Quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ DUY THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ DUY THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

:

838.01.02

PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NAM ..............................................................................................................25
2.1. Điều kiện tự nhiên và lịch sử của tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam .................25
2.2. Khái quát về văn hóa tộc người Cơtu .....................................................................28
2.3. Tình hình quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam .............................................................................................39
2.4. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển văn hoá tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ..........................................58
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC
NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM ........................................64
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ................................................................64
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển
văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ..................................................65
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ................................................................68
KẾT LUẬN ..................................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng sinh hoạt tinh thần của con người trong xã hội, phản ánh
trình độ phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Đất nước ta đang trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng cao. Bên cạnh
những thay đổi, chuyển biến về mặt kinh tế nói chung, xã hội đã đặt ra cho lĩnh vực
văn hóa nhiều vấn đề mới. Đặc biệt là những vấn đề nảy sinh do sự thay đổi của cơ
cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sự biến đổi của cơ chế quản lý. Bên cạnh đó còn có

hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến đề tài, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều khía cạnh
khác nhau. Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu như:
"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia,
1994; "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh, 2001; "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học,
2002; "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên); "Bản sắc văn hóa dân tộc", Hồ Bá Thâm, Nxb
Văn hóa Thông tin, 2003.
Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có:
“Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội, 1997; "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Ngô Văn Lệ, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1998; Đề tài: "Văn hóa truyền thống của các dân tộc Jrai và Bahnar
ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ Triết học của Lê
Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội; "Văn hóa truyền thống các
dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay", Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ
thuật, số 7/2000; Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu
số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn Hòa...
Nghiên cứu về văn hóa dân tộc Cơtu, cũng có nhiều công trình với nhiều tác
phẩm, dẫn liệu mà chủ yếu là điều tra, truy tìm và giới thiệu những giá trị văn hóa ở
dạng vật thể, phi vật thể, trong đó tiêu biểu có:
Trong cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về văn hóa dân tộc Cơtu là “Tìm hiểu
2


văn hóa Ka Tu”, Nxb Thuận Hóa, năm 2002, tác giả Tạ Đức đã nêu những vấn đề và
cách lý giải những khía cạnh đời sống văn hóa của dân tộc Cơtu, qua đó người đọc có
thể tiếp cận những giá trị và các tập tục của người Cơtu ở Quảng Nam.

pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc
người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng và các dân tộc khác trên cả nước
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên quan đến
quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa ở Việt Nam.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển
văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, chỉ rõ những ưu điểm,
hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó trong quản lý nhà nước về
bảo tồn và phát triển văn tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
- Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam
nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển văn hóa, thực trạng bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam và tìm ra phương hướng, các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu là một vấn đề có nội dung rất rộng, trong khuôn khổ của một
luận văn cao học, học viên chỉ đề cập và nghiên cứu một cách khái quát những vấn đề
cơ bản của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh đó, học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để giải



CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và
phát triển văn hóa tộc người Cơtu
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn
hóa tộc người Cơtu
Để đưa ra được khái niệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu thì cần phải tìm hiểu một số thuật ngữ sau:
Văn hóa là gì? Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách
hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật
như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Các "Trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi
chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: Văn hóa là cách sống bao
gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận...
Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người, trong quá trình phát
triển, tác động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí
thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, bản tính
con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng sáng tạo của con
người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có
con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của mình.
Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã
hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó, đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội
mà các cá thể là thành viên.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu văn hóa như sau: Văn hóa là tổng thể
những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách
của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và

khác. Bao gồm: Tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn,
truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ
công, truyền thống tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục
truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác.
7


Văn hóa phi vật thể của tộc người Cơtu gồm những tri thức về mối quan hệ của
người Cơtu với môi trường tự nhiên và cuộc sống như kinh nghiệm về mùa vụ, sức
khỏe, ẩm thực; những sáng tạo trong văn học truyền khẩu dân gian như truyện cổ tích,
ca dao, dân ca, dân vũ; nghệ thuật tạo hình như kiến trúc nhà sàn, điêu khắc, chạm trổ
hoa văn; trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực; tiếng nói, chữ viết Cơtu, lễ hội…
Tóm lại, văn hóa của tộc người Cơtu gồm những giá trị văn hóa vật thể và văn
hóa phi vật thể rất độc đáo, phong phú, đa dạng và tinh tế đã cùng với giá trị văn hóa
của các dân tộc anh em khác tạo nên nền văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Tộc người được hiểu như thế nào? Hiện nay, khái niệm dân tộc được sử dụng
trong các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật hoặc trên phương tiện thông tin đại
chúng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau:
Theo nghĩa thứ nhất, “dân tộc” được hiểu là “tộc người”. Với nghĩa này, dân tộc
là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng người có các đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, văn
hoá và ý thức tự giác về cộng đồng có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch
sử. Ví dụ: Dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Ba Na, dân tộc Chăm, dân tộc Cơtu...
Hiểu theo nghĩa này, kết cấu dân cư của một quốc gia có thể bao gồm nhiều dân tộc
(tộc người) khác nhau, trong đó có những dân tộc chiếm đa số trong thành phần dân cư
và có những dân tộc thiểu số. Trong quá trình phát triển của mình, trong bản thân mỗi
dân tộc có thể có sự phân chia thành các nhóm người có những đặc điểm khác nhau về
nơi cư trú, văn hoá, lối sống, phong tục tập quán, nhưng đều được coi là cùng một dân
tộc, bởi có chung 3 điểm đặc trưng của một dân tộc như nói trên đây. Ví dụ: dân tộc
Dao bao gồm nhiều nhóm người, như các nhóm Dao đỏ, Dao tiền, Dao Tuyển, Dao
quần chẹt, Dao Thanh phán, Dao Thanh y, Dao quần trắng.

địa phương của Việt Nam có ít nhất có hai dân tộc cùng trú cư. Vì vậy cần thiết phải
có sự quản lý, điều chỉnh của Nhà nước để xây dựng khối đại đoàn kết trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, cùng hướng các dân tộc phát triển và ra sức phấn đấu vì
mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh. Dân
tộc là một bộ phận cấu thành của Quốc gia, là một phần không thể tách rời khỏi Quốc gia.
Chính vì vậy mọi sự biến động trên tất cả các lĩnh vực của dân tộc đều sẽ trực tiếp tác
động, ảnh hưởng đến Quốc gia, cho nên cần thiết phải có sự tác động của quản lý nhà
nước để điều chỉnh, điều tiết tới mọi quá trình kinh tế - xã hội của các dân tộc, hướng các
quá trình kinh tế - xã hội đó phát triển theo định hướng, theo mục tiêu chung của đất
nước, mặt khác nếu không có quản lý nhà nước thì mọi vấn đề trong đời sống kinh tế - xã
9


hội của các dân tộc không thể có sự phát triển bền vững.
Ở nước ta, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống chính là vùng đang tồn
tại nhiều bất cập và hạn chế nhất trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Chính vì thế, cần phải có sự tác động của quản lý Nhà nước với những công cụ,
phương pháp và tiềm lực của mình để từng bước giải quyết những hạn chế khó khăn,
đưa đồng bào các dân tộc thiểu số hoà mình vào dòng chảy chung của Quốc gia, của
thời đại. Qua những phân tích trên ta thấy rằng, quản lý Nhà nước về dân tộc là nội
dung cơ bản và là tất yếu khách quan của quản lý Nhà nước.
* Các quan điểm về bảo tồn và phát triển
- Quan điểm về bảo tồn:
+ Bảo tồn nguyên vẹn: Những người theo quan điểm này cho rằng, những sản
phẩm của quá khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có để tránh tình trạng thế
hệ hiện tại làm méo mó, biến dạng di sản. Mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hoá
- xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu biết một
cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp. Không những thế,
những tác động của ngày hôm nay sẽ tạo nên những lớp văn hoá khác không trùng
nghĩa với lớp văn hoá mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế có thể làm

- Quan điểm về phát triển: Xung quanh hoạt động phát triển di sản văn hoá vật
thể và phi vật thể cũng đặt ra nhiều vấn đề, song điều quan trọng hơn cả đối với việc
phát huy những di sản văn hoá là làm sao khơi dậy ý thức của cộng đồng, niềm tự hào
của cộng đồng về di sản văn hóa để di sản ấy sống trong cộng đồng như bản chất của
nó. Trong công tác phát triển, vấn đề đặt ra là tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng,
nhất là thế hệ trẻ những hiểu biết về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể cũng như
những giá trị văn hoá của nó.
Từ những quan điểm trên, có thể rút ra khái niệm quản lý nhà nước về bảo tồn
và phát triển văn hóa tộc người Cơtu như sau: Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển văn hóa tộc người Cơtu là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh các hoạt
động về văn hóa của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật đối với tộc người Cơtu, để
những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của
Nhà nước.
* Đặc điểm của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người
Cơtu
Thứ nhất, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là
11


hoạt động mang quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước trong quản lý nhà nước về
bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có
thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó
phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý nhà nước
đối với các hoạt động văn hóa của tộc người Cơtu. Bằng việc ban hành văn bản, chủ
thể quản lý nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách
pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng
quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực
nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện
trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực
tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới

Thứ năm, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là
hoạt động mang tính liên tục. Khác với hoạt động lập pháp và tư pháp, quản lý nhà
nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu luôn cần có tính liên tục, kịp
thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội tộc người
Cơtu.
1.1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc
người Cơtu
Cùng với việc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước theo đường lối “Nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc”,
công tác quản lý nhà nước về dân tộc nói chung và tộc người Cơtu nói riêng ngày càng
trở thành một lĩnh vực hoạt động quan trọng của bộ máy nhà nước. Vai trò quan trọng
của công tác quản lý nhà nước về dân tộc thể hiện ở những điểm chủ yếu dưới đây:
Thứ nhất, vấn đề dân tộc là một nội dung trọng yếu trong đường lối cách mạng
của Đảng ta nhằm giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân, cội nguồn sức mạnh cho thắng
lợi của sự nghiệp cách mạng. Chính sách dân tộc của Đảng ta luôn nhất quán, đúng
đắn và sáng tạo, phù hợp với thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta. Tuy nhiên, để những
nội dung đúng đắn và sáng tạo của chính sách dân tộc đi vào cuộc sống thì cần có sự
tổ chức thực hiện một cách triệt để các chính sách bằng hoạt động quản lý, điều hành
của các cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc.
Thứ hai, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, yêu cầu cấp thiết đặt ra là
cần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển
kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục... của các dân tộc hiện nay còn đang ở trong tình
13


trạng kém phát triển. Để thực hiện được mục tiêu cấp thiết này, Nhà nước ta đang nỗ
lực đầu tư cho khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó đặc biệt quan tâm đầu tư
cho đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn.
Các chiến lược, chương trình, kế hoạch hoạt động hướng đến đồng bào dân tộc thiểu
số được thực hiện thông qua hoạt động quản lý nhà nước về dân tộc.

trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó
khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành
phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng
chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các
dân tộc thiểu số;
Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương
đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc;
Thứ tư, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân
tộc thiểu số;
Thứ năm, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính
sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công
tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết
khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc theo quy định của pháp luật;
Thứ sáu, tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ
động tham gia vào quá trình thực hiện. Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các
dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tổ chức tốt các phong trào tương
trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. Tổ chức hoạt động kết nghĩa
giữa các địa phương nhằm tương trợ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo,
giải quyết khó khăn trong cuộc sống;
Thứ bảy, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc
thiểu số trong hệ thống chính trị và cán bộ trong hệ thống cơ quan làm công tác dân
tộc;
Thứ tám, xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc;
Thứ chín, thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội vùng dân tộc thiểu số;
Thứ mười, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc,
chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác
15


Việc ban hành các văn bản pháp luật trước hết phải trên cơ sở lý luận của chủ
16


nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phải xuất phát từ thực tiễn đời sống quốc
tế về dân tộc. Những đặc điểm, xu hướng vận động của các dân tộc Việt Nam không
thể tách khỏi những đặc điểm, xu hướng vận động chung của cộng đồng Quốc Tế. Sau
đó, từ thực tiễn trong nước, cần có những văn bản pháp luật cụ thể để quản lý Nhà
nước đối với vấn đề dân tộc, mà cụ thể là đối với tộc người Cơtu, trong phạm vi luận
văn này tập trung một số vấn đề sau:
- Có những văn bản pháp quy cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội đồng bào
các dân tộc thiểu số, trong đó có tộc người Cơtu.
- Xây dựng các văn bản pháp quy cho từng dân tộc mà đặc biệt là dân tộc Cơtu
hoặc từng vùng có các dân tộc sống tập trung theo lãnh thổ.
Hiện nay, chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp và Ủy ban Dân tộc phối hợp đưa
chương trình giáo dục pháp luật đến các vùng dân tộc thiểu số, làm cho đồng bào các
dân tộc biết được, hiểu được các chính sách pháp luật. Trên cơ sở đó Nhà nước tiến
hành chủ trương “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”, thay thế dần với
cách sống kiểu xã hội truyền thống trong một số vùng đồng bào.
Quản lý bằng tổ chức bộ máy: Cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương được
giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc trong phạm vi cả nước
là Ủy ban Dân tộc. Đối với các địa phương mà có đủ số lượng người dân tộc thiểu số
theo quy định của pháp luật thì được phép thành lập cơ quan quản lý hành chính Nhà
nước ở địa phương làm công tác dân tộc.
Cơ quan làm công tác quản lý dân tộc ở Trung ương: Hiện nay theo quy định
tại Nghị định 13/2017/NĐ-CP ngày 10/02/2017 của Chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc thì Uỷ ban Dân tộc là cơ
quan ngang Bộ của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác dân
tộc trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý
của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật.

+ Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh quốc
phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh
sống và thường xuyên qua lại với nước láng giềng.
Đối với những huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đủ
các tiêu chí nêu trên thì tổ chức các công tác dân tộc thực hiện theo mô hình sau:
+ Thành lập phòng quản lý Nhà nước đa ngành đa lĩnh vực trong đó công tác
dân tộc và công tác chuyên môn khác có liên quan nhiều tới công tác dân tộc trực
18


thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nhưng phải đảm bảo số phòng ở cấp huyện theo quy
định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh.
+ Bố trí cán bộ chuyên trách công tác dân tộc trong văn phòng Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân hoặc phòng chuyên môn khác hiện có của Ủy ban nhân dân
cấp huyện.
- Mô hình tổ chức của cơ quan làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp
xã: Đối với các xã có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn không thành lập
tổ chức riêng, nhưng phân công một ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã kiêm nhiệm theo
dõi, tổ chức thực hiện công tác dân tộc.
Quản lý bằng đầu tư tài chính: Trong quản lý Nhà nước tài chính là một nội
dung mà Nhà nước cần phải quản lý, ngược lại Nhà nước cũng phải sử dụng tài chính
làm công cụ để quản lý các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Trong chính sách, chương trình, dự án bao hàm nội dung của Nhà nước đã sử
dụng tài chính cho sự phát triển của miền núi và đồng bào các dân tộc. Ngoài ra sự
quan tâm của chính phủ đối với miền núi và các dân tộc còn thể hiện ở việc đầu tư cho
xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư cho phát triển văn hoá , giáo dục, y tế, bảo vệ môi
trường... ở vùng miền núi, vùng sâu vùng xa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
Tài chính vừa là nguồn lực đồng thời cũng là công cụ của quản lý Nhà nước. Vì

1.4.1. Yếu tố pháp luật
Vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống
chính là thông qua pháp luật đường lối, chủ trương của Đảng về văn hóa được nghiêm
túc thực hiện trong toàn xã hội; đồng thời pháp luật xác lập cơ sở pháp lý cho các chủ
thể tham gia giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa và chống lại những hành vi vi phạm
pháp luật về vấn đề trên nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Có thể khái quát vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc trên những phương diện sau:
Thứ nhất, pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa truyền thống và làm cho chủ trương, đường lối trở thành ý
chí và mục tiêu của toàn xã hội.
Thứ hai, pháp luật tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan quản lý nhà
20


nước, tổ chức và cá nhân giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa.
Thứ ba, pháp luật là công cụ hữu hiệu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
truyền thống.
Thứ tư, pháp luật có vai trò giáo dục ý thức con người trong việc giữ gìn, phát
huy bản sắc văn hóa truyền thống.
1.4.2. Bộ máy quản lý và nguồn nhân lực
Bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa là một chỉnh thể các bộ phận trong cơ cấu
tổ chức quyền lực nhà nước, có chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau, có quan
hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau được bố trí thành cấp và khâu để thực hiện chức
năng nhất định của quản lý nhà nước về kinh tế nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra. Qua
đây, có thể thấy bộ máy quản lý có ảnh hưởng rất quan trọng đến hoạt động quản lý
nhà nước về văn hóa.
Thứ nhất, bộ máy quản lý quyết định “tính hiệu quả” của hoạt động quản lý nhà
nước về văn hóa. Nếu xây dựng được một bộ máy phù hợp thì công tác quản lý sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status