BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VĂN ĐẠO
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ - CÔNG CHỨC
(TỪ THỰC TIỄN TỈNH HƯNG YÊN)
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Chuyên ngành : Quản lý hành chính công
Mã số
: 60.34.82
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Kiên Cường
Hà Nội – 2007
1
MỤC LỤC
Phần
Nội dung
CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
đoạn hiện nay
Những quan điểm của Đảng, Nhà nước và cơ sở pháp lý của việc 19
quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-
1.2.1.
công chức
Quan điểm của Đảng và nhà nước về việc nâng cao hiệu quả quản lý 19
1.2.2.
nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức
Công tác quy hoạch kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức
23
1.2.3.
Nhà nước
Các quyết định liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-
25
1.2.4
1.2.5.
1.3.
công chức
Hệ thống các mục tiêu về đào tạo cán bộ-công chức
Hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC ĐÀO
40
43
1.4.1.
1.4.2.
CHƯƠNG II
TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ-CÔNG CHỨC TẠI TỈNH HƯNG
YÊN TỪ KHI TÁI LẬP ĐẾN NAY.
2
2.1.
Sự hình thành và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh
44
2.2
Hưng yên từ khi tái lập
Thực trạng về cơ cấu tổ chức hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán
59
bộ-công chức và công tác quản lý đối với công tác đào tạo, bồi
2.2.1
76
2.3.3.
bồi dưỡng cán bộ-công chức
Về chính sách đầu tư của tỉnh cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
79
2.4.
2.4.1.
2.4.2.
bộ-công chức
Một số vấn đề rút ra từ phân tích thực trạng
Về công tác quy hoạch phát triển hệ thống
Về công tác đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công
81
81
82
2.4.3.
2.4.4.
chức (nhân lực, tài lực)
Về hỗ trợ kinh phí cho cán bộ - công chức đi học
Về thực hiện cơ chế quản lý và hiệu quả của đào tạo bồi dưỡng cán
tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức
Xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ-công chức để tiến hành đào
97
3.2.3.
tạo, bồi dưỡng theo quy hoạch
Kiện toàn hệ thống đào tạo, bồi dưỡng ở cấp tỉnh, ngành và huyện
98
3
3.2.4.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán
99
3.2.5.
3.2.6.
bộ-công chức
Chính sách ưu đãi đối với giảng viên
Tiêu chuẩn hóa về trình độ đối với việc bổ nhiệm đề bạt cán bộ vào
101
tháng
Tác giả
Nguyễn Văn Đạo
5
năm
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Trong công cuộc xây dựng nền kinh tế đất nước công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập
với các nước trên thế giới, đòi hỏi về đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất,
năng lực, trí tuệ và tay nghề cao là một vấn đề hết sức quan trọng trong toàn xã
hội. Chính vì vậy; Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác đào tạo cán bộ,
xây dựng một đội ngũ cán bộ-công chức về cơ bản đã đáp ứng với các yêu cầu
và nhiệm vụ đặt ra trong mọi giai đoạn cách mạng. Tuy nhiên trong quá trình
chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế đã bộc lộ đội ngũ cán bộ còn nhiều yếu kém và
hạn chế về năng lực và trình độ quản lý nhà nước về đào tạo bồi dưỡng cán bộcông chức, chưa ngang tầm với nhiệm vụ mới, như đại hội IX của Đảng nhận
định: “Một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều yếu kém,
bất cập về trình độ chuyên môn và năng lực điều hành công việc, chưa tương
xứng với cương vị và trách nhiệm được giao; một số không ít cán bộ thoái hóa
về phẩm chất, chạy theo sự cám dỗ vật chất, sống thực dụng, cửa quyền, hối lộ,
sách nhiễu, tham nhũng,…ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và Nhà nước,
nhân dân chê trách, gây ảnh hưởng cho sự phát triển đất nước ” [22,Tr.258].
Công tác đào tạo, bồi dưỡng còn thể hiện ở nhiều thiếu sót mà chúng ta cần phải
giải quyết, đó là việc chưa hoàn thiện, đồng bộ trong công tác quản lý nhà nước
Một trong những yêu cầu cơ bản đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ-công chức là phải chú trọng đến công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ-công chức. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Các giải pháp
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công
chức từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Từ những thực trạng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức
của Tỉnh. Để đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ-công chức của Tỉnh; tìm
ra những nguyên nhân cản trở và làm hạn chế công tác đào tạo bồi dưỡng cán
bộ-công chức tỉnh Hưng Yên.
3. Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu.
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ-công chức nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
7
Đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức
Tỉnh, tìm cách tháo gỡ những vướng mắc, nguyên nhân tồn tại còn yếu kém, đưa
ra biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác
đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức trong thời gian tới.
Đề xuất những kiến nghị lên cơ quan có thẩm quyền khắc phục.
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức tại tỉnh Hưng Yên và nêu ra các giải
pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực của công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ-công chức nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu: Các cơ quan quản lý nhà nước về công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ-công chức từ trung ương đến địa phương. Mối quan hệ trực
tiếp giữa các cơ quan hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; các chủ trương;
chính sách trong phạm vi nghiên cứu.
Chương III. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức tại tỉnh Hưng Yên.
9
CHƯƠNG I
NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ - CÔNG CHỨC.
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CÁN BỘ-CÔNG CHỨC, ĐÀO TẠO BỒI
DƯỠNG CÁN BỘ-CÔNG CHỨC VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO,
BỒI DƯỠNG CÁN BỘ-CÔNG CHỨC.
1.1.1. Quan niệm về cán bộ công chức và công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ-công chức.
1.1.1.1. Quan niệm về cán bộ công chức.
- Một số quan niệm về công chức, viên chức.
Công chức, viên chức là một phạm trù mang tính lịch sử. Để trả lời cán bộ
công chức là ai? Nó có vai trò như thế nào trong lịch sử hình thành, tồn tại và
phát triển của các nước? Đây là vấn đề có nhiều quan niệm trong các xã hội và
chế độ kinh tế khác nhau, mà nội dung của nó phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của
từng giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia. Do đó, khái nhiệm công chức ở mỗi
nước cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có nước chỉ giới hạn công chức trong
phạm vi quản lý nhà nước, thực thi pháp luật bộ máy hành chính; cũng có nước
quan niệm công chức bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan sự
nghiệp thực hiện dịch vụ công. Xác định ai là công chức thì các nước đều có
chung nhận thức: “Công chức là nhân viên làm việc nhà nước được bổ nhiệm
gánh vác công việc chính phủ giao, không thông qua thủ tục bầu cử”.
Như vậy, công chức dùng để chỉ một nhóm người có tính chất đặc biệt
theo quy định của pháp luật. Tùy theo quy định của các nước mà khái niệm công
chức rộng hay hẹp.
chính phủ để điều hành mọi hoạt động của đất nước. Chính vì vậy, đây là một
vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Do đó thuật ngữ công chức
được thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử nhất định. Sau Cách mạng tháng 8
thành công, ngày 20 tháng 05 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc
lệnh số 76/SL về thực hiện “Quy chế công chức Việt Nam”. Bản sắc lệnh chỉ rõ:
Quy chế công chức định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức cùng với thể lệ về
việc tổ chức quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc. Bản quy
chế cũng nên lên định nghĩa về công chức đó là: “Những công dân Việt Nam
được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các
11
cơ quan chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này,
trừ những trường hợp đặc biệt do chính phủ định”. Đây là văn bản pháp lý đầu
tiên của nước ta về công chức. Căn cứ vào định nghĩa cho thấy công chức chủ
yếu là những người làm việc trong bộ máy nhà nước ở Trung ương.
Trong xã hội nói chung, khái niệm về công chức không rõ ràng. Trong
cuốn từ điển tiếng việt, xuất bản năm 1977 đưa ra định nghĩa rất chung về cong
chức: “công chức là người làm việc trong các cơ quan nhà nước”.
Tất cả những người tuyển dụng biên chế làm việc trong cơ quan, nhà máy
công trường, xí nghiệp đều được gọi chung là cán bộ, công nhân viên nhà nước
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, từ giữa năm 1993,
công việc xây dựng dự án pháp lệnh về chế độ công chức chưa được tiến hành
khẩn trương. Bộ chính trị Trung ương Đảng đã có ý kiến chỉ đạo về dự án Pháp
lệnh công chức để xác định công chức Việt Nam gồm những ai? Họ phải có đủ
các yếu tố nào?
Tiếp thu tinh thần chỉ đạo nói trên, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông
qua Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998, gồm 07 chương,
48 điều, ngày 09/03/1998 chủ tịch nước đã ký lệnh số: 02/SL-CTN công bố
pháp lệnh cán bộ, công chức. Qua quá trình thực hiện, công tác quản lý cán bộ,
việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ
sỹ quan chuyên nghiệp;
e. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trường
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy;
người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn.
g. Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân xã.
h. Thẩm phán tòa án nhân dân, kiểm soát viên Viện kiểm soát nhân dân.
2. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g, h khoản 1 điều
này được lương hưởng từ ngân sách nhà nước, cán bộ, công chức quy dịnh tại
khoản d khoản 1 điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các
nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật [53].
Như vậy: Thứ nhất: để trở thành cán bộ, công chức Việt Nam, trước hết là
công dân Việt Nam. Đây là điểm khác biệt so với nhiều nước trên thế giới.
13
Thứ hai: Cán bộ, công chức phải nằm trong biên chế, tức là tuyển dụng,
bổ nhiệm và làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị-xã hội; trong các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân, công
an nhân dân mà không phải là các đối tượng chuyên nghiệp.
Thứ ba: Cán bộ, công chức được hưởng lương do ngân sách nhà nước
cấp.
Như vậy, những quy định về cán bộ, công chức nhà nước của pháp lệnh
cán bộ, công chức tháng 02/1998 phù hợp với điều kiện lịch sử hình thành đội
ngũ cán bộ công chức Việt Nam, khẳng định quan điểm và nhận thức mới của
Đảng và nhà nước về đội ngũ cán bộ-công chức nhà nước trong giai đoạn hiện
nay.
Năm 2003 Pháp lệnh cán bộ-công chức được sửa đổi bổ sung. Như vậy so
hành công việc, là những người ra các quyết định quản lý tổ chức điều hành
những người dưới quyền thực hiện công việc; công chức lãnh đạo được giao
những thẩm quyền nhất định, thẩm quyền đó gắn với chức vụ mà người lãnh đạo
đảm nhiệm. Tùy theo tính chất công việc ở các vị trí khác nhau mà phân công ra
công chức lãnh đạo ở các cấp khác nhau.
- Các nhân viên hành chính là những người thừa hành nhiệm vụ được
công chức lãnh đạo giao phó, họ là những người làm công tác phục vụ trong bộ
máy nhà nước bản thân họ cũng có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhưng mức
thấp nên chỉ tuân thủ sự hướng dẫn của cấp trên.
- Chế độ công chức dự bị được áp dụng trong cơ quan, tổ chức sử dụng
cán bộ. Người được tuyển dụng làm công chức dự bị phải có đủ tiêu chuẩn điều
kiện theo quy định của pháp luật.
Viên chức: Viên chức nhà nước ta là công dân Việt Nam, được tuyển
dụng, trong biên chế, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ nhiệm
vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị xã hội được quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 1 của Pháp lệnh sửa
đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh cán bộ-công chức ngày 29/04/2003,
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và các khoản thu sự nghiệp theo quy định
của pháp luật.
15
Viên chức được phân loại như sau:
Theo trình độ: Loại A, B, C
Theo ngạch viên chức
Viên chức ngạch tương đương ngạch chuyên viên chính
Viên chức ngạch tương đương ngạch chuyên viên
Viên chức ngạch tương đương ngạch chuyên viên cao cấp trở lên
Theo vị trí công tác.
chuẩn quy định của ngạch, có trình độ ngoại ngữ. Luôn chấp hành kỷ luật lao
động, những nội quy, quy định của pháp luật và cơ quan, có tinh thần trách
nhiệm cao trong công việc, luôn đề cao lợi ích của cơ quan lên trên lợi ích cá
nhân. Làm việc đúng nguyên tắc, có tinh thần hợp tác, không lạm dụng danh
nghĩa của cơ quan, của bản thân để vụ lợi, có lối sống giản dị gương mẫu, đoàn
kết, giúp đỡ nhân dân.
Loại b: Có năng lực và thông thạo mọi vấn đề trong công tác của mình và
các công việc liên quan đến công việc của mình. Thực thi công việc nghiêm túc,
thường đúng thời gian quy định. Hiệu suất và hiệu quả công việc thường đạt rất
tốt cả về chất lượng và số lượng. Có kinh nghiệm, hiểu biết rộng về công việc
chuyên môn của mình. Chấp hành kỷ luật lao động, những nội quy, quy định của
pháp luật và cơ quan, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, luôn đề cao lợi
ích của cơ quan lên lợi ích cá nhân, có tinh thần hợp tác, có lối sống bình
thường, đoàn kết, giúp đỡ nhân dân.
Loại c: Có năng lực trung bình, thực thi công việc của mình chậm,phải
nhắc nhở và luôn mới hoàn thành công việc đúng thời hạn, có sai sót khuyết
điểm nhưng không trầm trọng. Thiếu thông thạo trong công việc, tích lũy trong
công việc còn ít, chưa có tinh thần trách nhiệm trong công việc, chưa coi trọng
giữ gìn của công, chưa gìn giữ kỷ luật lao động, hiểu biết xã hội còn hạn chế,
giao tiếp đôi khi không đúng lúc, không có năng lực hợp tác.
Loại d: Năng lực yếu, thiếu thông thạo trong công việc của mình, nhắc
nhở nhiều mới hoàn thành công việc của mình. Hiệu suất công việc đạt thấp, có
nhiều sai sót trong công việc, thiếu kinh nghiệm và ít hiểu biết về các lĩnh vực
kinh tế-xã hộ có liên quan đến công việc của mình.
Tiêu chuẩn đối với công chức lãnh đạo:
17
Loại a: Có sự hiểu biết rộng, bao quát được các công việc trong phạm vi
học, để hoàn thiện nhân cách cá nhân, họ làm việc có năng suất và hiệu quả,
hoàn thành tốt nhiệm vụ hay công vụ được giao.
Đào tạo bồi dưỡng cán bộ có tính đặc thù so với khái niệm đào tạo trong
sự nghiệp giáo dục hay nguồn nhân lực nói chung. Đào tạo nhân lực nói chung
được thực hiện cho mọi lứa tuổi mọi thành phần trong các trường lớp hiện có.
Còn đào tạo bồi dưỡng cán bộ-công chức chỉ giới hạn trong phạm vi điều chỉnh
của Pháp lệnh cán bộ-công chức và một số văn bản pháp luật khác liên quan,
nhằm trang bị thêm kiến thức mới mà có thể trước đó người cán bộ-công chức
chưa biết đến.
Bồi dưỡng là hoạt động làm bổ sung tăng thêm kiến thức mới, đòi hỏi
những người đang giữ chức vụ, đang thực thi công vụ cần phải cập nhập hóa
kiến thức còn thiếu. Nhằm để cán bộ-công chức qua bồi dưỡng có cơ hội kiến
thức còn thiếu. Nhằm để cán bộ-công chức qua bồi dưỡng có cơ hội củng cố và
mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn nghề
nghiệp sẵn có để hoàn thành công việc một cách có hiệu quả hơn và tường được
xác nhận bằng chứng chỉ.
Như vậy đào tạo bồi dưỡng cán bộ cán bộ-công chức ở đây có thể hiểu là
quá trình đào tạo bồi dưỡng trong công sụ sau khi tuyển dụng và có quyết định
bổ nhiệm chính thức vào một ngạch công chức. Đây là đào tạo cán bộ công chức
nhà nước chứ không phải sự nghiệp đào tạo nói chung trong hệ thống quốc dân.
Do đó nó có những điểm khác biệt so với loại hình đào tạo thuộc hệ thống giáo
dục quốc dân cụ thể là:
Mục tiêu đào tạo bồi dưỡng là cung cấp kiến thức mới, những kỹ năng,
kinh nghiệm, những tình huống xảy ra trong thực tế, nhằm nâng cao sự nhận
thức và hiểu biết về diễn biến và tình hình đang diễn ra trong đời sống hàng
ngày để giúp cho cán bộ-công chức có khả năng thích ứng nhanh với sự đổi mới
của môi trường xung quanh vào công việc.
Đối tượng đào tạo bồi dưỡng là cán bộ-công chức. Những người đang
thực thi công vụ trong hệ thống các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị-xã hội. Do đó nội dung chương trình học tập không phải là hệ
mỗi con người và cả cả xã hội. Vốn con người bao gồm toàn bộ thể lực trí lực,
phẩm chất về đạo đức, về nhân cách. Vốn đó nhờ đào tạo, bồi dưỡng mà có.
20
Xuất phát từ việc đánh giá rất cao vai trò của đội ngũ cán bộ-công chức
(trước đây gọi chung là cán bộ, bao gồm cả cán bộ làm công tác Đảng đoàn thể
và cán bộ chính quyền) đối với sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh đã khẳng
định vị trí quan trọng của công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ-công chức. Người
sử dụng thuật ngữ huấn luyện cán bộ. Người nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi
công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [34, Tr 269].
Người có nhiêu chỉ dẫn cụ thể đối với công việc này, cả về mục đích, nội dung,
phương pháp huấn luyện.
Theo Hồ Chí Minh, điều cốt yếu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ-công chức là phải xuất phát từ nhu cầu thực tế và phải đáp ứng với nhu cầu
đó. Người nhấn mạnh: “Huấn luyện phải nhằm đúng nhu cầu…Huấn luyện cán
bộ là cái cột để cung cấp cán bộ cho các ngành công tác: Đoàn thể, mặt trận,
chính quyền, quân đội. Các ngành công tác như là người tiêu thụ hàng. Ban huấn
luyện như là người làm ra hàng, làm ra hàng phải đúng với nhu cầu tiêu thụ”[35,
Tr.48]. “Mở lớp nào ra lớp ấy; lựa chọn người dạy và người đến học cho cẩn
thận” [3, Tr.52].
Vì vậy đào tạo đội ngũ cán bộ-công chức được Đảng và Nhà nước quan
tâm và có những bước phát triển khích lệ. Thủ tướng chính phủ đã có Quyết
định số 874/QĐ-TTg, ngày 20/11/1996 về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộcông chức, Quyết định số 74/2001/QĐ-TTg, Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg
ngày 15/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo
bồi dưỡng cán bộ-công chức giai đoạn 2006-2010. Trong đó, nêu rõ mục tiêu,
đối tượng, nội dung và hình thức đào tạo bồi dưỡng cán bộ; hệ thống các cơ
quan quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức trong và ngoài
nước nên công tác này đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần vào công
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước còn nhiều thiếu sót, nhược điểm cần phải
khắc phục. Nhiệm vụ quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức
bị phân tán; năng lực quản lý còn yếu kém và chưa đồng bộ thiếu kinh nghiệm
và một số cán bộ chưa được đào tạo…Do đó, tăng cường quản lý nhà nước về
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức để:
- Xây dựng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức
đáp ứng yêu cầu trước mắt và ổn định lâu dài.
22
- Nâng cao phẩm chất đạo đức trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộcông chức.
Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức có vai trò rất
quan trọng, vai trò này được thể hiện thông qua một số nội dung chủ yếu đó là:
Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức đã tạo ra một
hành lang pháp lý, một hệ thống công cụ quản lý cán bộ công chức. Để từ đó bổ
sung văn bản pháp quy đã tạo ra các cơ sở vững chắc cho hoạt động quản lý
như: Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức, quy định chức năng nhiệm
vụ và tổ chức bộ máy các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Từ đó hình thành được hệ
thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức thống nhất, có sự phân định rõ ràng
về chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền, có tổ chức bộ máy phù hợp và đảm đương
nhiệm vụ được giao.
Hệ thống chương trình, giáo trình giảng dạy, tài liệu tham khảo, thống
nhất các cơ sở đào tạo vừa mang tính tiên tiến, vừa đảm bảo tính Đảng, tính dân
tộc phù hợp với yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Thông qua giám sát, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng để đưa vào nề
nếp, thiết lập kỷ cương trong công tác đào tạo, bồi dưỡng ngăn ngừa các hiện
tượng vi phạm pháp luật, chính sách nhà nước, bảo vệ lợi ích người đi học và cơ
sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ-công chức.
Tóm lại: Công cuộc cải cách nền hành chính mở cửa và xây dựng nền
luôn luôn đề cao việc đào tạo cán bộ, chăm lo cho đội ngũ cán bộ có trình độ và
khả năng kiến thức làm việc trong mọi thời kỳ phát triển.
Cuộc cách mạng tháng 08 năm 1945 thành công Hồ Chí Minh là người
khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ đầu tiên ở
Đông Nam Á. Bộ máy Nhà nước là của dân và được hình thành rất vững mạnh.
Để làm được việc đó Người đã chú trọng nhiều hơn đến công tác cán bộ và nhất
là khâu đào tạo, bồi dưỡng người đã chỉ thị cho mở trường cán bộ Việt Nam.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng được Đảng và Nhà nước ta rất trú trọng và
được tiến hành thường xuyên, liên tục, mặc dù chưa đạt được kết quả yêu cầu
đặt ra. Nhưng đã đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng được nhiệm vụ đặt ra trong
thời kỳ hiện đại. Để nâng cao hệ thống các trường làm công tác này đã được
hình thành từ Trung ương đến Địa phương.
24
Nhà nước ta từ khi cách mạng Tháng Tám thành công nền kinh tế hoạt
động theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Sau đó nền kinh tế Nhà nước ta
chuyển sang nền thị trường thì một bộ phận không nhỏ cán bộ- công chức đã bị
hụt hẫng về trình độ, kiến thức, năng lực và không theo kịp tiến độ khoa học kỹ
thuật tiên tiến.
Nhận thức được điều này Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời đề ra những
biện pháp chấn chỉnh, mà giải pháp quan trọng nhất là tăng cường công tác đào
tạo, bồi dưỡng các cấp. Để tạo cơ sở pháp lý đồng tời đưa ra những định hướng
đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng. Ngày 15/08/1994 Thủ tướng đã ban hành
chỉ thị số 422/CT-TTg về nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ trong cả nước.
Ngày 20/11/1996 Chính phủ ban hành Quyết định 874/TTg nhằm tiếp tục đẩy
mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức mà mục tiêu là xây dựng
đội ngũ cán bộ công chức thông thạo về chuyên môn nghiệp vụ, tận tụy với công
việc, có trình độ quản lý tốt, trung thành với chủ nghĩa xã hội, đáp ứng được