BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
VŨ THỊ HỒNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TẠI TỔNG CỤC THUẾ, BỘ TÀI CHÍNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG SỸ KIM
1
Hà Nội, năm 2018
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào. Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Thị Hồng
NSNN
Ngân sách nhà nước
QLNN
Quản lý nhà nước
5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
6
Trang
Trang
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Muốn việc thành công hoặc
thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém; nếu như cán bộ là cái gốc của mọi công
trước hết là trong chính ngành thuế, để thích ứng với mục tiêu, yêu cầu cải cách.
Xuất phát từ thực trạng trên, nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn tổ chức đội
8
ngũ cán bộ thuế tiến lên chính quy, hiện đại đang là yêu cầu hết sức cấp bách với
mục tiêu đặt ra là xây dựng đội ngũ CBCC thuế có phẩm chất chính trị tốt, có
đạo đức nghề nghiệp cao, có kiến thức chuyên sâu, chuyên nghiệp trong quản lý
thuế hiện đại, có kiến thức kế toán, đánh giá phân tích tài chính doanh nghiệp,
có khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lý thu thuế nhằm
đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách thuế, công nghiệp hóa và hội nhập
quốc tế. Theo quy định tại Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 8/9/2009 của
Thủ tướng Chính phủ thì Tổng cục Thuế là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính,
thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ Tài chính QLNN về các khoản thu nội
địa trong phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của
NSNN (sau đây gọi chung là thuế); tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp
luật. Theo đó, vai trò của CBCC Tổng cục Thuế càng quan trọng; chính vì vậy,
công tác quản lý nhà nước về ĐTBD CBCC tại Tổng cục Thuế là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của công tác phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt từ
khi chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2010-2020 được Chính phủ phê
duyệt thì công tác ĐTBD CBCC thuế giữ vai trò then chốt, quyết định sự thành
công của việc triển khai chiến lược cải cách hệ thống thuế.
Hiện tại, chưa có đề tài nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước về đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức tại Tổng cục Thuế. Vì vậy,
việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường
năng lực quản lý nhà nước về ĐTBD CBCC tại Tổng cục Thuế là một vấn đề rất
quan trọng và cấp bách trong thực tiễn hiện nay. Xuất phát từ nhận thức nói trên,
tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
đoạn hiện nay; đánh giá, đưa ra kết luận về thực trạng ĐTBD công chức hành
chính trong giai đoạn hiện nay; từ đó xác định mục tiêu, phương hướng và giải
pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về ĐTBD công chức hành chính Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, có thể kể tên các công trình nghiên cứu khác liên quan đến hoạt
động ĐTBD CBCC như: Tác giả Lưu Kiếm Thanh với bài:”Đào tạo bồi dưỡng
cán bộ công chức, viên chức một hình thức giáo dục - đào tạo đặc thù và chuyên
biệt” [15]; Tác giả Đinh Văn Tiến, ThS. Thái Vân Hà với bài “Đổi mới công tác
đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong tình hình mới” [18]; Tác
giả Ngô Thành Can với bài “Những yêu cầu cải cách công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức” [6]
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy đã có nhiều công trình
khoa học và luận án, luận văn, bài báo liên quan đến đề tài Giải pháp nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Tổng cục
Thuế, Bộ Tài chính. Những công trình này đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn
đề lý luận và thực trạng về hoạt động ĐTBD CBCC và quản lý nhà nước về
ĐTBD CBCC. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
về quản lý nhà nước về ĐTBD CBCC tại Tổng cục Thuế. Việc nghiên cứu đề tài
này sẽ đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về ĐTBD CBCC tại
Tổng cục Thuế.
10
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn
Mục đích nghiên cứu
Đề tài xây dựng cơ sở lý luận và thực trạng QLNN đối với hoạt động
ĐTBD CBCC tại Tổng cục Thuế, từ đó đề xuất định hướng, mục tiêu và giải
pháp nâng cao hiệu quả QLNN về công tác ĐTBD CBCC tại Tổng cục Thuế
trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích nội dung chính sách: nguồn gốc, dự kiến và ý nghĩa của các
chính sách được phân tích nhằm hiểu các định hướng đối với ĐTBD CBCC tại
Tổng cục Thuế
- Tổng quan tư liệu: Các ấn phẩm từ các nguồn khác nhau bao gồm báo
cáo và nghiên cứu của các cơ quan Chính phủ…
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp: hệ thống, phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, xã hội học, dự báo để chọn lọc tri thức khoa học cũng
như kinh nghiệm thực tiễn về QLNN đối với hoạt động ĐTBD CBCC. Tác giả
đã cố gắng kết hợp và tận dụng các ưu điểm của các phương pháp nêu trên để có
cái nhìn tổng quát, nhìn nhận cốt lõi của vấn đề nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của đề tài luận văn
Đề tài luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về
QLNN đối với hoạt động ĐTBD CBCC tại Tổng cục Thuế trên cả phương diện
lý luận và thực tiễn, vì vậy có những đóng góp khoa học bước đầu như:
Thứ nhất, lược thuật kinh nghiệm về QLNN đối với hoạt động ĐTBD
CBCC của một số cơ quan thuế trên thế giới và Kho bạc Nhà nước để rút ra bài
học kinh nghiệm.
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng QLNN ĐTBD CBCC tại Tổng cục
Thuế.
Thứ ba, đưa ra các giải pháp đồng bộ, toàn diện và có cơ sở khoa học
nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với hoạt động ĐTBD CBCC tại Tổng cục
Thuế.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn sẽ là những bổ sung quan trọng
vào lý luận QLNN đối với hoạt động ĐTBD CBCC, góp phần làm sáng tỏ
những quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác cán bộ.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn trực tiếp góp phần nâng cao nhận
thức về vị trí, vai trò CBCC; vị trí, vai trò của hoạt động ĐTBD CBCC; sự cần
xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Ở nước ta, khái niệm “cán
bộ”, “công chức” có từ lâu. Trải qua các giai đoạn phát triển của nền hành chính
nhà nước thì khái niệm này được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Ngày
13/11/2008, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ
họp thứ 4 thông qua Luật CBCC số 22/2008/QH12, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2010. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất quy
định rõ ràng về CBCC.
Khoản 1 Điều 4 Luật CBCC quy định:“ Cán bộ là công dân Việt Nam,
được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong
cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (NSNN)” [14].
Ngoài ra phạm vi cán bộ còn bao gồm những người được bầu cử giữ chức vụ
theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư,
Phó Bí thư Đảng ủy, người đúng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Đây là nhóm cán
bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Như vậy, theo Luật Cán bộ, công chức, có hai nhóm cán bộ: nhóm cán bộ
cấp huyện trở lên và nhóm cán bộ ở cấp xã, nhưng cho dù là cán bộ ở cấp nào
thì đặc điểm chung của cán bộ là họ đảm nhận các loại công việc theo nhiệm kỳ
được bầu và cũng được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, không phân biệt
trong các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội hay nhà nước.
Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau ở các quốc gia. Việc
xác định ai là công chức thường do các yếu tố sau quyết định:
- Hệ thống thể chế chính trị;
14
- Hệ thống thể chế hành chính;
- Tính truyền thống;
nghiệp công lập thì được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công
lập theo quy định.
15
Cán bộ là được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh (ví
dụ: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Hội nông dân...). Cán bộ làm việc theo nhiệm
kỳ, tức là làm việc trong một khoảng thời gian nhất định. Nhiệm kỳ với mỗi vị
trí công tác là khác nhau, được pháp luật quy định cụ thể. Cán bộ chuyên trách
bảo vệ an ninh quốc gia là sỹ quan, hạ sỹ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ
an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực
tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.
Đối với công chức là do được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh trong cơ quan nghĩa là do thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền (Ví dụ như các Chuyên viên, Chuyên viên
chính...).
Riêng đối với cán bộ ở cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) thì
chỉ là do bầu cử mà được giữ chức vụ. Công chức cấp xã chỉ theo một hình thức
là tuyển dụng để giữ một chức danh chuyên môn, nhiệm vụ và thuộc ủy ban
nhân dân cấp xã.
Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng
ĐTBD là một trong những hoạt động quan trọng của phát triển nguồn
nhân lực. Khái niệm ĐTBD vẫn đang được các nhà khoa học thảo luận ở các
khía cạnh khác nhau. Chính vì vậy, khái niệm ĐTBD chưa thống nhất về nhận
thức.
Theo Wikipedia - Bách khoa toàn thư mở thì “đào tạo đề cập đến việc dạy
các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ
thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp
một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả
CBCC nhân danh quyền lực nhà nước để thực hiện nhiệm vụ QLNN. Quá trình
ĐTBD CBCC đi sâu vào ĐTBD những kỹ năng, khả năng vận dụng và giải
quyết các tình huống cụ thể. Đó là quá trình tiếp thu kiến thức một cách sáng
tạo, có trao đổi ở trình độ cao. Đồng thời, yêu cầu quan trọng của ĐTBD là
nhằm nâng cao năng lực làm việc hiện tại cũng như trong tương lai, xây dựng
nên hành vi, thái độ làm việc đúng đắn để phục vụ nhà nước và nhân dân.
ĐTBD có những nét nghĩa tương đồng nhất định (như đều có nét nghĩa
chỉ quá trình làm tốt hơn, lành mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể),
song đây là hai khái niệm không đồng nghĩa. Đào tạo là trong thời gian lâu dài
để trang bị cho người học một hệ thống kiến thức, kỹ năng nhất định; bồi dưỡng
là trong thời gian ngắn hơn nhằm bổ sung và cập nhật cho người học một phần
kiến thức, kỹ năng của một lĩnh vực nhất định. Nếu như đào tạo được xem như
là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu
chuẩn nhất định”, thì bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta
“tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”.
Khái niệm quản lý nhà nước
QLNN được hiểu là sự tác động của Nhà nước đối với các quan hệ xã hội
17
đảm bảo cho các quan hệ xã hội ảnh hưởng, tương tác và phát triển theo hướng
đúng những mục tiêu đã định. QLNN là dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện
cùng với sự xuất hiện của nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước, mang tính
cưỡng chế đơn phương và sử dụng pháp luật để làm công cụ điều chỉnh hành vi,
hoạt động của cá nhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, do
các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì
sự ổn định và phát triển của xã hội. Như vậy, có thể hiểu một cách ngắn gọn như
sau:
- Chủ thể của QLNN là hệ thống các cơ quan quyền lực từ trung ương đến
địa phương.
+ Nhóm tiêu chí đánh giá đầu vào: Để đảm bảo các điều kiện cho hoạt
động QLNN cần phải chuẩn bị đủ các yếu tố đầu vào. Đầu vào bao gồm các
nguồn lực được sử dụng để tiến hành các hoạt động QLNN như: cơ sở vật chất,
kỹ thuật, các trang thiết bị làm việc, nhân sự, các dịch vụ tư vấn… Tiêu chí đánh
giá hoạt động theo đầu vào thể hiện tính kinh tế trong hoạt động QLNN, tức là
mua sắm được các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt, kịp thời
và với chi phí thấp.
+ Nhóm tiêu chí đánh giá theo đầu ra: Đầu ra của hoạt động QLNN là các
dịch vụ, sản phẩm mà hoạt động QLNN tạo ra để duy trì hệ thống và bảo đảm
cho xã hội phát triển theo định hướng. Giá trị xã hội của đầu ra hệ thống được
chiếu theo giá thị trường của các dịch vụ tương tự hoặc dịch vụ tương đương
gần nhất. Tiêu chí đánh giá kết quả tương ứng với đầu ra là tính hiệu quả, nghĩa
là giảm thiểu chi phí đầu vào đối với một đơn vị đầu ra hoặc tối đa hóa số lượng
đầu ra tương ứng với tổng chi phí đầu vào xác định. Việc nâng cao tính hiệu quả
trong hoạt động QLNN, trước hết phải đảm bảo tính kinh tế, bởi vì khi đã không
đạt được tính kinh tế trong việc mua sắm các yếu tố đầu vào thì sẽ làm tăng chi
phí cho một đơn vị đầu ra hay giảm lượng đầu ra trên một đơn vị chi phí đầu
vào. Do đó cần sử dụng hợp lý các yếu tố đầu vào, xây dựng các quy trình giải
quyết công việc khoa học và thực hiện nghiêm túc các quy trình đó, đồng thời
thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động QLNN.
+ Nhóm tiêu chí đánh giá theo kết quả: Kết quả hoạt động QLNN là mục
tiêu đạt được bằng cách tạo ra các dịch vụ cho hệ thống và xã hội. Tiêu chí đánh
giá kết quả hoạt động QLNN tương ứng với kết quả của đầu ra là tính hiệu lực,
tức là đối đa hóa kết quả thực hiện trong mối liên hệ với đầu ra được tạo ra. Hay
nói cách khác, hiệu lực là mức độ đạt được mục đích cuối cùng mà hoạt động
QLNN hướng tới.
+ Nhóm tiêu chí đánh giá theo quá trình thực thi hoạt động QLNN: Quá
trình thực thi hoạt động QLNN là những hoạt động chuyển hóa các yếu tố đầu
vào thành các yếu tố đầu ra nhằm đạt các kết quả mong muốn. Các tiêu chí
chung để đánh giá quá trình thực hiện hoạt động QLNN gồm: Mức độ dân chủ
tác, kỹ năng nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân. Đào
tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng được đội ngũ CBCC thực sự có năng lực, biết
giải quyết các vấn đề được giao trên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng.
Thứ hai, ĐTBD CBCC để đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách hành chính
Ngày 8/11/2011, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai
đoạn 2011-2020 được ban hành tại Nghị quyết 30c/NQ-CP của Chính phủ. Theo
đó, trọng tâm cải cách hành chính là: Cải cách thể chế; xây dựng nâng cao chất
lượng đội ngũ CBCC, viên chức; chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm
tạo động lực thực sự để CBCC, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu
20
quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và dịch vụ công [9]. Chương
trình bao gồm những nhiệm vụ tương ứng: Cải cách thể chế; tổ chức bộ máy
hành chính; xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức; cải cách
tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính nhà nước. Trong đó nổi bật lên một
số nhiệm vụ cụ thể như đội ngũ CBCC có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ
và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và sự nghiệp phát triển đất
nước. Việc thực hiện thành công nhiệm vụ này sẽ góp phần tạo ra những bước
ngoặt lớn cho tiến trình cải cách hành chính nước ta.
Thứ ba, ĐTBD CBCC nhằm hoàn thiện đạo đức công vụ.
CBCC tốt phải là người vừa có tài vừa có đức, như Bác đã nói là người
“vừa hồng vừa chuyên”, “một người có tài mà không có đức thì là người vô
dụng, một người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Quá trình
ĐTBD giúp CBCC nhận thức sâu sắc hơn về trách nhiệm và sứ mệnh của mình
đối với đất nước và nhân dân. Tiền lương của họ chính là tiền đóng thuế của
nhân dân nên họ phải có trách nhiệm phục vụ nhân dân.
Đồng thời, CBCC phải có bản lĩnh, đặc biệt là bản lĩnh chính trị vững
vàng. Trong bối cảnh trong và ngoài nước có nhiều yếu tố phức tạp thì bản lĩnh
của CBCC được xem là một trong những yêu cầu hàng đầu. Đây là yếu tố rất
trình ĐTBD.
- Đảm bảo những điều kiện vật chất to lớn cho ĐTBD CBCC phát triển.
Nhà nước là người đầu tư và đồng thời là người đặt hàng lớn nhất cho ĐTBD
CBCC.
1.1.3. Đặc điểm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, quản lý
nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Đặc điểm của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
So với các hoạt động ĐTBD khác thì ĐTBD CBCC có đặc điểm riêng,
điều đó xuất phát từ đối tượng ĐTBD là CBCC. Cụ thể:
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động bổ trợ. ĐTBD cán bộ, công
chức sẽ chú trọng tới bồi dưỡng với mục tiêu trang bị kiến thức, kỹ năng,
phương pháp để cán bộ, công chức xác định các khóa đào tạo, bồi dưỡng mà cá
nhân CBCC đó cần thiết phải tham gia. Việc này góp phần nâng cao hiệu quả,
tiết kiệm cho ngân sách và hạn chế những rủi ro trong đào tạo, bồi dưỡng
CBCC.
Học viên là công chức là những người đại diện cho quyền lực nhà nước,
công việc cơ quan nhiều khi cuốn hút phần lớn thời gian của họ.
Các học viên là những người có kinh nghiệm thực tiễn đời sống và công
tác nên trong ĐTBD đòi hỏi cao về nội dung kiến thức và thông tin khoa học.
Đặc điểm của quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
Cũng từ đặc điểm riêng của hoạt động ĐTBD CBCC nên hoạt động
QLNN về ĐTBD CBCC có một số đặc điểm cơ bản sau:
22
Thứ nhất, chủ thể QLNN về ĐTBD CBCC là các cơ quan QLNN có chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, QLNN về ĐTBD CBCC là hoạt động tuân theo các quy định của
pháp luật hiện hành. Nhà nước ta là nhà nước pháp chế xã hội chủ nghĩa nên các
các hoạt động quản lý đều phải dựa trên cơ sở pháp luật.
chính sách của Đảng các chủ thể QLNN xem xét và đưa ra các quy định quản lý
của mình để từ đó đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được thực hiện
hóa trong QLNN. Đảng lãnh đạo QLNN thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ.
Các tổ chức đảng đã bồi dưỡng, đào tạo những đảng viên có ưu tú, có phẩm chất
và năng lực gánh vác những công việc trong bộ máy nhà nước. Đảng lãnh đạo
trong QLNN thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng trong QLNN. Thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả,
tính thực tế của chủ trương chính sách mà Đảng đề ra từ đó khắc phục khuyết
khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo.
- Nguyên tắc nhân dân được tham gia rộng rãi vào hoạt động quản lý nhà
nước. Các cơ quan trong bộ máy nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực
nhà nước, việc nhân dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước là
hình thức tham gia tích cực, trực tiếp và có hiệu quả nhất trong QLNN. Người
lao động nếu đáp ứng các yêu cầu của pháp luật đều có thể tham gia một cách
trực tiếp hay gián tiếp vào công việc QLNN trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Người lao động có thể tham gia trực tiếp vào cơ quan nhà nước với tư
cách là thành viên của cơ quan này - họ là đại biểu được lựa chọn thông qua bầu
cử hoặc với tư cách là các công chức trong cơ quan nhà nước. Tham gia các hoạt
động tự quản ở cơ sở như hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường,
tham gia thảo luận những vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị
với cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hay chính người dân trực tiếp thực
hiện. Kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước...
- Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tập trung kết hợp hai yếu tố
tập trung và dân chủ, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa
đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.
- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Đây là nguyên tắc thể hiện một
nguyên lý căn bản của tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Bởi vì trước
hết việc tổ chức và hoạt động QLNN phải hợp pháp, tức là phải tuân theo pháp
nghiên cứu, được đầu tư về sức lực và tiền của để từng bước nâng cao hiệu quả
của công tác này.
Quá trình đào tạo, bồi dưỡng bắt đầu bằng khâu xác định nhu cầu đào tạo
đến xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng chương trình đào tạo; bồi
dưỡng giảng viên; tổ chức các trang thiết bị giảng dạy; triển khai thực hiện kế
hoạch và tổ chức đánh giá đào tạo. Như vậy quá trình đào tạo bắt đầu bằng việc
xác định nhu cầu đào tạo của CBCC và đây là khâu quan trọng nhất trong quá
trình này. Thông thường việc xây dựng nhu cầu đào tạo dựa trên cơ sở của chức
năng nhiệm vụ của công chức, trên cơ sở năng lực thực hiện công việc của họ.
Xác định nhu cầu đào tạo của công chức phải trả lời được các câu hỏi: Công
việc của họ là gì? Họ đã làm được những gì? Yêu cầu họ phải làm được những
gì? Họ cần phải đào tạo, bồi dưỡng những gì để đáp ứng yêu cầu của công việc?
Khâu này cần phân biệt rõ nhu cầu đào tạo của tổ chức, của cá nhân trong tổ
chức và các mong muốn cá nhân.
Xây dựng kế hoạch đào tạo là việc xác định xem với nhu cầu đào tạo của
công chức thì họ phải tham gia vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng nào phù hợp để
bảo đảm rằng sau khóa học họ thực hiện công việc tốt hơn. Xây dựng kế hoạch
25