VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ LÊ NA
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ RỪNG ĐẶC DỤNG
TỪ THỰC TIỄN VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN,
TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ LÊ NA
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ RỪNG ĐẶC DỤNG
TỪ THỰC TIỄN VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN,
TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Đôn, tỉnh Đắk Lắk .....................................................................................................55
CHƯƠNG 3.ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTBẢO
VỆ RỪNG ĐẶC DỤNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢTHỰC HIỆN TẠI
VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN .............................................................................71
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng ...................................71
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng ............................73
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng tại
Vườn quốc gia Yok Đôn ...........................................................................................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BVMT
: Bảo vệ môi trường
BVPTR
: Bảo vệ và phát triển rừng
FAO
: Food And Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc)
56
bảng
2.1
năng, đơn vị hành chính của VQG Yok Đôn
2.2
Tổng hợp diện tích các phân khu chức năng, đơn vị hành
56
chính của VQG Yok Đôn sau đề nghị cắt trả cho các dự án
và cho địa phương
2.3
Tổng hợp diện tích đất dự kiến chuyển giao giai đoạn 2010-2020
57
2.4
Thống kê số lượng các vụ vi phạm về khai thác động vật, thực
66
vật rừng (theo Báo cáo tình hình vi phạm Luật BVPTR hằng
năm từ 2013-2017 của Hạt kiểm lâm VQG Yok Đôn)
2.5
phân cấp, phân quyền trong quản lý RĐD còn nhiều bất cập; tiêu chí xác lập và quy
định quy hoạch RĐD chưa đầy đủ và không thống nhất; chưa quy định toàn diện,
đồng bộ hệ thống quản lý nhà nước về lâm nghiệp; công tác thanh tra, giám sát thi
hành pháp luật chưa nghiêm, trong khi chế tài xử lý vi phạm pháp luật về BVPTR
còn thiếu và chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm, nên tình trạng phá
rừng, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử
1
dụng rừng và đất lâm nghiệp trái pháp luật còn diễn ra phức tạp ở nhiều địa phương
gây bức xúc trong xã hội và làm suy giảm tài nguyên rừng, nhất là rừng tự nhiên….
Những điều này dẫn đến tình trạng phá rừng, lấn đất RĐD diễn ra ngày càng phổ
biến và gia tăng về mức độ nghiêm trọng gây thiệt hại nặng nề cho toàn xã hội.
Ngày 15 tháng 11 năm 2017, Quốc hội đã thông qua Luật Lâm nghiệp năm
2017, luật bao gồm 12 chương, 108 điều thay thế cho Luật BVPTR năm 2004 và sẽ
có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2019. Luật quy định về quy hoạch lâm
nghiệp, bảo vệ, phát triển rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, thẩm quyền giao
rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, thu hồi rừng, dịch vụ môi
trường rừng, hoạt động tài chính trong lâm nghiệp, khoa học và công nghệ về lâm
nghiệp, quản lý nhà nước về lâm nghiệp. Sựra đời của Luật Lâm nghiệp năm 2017
đã khắc phục được các hạn chế của Luật BVPTR năm 2004, tuy nhiên, hiện nay luật
này chưa có hiệu lực. Mặc khác, trong quản lý, sử dụng và khai thác RĐD, tình
trạng khai thác trái phép động vật rừng, thực vật rừng vẫn diễn ra hàng ngày mà đối
tượng vi phạm chủ yếu là người dân sinh sống bên trong và xung quanh khu RĐD.
Giải quyết được bài toán làm thế nào để vừa có thể bảo vệ RĐD hiệu quả và kết hợp
hài hòa với lợi ích của cộng động dân cư sinh sống bên trong và xung quanh khu
RĐD đang là vấn đề cấp thiết hiện nay trong công tác bảo vệ RĐD nói riêng và tài
nguyên rừng nói chung. Chính vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài ‘‘Pháp luật về bảo vệ
rừng đặc dụng từ thực tiễn Vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk” làm Luận văn
Công Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 03/2006; “Nghiên cứu một số tội
phạm xâm hại môi trường rừng được quy định tại chương XVII- Các tội xâm phạm
môi trường trong Bộ luật hình sự năm 1999”, của Nguyễn Thanh Huyền, Tạp chí
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 6/2008; “Nghiên cứu chính sách thuế
trong phát triển lâm nghiệp”, của Nguyễn Thanh Huyền, Tạp chí Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, tháng 5/2007; “Bàn về tội hủy hoại rừng theo điều 189 Bộ luật
hình sự”, của Nguyễn Văn Dũng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2009; “Vướng mắc
cần giải quyết trong việc áp dụng điều 190 bộ luật hình sự về tội vi phạm các quy
định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm”, của Nguyễn Duy Giảng, Tạp chí
Kiểm sát, số 4/2009; “Hương ước, quy ước trong quản lý bảo vệ rừng và tài nguyên
thiên nhiên”, của Bàn Văn Trung, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề
tháng 6/2010; “Một số khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các quy định về quản lý,
khai thác và bảo vệ rừng”, của Cao Anh Đức, Tạp chí Kiểm sát, số 22/2010; “Về
3
tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tại điều 175 Bộ luật hình sự”,
của Phạm Văn Beo, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2010; “Quyền tài sản của chủ
rừng đôi điều bàn luận”, của Nguyễn Thanh Huyền, Tạp chí Dân chủ và pháp luật,
số 10/2011; “Nghiên cứu một số quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển thực
vật, động vật hoang dã ở Việt Nam”, của Nguyễn Thanh Huyền, Tạp chí Nông
Nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 6/2011; “Hoàn thiện quy chế pháp lý cho cá
nhân nước ngoài thuê rừng, đất rừng tại Việt Nam”, của Nguyễn Thanh Huyền,
Tạp chí Khoa học, (Luật học), số 27/2011; ‘‘Công tác phòng chống vi phạm pháp
luật về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm ở nước ta một số khó khăn, vướng mắc
và giải pháp khắc phục”, của Đặng Thu Hiền, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số
5/2011; “Thực trạng công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực buôn bán động vật hoang dã, quý, hiếm ở nước ta”, của Trần Minh Hưởng,
Tạp chí Kiểm sát, số 7/2012; “Hoàn thiện pháp luật đối với chủ rừng là doanh
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ
rừng đặc dụng và thực tiễn thi hành Vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
Trong chừng mực nhất định, trong luận văn có đề cập một số quy định của
Luật Lâm nghiệp năm 2017, sẽ có hiệu lực từ 1/1/2019.
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Về thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về về bảo vệ rừng đặc dụng, học
viên chủ yếu tìm hiểu tại Vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, trong
luận văn, học viên có đề cập một số tình huống từ các địa phương khác.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của Triết học Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và
Nhà nước về hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ RĐD nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng phương pháp như phương
pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp và
phương pháp thống kê tình hình thực tiễn, áp dụng thực tiễn trong việc thực hiện
pháp luật về bảo vệ RĐD của cơ quan có thẩm quyền tại VQG Yok Đôn. Trên cơ sở
kết quả nghiên cứu, luận văn cũng đánh giá tình hình và từ đó đưa ra một số kiến
5
nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng quy địnhcủa pháp luật
về bảo vệ RĐD tại VQG Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
6. Ý nghĩa lý luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Về ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ khái niệm, căn cứ, mục đích, ý nghĩa của việc
bảo vệ RĐD. Từ đó làm rõ hơn ý nghĩa lý luận về quyền và nghĩa vụ của các chủ
hưởng qua lại lẫn nhau làm nảy sinh ra những hiện tượng mới mà những cây mọc
đơn lẻ không có. Trong quần lạc sinh địa rừng không chỉ có mối quan hệ qua lại
giữa các cây rừng với nhau mà còn có mối quan hệ qua lại giữa chung với đất và
môi trường không khí; rừng có khả năng tự phục hồi”. Phát triển học thuyết này,
V.I. Sucachev (1964) đã cho rằng rừng là một quần lạc sinh địa và “quần lạc sinh
địa rừng là một khoảnh đất bất kỳ có sự đồng nhất về thành phần, cấu trúc và các
đặc điểm của các thành phần tạo nên nó và về mối quan hệ giữa chúng với nhau, có
nghĩa là đồng nhất về thực vật che phủ, về thế giới động vật và vi sinh vật cư trú tại
đó về các điều kiện tiểu khí hậu, thủy văn và đất đai, về các kiểu trao đổi vật chất và
năng lượng giữa các thành phần của nó với nhau và với các hiện tượng tự nhiên
khác”. Có thể hiểu quần lạc sinh địa gồm năm thành phần: khí hậu, đất, quần lạc
thực vật, quần lạc động vật và quần lạc vi sinh vật. Mối quan hệ qua lại giữa khí hậu
và thổ nhưỡng hình thành nên hoàn cảnh sinh thái. Mối quan hệ giữa các thành phần
thực vật, động vật và vi sinh vật tạo nên hoàn cảnh sinh vật. Mỗi hoàn cảnh sinh
thái sẽ có một hoàn cảnh sinh vật nhất định và mối liên hệ giữa hoàn cảnh sinh vật
và hoàn cảnh sinh thái sẽ tạo nên một đơn vị sinh học cơ bản trong giới tự nhiên,
đơn vị này được gọi là quần lạc sinh địa. Và theo các nhà khoa học nghiên cứ theo
quan điểm này, một quần lạc sinh địa chỉ được coi là rừng khi quần lạc thực vật là
7
cây gỗ lớn chiếm ưu thế và chi phối các thành phần khác trong toàn bộ quần lạc
sinh địa đó [22 ,tr. 29-30]. Ngày nay, quan điểm này không còn được sử dụng nhiều
trong các văn bản hay tài liệu nghiên cứu khoa học trên thế giới.
Quan điểm thứ hai, của các nhà khoa học phương Tây, coi rừng là một hệ sinh
thái. A. Tansley là người đầu tiên đề cập đến khái niệm hệ sinh thái vào năm 1935,
“mặc dù các cơ thể sống luôn có xu hướng muốn tách khỏi môi trường sống để
dành được sự chú ý đặc biệt, nhưng thực tế các cơ thể sống không thể tách khỏi môi
trường mà chúng phải cùng với môi trường sống đó hợp thành một thể thống nhất
Ngày nay, rừng trở thành thực thể hết sức quan trọng tới cuộc sống, đến sự tồn
tại của con người, rừng chi phối và tác động tới nhiều môi trường xung quanh như
đất, nước, không khí, các định nghĩa về rừng được định lượng một cách rõ ràng.
Để hướng dẫn đo đạc và công bố độ che phủ rừng mỗi nước, trong Báo cáo
FRA năm 2015, FAO đã định nghĩa rừng như sau: Rừng là một diện tích đất rộng
hơn 0.5 hec-ta với cây cao hơn 5 mét, có tán bao phủ hơn 10 phần trăm, hoặc cây có
thể vươn tới ngưỡng đó trong những điều kiện đặc biệt, không bao gồm đất mà
trong đó, phần lớn thuộc về đất nông nghiệp hay đất thành thị…[16]. Tổ chức gỗ
nhiệt đới quốc tế đưa ra định nghĩa, giống như FAO, được Thang Hooi Chiew
(2006) tiếp nhận như sau: “Đất phải rộng trên 0,5 héc-ta, với chiều cao của các cây
hơn 5m và độ che phủ hơn 10 phần trăm hoặc các cây có khả năng đạt đến ngưỡng
nguyên vị của nó. Điều này không bao gồm đất mà phần lớn đang sử dụng đất đô
thị hoặc nông nghiệp. Các cây có khả năng đạt đến độ cao tối thiểu là 5 mét . Những
diện tích đang khôi phục mà chưa đạt được nhưng hy vọng sẽ đạt độ che phủ 10
phần trăm thì được chấp nhận và bao gồm cả các cây có chiều cao 5
mét…”[33].Như vậy, theo quan điểm chung của các tổ chức quốc tế, để xác định
rừng cần phải căn cứ các yếu tố: đất rừng, cây rừng và độ che phủ của cây rừng, đất
rừng trải dài rộng ít nhất 5 héc-ta, chiều cao tối thiểu của cây rừng là 5 mét và độ
che phủ của rừng là 10 phần trăm diện tích đất rừng.
Trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam, định nghĩa về rừng được đưa ra
lần đầu tiên trong Luật BVPTR năm 1991, “rừng bao gồm rừng tự nhiên và rừng
trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng và những yếu tố tự
nhiên có liên quan đến rừng”[44, Điều 1].Trải qua quá trình phát triển, Luật
BVPTR năm 2004 đã đưa ra khái niệm về rừng hoàn thiện hơn, tiếp cận hài hòa hóa
9
được khái niệm về rừng của Việt Nam với khái niệm về rừng của FAO: “Rừng là
một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng,
Trên cở sở kế thừa những điểm hợp lý của các định nghĩa về rừng trước đây,
đồng thời tiếp thu quan điểm của quốc tế, Luật Lâm nghiệp năm 2017 vừa được
Quốc hội thông qua vào ngày 15 tháng 11 năm 2017 đã xây dựng khái niệm rừng
như sau: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng,
nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính
là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định
theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc
trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên”. Có sự
thay đổi về tiêu chí xác định rừng so với định nghĩa về rừng trong Luật BVPTR
năm 2004, để được coi là rừng thì diện tích tối thiểu phải đạt được là 0.3 héc-ta.Đối
với tiêu chí chiều cao cây rừng được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá,
đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác. Quy định như vậy xuất phát
từ thực tế chiều cao không phải yếu tố chính mà yếu tố chính là độ tàn che, mà độ
tàn che có quan hệ với mật độ của rừng và loài cây để tạo nên sinh cảnh rừng. Thực
tế rừng trồng cây bản địa theo qui định sau 3 năm thống kê là rừng, nhiều rừng
trồng chiều cao chưa đạt 5 mét nhưng đã khép tán tạo sinh cảnh có thể gọi là rừng.
Như vậy, thuật ngữ về rừng đã vận dụng định nghĩa rừng của FAO theo ba tiêu chí:
chiều cao, diện tích, độ tàn che; tuy nhiên, đã có điều chỉnh để phù hợp với điều
kiện Việt Nam [8].
Tóm lại, dù tồn tại nhiều định nghĩa về rừng khác nhau, nhưng mục đích
hướng tới của các cách định nghĩa đều là nhận thức một cách đúng đắn nhất về
rừng, vai trò và tầm quan trọng của rừng, để từ đó có thể tiến hành quản lý và bảo
vệ rừng một cách tối đa.
1.1.1.2. Khái niệm rừng đặc dụng
Rừng được phân loại để có thể bảo vệ một cách hiệu quả, tùy vào các tiêu chí
khác nhau, rừng được phân thành nhiều loại khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc của
rừng, có thể phân thành rừng tự nhiên và rừng trồng. Căn cứ vào mục đích sử dụng,
rừng được phân thành các loại sau: rừng phòng hộ, RĐD và rừng sản xuất. Trong
phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ nêu và phân tích khái niệm của RĐD.
công nhận; khu rừng có giá trị cao về cảnh quan môi trường, trong đó có danh lam
thắng cảnh cần được bảo vệ và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
khu rừng do cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ theo phong tục tập quán, hoặc theo
12
truyền thống và tín ngưỡng có giá trị về văn hóa, tín ngưỡng, giáo dục, du lịch sinh
thái đặc sắc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
Đối với Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học: Có các hệ sinh thái đáp
ứng yêu cầu nghiên cứu, thực nghiệm khoa học của các tổ chức khoa học, đào tạo
có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, thực nghiệm khoa học lâm nghiệm theo quy
định của pháp luật; có quy mô diện tích phù hợp với mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu,
thực nghiệm khoa học, phát triển công nghệ, đào tạo lâm nghiệp lâu dài.
Đối với VQG đáp ứng ít nhất một trong ba tiêu chí sau đây: Có ít nhất 01 mẫu
chuẩn hệ sinh thái đặc trưng của một vùng sinh thái hoặc của quốc gia, quốc tế; có
diện tích liền vùng tối thiểu trên 10.000 ha, trong đó ít nhất 70% diện tích là các hệ
sinh thái tự nhiên; diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư phải nhỏ hơn 5%. Có ít
nhất 01 loài sinh vật đặc hữu của Việt Nam hoặc có thể bảo tồn sinh cảnh trên 05
loài sinh vật nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật; có diện tích liền vùng
tối thiểu trên 7.000 ha, trong đó ít nhất 70% diện tích là các hệ sinh thái tự nhiên;
diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư phải nhỏ hơn 5%. Có giá trị đặc biệt quan
trọng về bảo vệ cảnh quan, nghiên cứu thực nghiệm khoa học của quốc gia được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt [15, Điều 5].
1.1.1.3. Khái niệm bảo vệ rừng đặc dụng:
Hiểu theo nghĩa thông thường, bảo vệ là chống lại mọi sự xâm phạm để giữ
cho luôn luôn được nguyên vẹn[67].
Bảo vệ rừng đặc dụng được hiểu theo nghĩa hẹp là hành động chống lại mọi
sự xâm phạm, giữ cho rừng đặc dụng được nguyên vẹn, không bị phá hoại. Theo
cách hiểu này, việc bảo vệ đồng nghĩa với bảo tồn, hành động bảo vệ rừng chỉ bao
mặt đất và nuôi dưỡng nguồn nước ở dòng chảy khe, suối, làm sạch nguồn nước và
cải thiện chất lượng nước [22, tr.106]. Vai trò này của rừng phụ thuộc nhiều vào
loại rừng, so với rừng trồng chỉ có ít loại thực vật và cây rừng nghèo nàn, rừng tự
nhiên với hệ thống cây rừng đa dạng về độ tuổi, độ dày và có lớp thảm tươi, thảm
mục phong phú thực hiện vai trò giữ nước và chống xói mòn đất hiệu quả hơn rất
nhiều. Thông qua việc điều tiết, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn
rừng giúp giảm lũ lụt, xói mòn, rửa trôi đất, bảo vệ sản xuất và các công trình hạ
tầng cơ sở; giúp hạn chế hiện tượng sa mạc hoá cục bộ hay trên diện rộng.
14
Là nơi cung cấp gỗ và các sản phẩm khác ngoài gỗ phục vụ cho đời sống của
con người. Ngay từ thuở xa xưa, con người đã biết dựa vào rừng để sinh tồn và phát
triển, rừng cung cấp cây gỗ để dựng nhà, củi để đốt, các loại động thực vật là thức
ăn của con người. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu khai thác, sử
dụng rừng ngày càng cao, ngoài các giá trị trực tiếp như cây gỗ, các lâm sản
khác…rừng, nhất là RĐD, còn được khai thác dưới hình du lịch sinh thái, tổ chức
các hoạt động nghiên cứu khoa học, phục vụ đời sống của con người.
Một vai trò không thể không nói đến của rừng là nơi bảo tồn hệ sinh thái rừng
tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng mà RĐD đóng vai trò chính. Không có một công
nghệ hay phòng thí nghiệm nào trên thế giới có thể lưu giữ và bảo tồn các nguồn
gen động, thực vật đồ sồ như rừng [22, tr.26].RĐD được thành lập với mục đích
chính là bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng, nguồn gen sinh vật
rừng.Đối với VQG và KBTTN phải được xác định rõ phân khu bảo vệ nghiêm
ngặt, phân khu phục hồi sinh thái, phân khu dịch vụ - hành chính và vùng
đệm[45, Đ.49]. Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là nơi bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh
thái rừng và động vật, thực vật rừng trong phân khu; phân khu phục hồi sinh thái
đóng vai trò tái tạo lại rừng tự nhiên trên diện tích đã bị phá hoại để phục hồi lại hệ
sinh thái rừng và giảm bớt tác động cảu con người vào phân khu bảo vệ nghiêm
1.2. Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng
1.2.1. Khái niệm của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng
Pháp luật bảo vệ RĐD là một lĩnh vực pháp luật gồm tổng hợp các quy phạm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong họat động quản lý và sử dụng
RĐD; bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng; xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp
đối với hành vi xâm hại RĐD. Các quy phạm này được chứa đựng trong các văn
bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như
Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân…
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật bảo vệ RĐD là các quan hệ xã hội phát
sinh trực tiếp trong họat động quản lý và sử dụng RĐD; bảo vệ thực vật rừng, động
vật rừng và xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp đối với hành vi xâm hại RĐD.
Các quan hệ này có thể được chia thành hai nhóm như sau:
- Nhóm quan hệ thứ nhất:Nhóm quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân với nhau
trong họat động sử dụng RĐD; bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng.
16
- Nhóm quan hệ thứ hai: Nhóm quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau
và giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân trong họat động quản lý và sử dụng
RĐD; bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng và xử lý vi phạm và giải quyết tranh
chấp đối với hành vi xâm hại RĐD
Trên cơ sở đối tượng đều chỉnh như đã nói ở trên, pháp luật bảo vệ RĐD sử
dụng hai phuơng pháp điều chỉnh sau:
- Phương pháp bình đẳng - thỏa thuận (dùng để điều chỉnh nhóm quan hệ thứ
nhất).
- Phương pháp quyền uy (dùng để điều chỉnh nhóm quan hệ thứ hai).
1.2.2. Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng:
Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật bảo vệ RĐDlà những nguyên lý, tư tưởng
chỉ đạo quán triệt và xuyên suốt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp bảo vệ RĐD,
có thẩm quyền hoặc chủ rừng về cháy rừng, sinh vật gây hại rừng và hành vi vi phạm
quy định về quản lý, bảo vệ rừng; chấp hành sự huy động nhân lực, phương tiện của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền khi xảy ra cháy rừng”[45, Điều 36].
Thứ ba, việc bảo vệ RĐD phải đảm bảo phát triển bền vững, đảm bảo các mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh. Nguyên tắc phát
triển bền vững được quy định tại Luật BVMT năm 2014: “Phát triển bền vững là
phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ,
hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi
trường”[48, Điều 3]. Nói cách khác, phát triển bền vững chính là phát triển trên cơ
sở duy trì được mục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển. Muốn vậy việc
bảo vệ rừng đăc dụng cần phải có sự tiếp cận mang tính tổng hợp và bảo đảm sự kết
hợp hài hòa giữa các mục tiêu: kinh tế -xã hội-môi trường. Hoạt động bảo vệ không
chỉ đơn thuần là bảo tồn mà cần kết hợp với việc quản lý và khai thác RĐD một
cách hợp lý. Ngoài việc đảm bảo phát triển bền vững, bảo vệ RĐD còn phải đảm
bảo quốc phòng và an ninh, đây cũng là nguyên tắc chung của hoạt động bảo vệ và
phát triển tài nguyên rừng
Thứ tư, bảo vệ RĐD phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của nhà nước và tổ
chức, cá nhân. Việc bảo vệ RĐD phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước
với chủ rừng, chủ thể được giao quản lý RĐD, lợi ích giữa Nhà nước với các cộng
18
đồng, cá nhân sinh sống trong vùng lõi và vùng đệm của RĐD, với những chủ thể
sống phụ thuộc vào rừng. Để nguyên tắc này được thực hiện hiệu quả, cần lưu ý
việc thực thi pháp luật bảo vệ RĐD trong quá trình xác lập, thành lập các khu RĐD,
hoạt động khai thác và sử dụng RĐD. Khi các khu RĐD được thành lập, sẽ gây ảnh
hưởng tới đời sống của các cộng đồng dân cư sinh sống lâu đời ở vùng đó, các quy
định nghiêm ngặt nhằm bảo vệ RĐD đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh