Trong đó, thang đo sự tưởng tượng bị loại do sau khi
phân tích EFA, chỉ còn hai biến quan sát – không đủ điều kiện để xây
dựng thang đo cho nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu định lượng
chính thức được thực hiện thông qua khảo sát 200 nhà nhận quyền tại
Tp.HCM (thu về được 178 phiếu hợp lệ). Kết quả phân tích cho thấy,
các thang đo sau khi điều chỉnh đều đạt được độ tin cậy và độ giá trị:
-
Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo cho thấy, chín khái niệm
(hướng ngoại, sự đồng thuận, sự tận tâm, ổn định cảm xúc, thực
thi pháp luật NQTM, sự tin tưởng, sự hài lòng, sự cam kết, dự
định duy trì tham gia hệ thống NQTM) đều đạt độ tin cậy (α đều
lớn hơn 0,70). Trong bước đánh giá này, có hai biến quan sát bị
loại do không tương quan chặt chẽ với các biến quan sát còn lại
trong thang đo. Đó là biến quan sát PL5 (Tôi luôn thể hiện là
người có học vấn, được đào tạo và có kinh nghiệm trong lĩnh vực
NQTM) và Y3 (Mặc dù tôi có thể tìm kiếm hệ thống NQTM
khác, nhưng tôi luôn ưu tiên xem xét hệ thống NQTM hiện tại)
21
thuộc thang đo thực thi pháp luật NQTM và dự định duy trì tham
gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền.
-
định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên nhận quyền, được
chấp nhận với p =0,039. Chen (2011), McDonnell và đtg (2011),
Morrison (1997) đã cho rằng khi Bên nhượng quyền lựa chọn đối
tác phù hợp thì nhiều khả năng Bên nhận quyền có dự định duy
trì tham gia hệ thống NQTM lâu dài. Và kết quả nghiên cứu này
cung cấp thêm một chứng cứ ủng hộ cho kết quả nghiên cứu của
các tác giả trên.
22
-
Giả thuyết H3 - Thực thi pháp luật NQTM có tác động cùng
chiều đến CLMQH Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền, được
chấp nhận với p = 0,004.
-
Giả thuyết H4 - Thực thi pháp luật NQTM có tác động cùng
chiều đến dự định duy trì tham gia hệ thống NQTM của Bên
nhận quyền, được chấp nhận với p = 0,044.
-
Giả thuyết H5 - CLMQH Bên nhượng quyền - Bên nhận quyền
có tác động cùng chiều đến dự định duy trì tham gia hệ thống
NQTM của Bên nhận quyền, được chấp nhận với p = 0,008. Kết
quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Chen
(2011), Ulaga và đtg (2006).
Khi xem xét mức độ tác động của từng yếu tố, CLMQH Bên