Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 1 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
PHẦN MỞ ĐẦU
Trãi qua 70 năm trên chặng đường phát triển văn hóa, từ văn kiện đầu tiên
“Đề cương văn hóa năm 1943”, Đảng và Nhà nước ta đã tích lũy kinh nghiệm thực
tiễn và lý luận để lại dấu ấn lịch sử, dấu ấn thời đại về tư duy văn hóa.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng đã đưa ra nội hàm của khái
niệm văn hóa theo nghĩa rộng, trong đó đề cập tám lĩnh vực lớn, đó là: Tư tưởng,
đạo đức, lối sống, di sản văn hóa; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ;
văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao lưu văn hóa với thế giới; thể chế và
thiết chế văn hóa. Trong tám lĩnh vực này thì tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời
sống văn hóa được coi là những lĩnh vực quan trọng nhất hiện nay cần đặc biệt
quan tâm. Đồng thời, Nghị quyết cũng đã khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh
thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế- xã hội. Có thể
nói rằng, giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, đảm
bảo tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng và phát triển con người toàn diện là một
trong những trọng tâm của đổi mới hiện nay. Đây là điều kiện hàng đầu để đảm
bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tiếp tục xác
định mục tiêu cần phải đạt tới là tạo được sự phát triển đồng bộ về chất lượng văn
hóa “Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng,
chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa – nền tảng tinh
thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều
kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”
(Văn kiện Hội nghị TW 10 khóa IX).
Trong thời đại ngày nay, văn hóa ngày càng trở thành vấn đề toàn cầu, ngày
càng thu hút sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới. Hầu hết, các nước đều rất
quan tâm đến vai trò, vị trí của văn hóa trong phát triển, coi văn hóa là mục tiêu và
công việc cần thiết nhằm đánh giá một cách khách quan và có khoa học đối với
quá trình phát triển sự nghiệp văn hóa ở huyện An Phú. Trên cơ sở tổng kết hoạt
động văn hóa, nhận định những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và đề ra những
giải pháp hợp lý để nâng cao hiệu quả quản lý về văn hóa ở huyện An Phú trong
giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Xuất phát từ những tính chất và tầm quan trọng nêu trên, bản thân là cán bộ
Phòng Văn hóa và Thông tin huyện An Phú – phụ trách mãng Du lịch – Gia đình
và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thời gian công tác
và học tập, qua thực tiễn tình hình quản lý các hoạt động về văn hóa ở địa phương.
Với những kiến thức, kinh nghiệm được Thầy- Cô truyền đạt và thực tiễn công tác.
Bản thân mạnh dạng chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về văn hóa ở huyện An Phú đến năm 2015”. Để hoàn thành tốt tiểu luận cuối
khóa, với đề tài trên, trong quá trình thực hiện không tránh khỏi thiếu sót mong
Thầy- Cô thông cảm và giúp đỡ. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 3 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
Chương 1
sách, sách lược phát triển văn hóa qua các giai đoạn xây dựng đất nước. Những
quan điểm và hoạt động của Người đã góp phần vào sự tiến bộ và phát triển nền
văn minh của nhân loại. Công lao to lớn này đã được đánh giá trong Nghị quyết
của UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người: “ sự đóng góp của Chủ
tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật là kết tinh truyền
thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt nam, và những tư tưởng của Người là
hiện thân của các dân tộc, tiêu biểu cho việc thúc đẩy lẫn nhau. Người là vị anh
hùng giải phóng dân tộc của Việt nam, là nhà văn hóa kiệt xuất”.
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 4 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
Với tầm vóc của một danh nhân văn hóa thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh để
lại cho chúng ta một di sản tư tưởng vô cùng quý báu về mọi lĩnh vực như: Tư
tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam; Tư tưởng Hồ Chi Minh về đạo
đức cách mạng…, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực
văn hóa. Việc tìm hiểu những quan điểm về văn hóa và vấn đề gìn giữ, bảo tồn bản
sắc văn hóa dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp chúng ta có cơ sở lý luận và
kinh nghiệm thực tiễn để thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nền văn hóa
Việt nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc đổi mới hôm nay.
Mang trong mình truyền thống văn hóa phương đông lại được tiếp thu
những tinh hoa của nền văn minh thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết quan
điểm của mình về văn hóa trong nhận định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hóa”. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt
cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra. Nhằm thích ứng với những
nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.
Qua nghiên cứu nhận thức của Hồ Chí Minh về văn hóa, chúng ta nhận thấy
là động lực cho sự phát triển. Vì vậy, quan điểm này không chỉ có ý nghĩa định
hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa thuộc về con người, quan trọng hơn còn
chỉ ra cơ sở mang lại sức sống mãnh liệt cho văn hóa.
Công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay thực sự là
cuộc hành trình đến những giá trị văn hóa đích thực nhất. Bởi lẽ, chủ nghĩa xã hội
chính là biểu trưng giá trị cao đẹp nhất, sáng tạo nhất mà dân tộc Việt nam có thể
xem là một chủ thể xứng đáng. Tuy nhiên, hành trình đến chủ nghĩa xã hội không
là con đường bằng phẳng trơn tru. Thực tiễn đang có nhiều vấn đề mới nảy sinh,
trong đó xu hướng toàn cầu hóa với cuộc mở cửa, hội nhập đang đòi hỏi mỗi dân
tộc cần thiết phải khẳng định, sức mạnh văn hóa cần thiết phải đặt vào vị trí hàng
đầu, vì “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là tầm cao, chiều sâu về trình độ
phát triển của dân tộc, kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người
với người, người với xã hội, với thiên nhiên. Văn hóa là động lực, là mục tiêu của
sự nghiệp cách mạng”.
Quan điểm văn hóa của Hồ Chí Minh chống lại mọi biểu hiện kỳ thị, độc tôn
về văn hóa. Đúc kết trong kho tàng tri thức của mình tinh hoa văn hóa đông, tây,
kim, cổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra chủ trương kế thừa truyền thống tốt đẹp của
văn hóa dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn
hóa nhân loại. Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa là kim
chỉ nam cho chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc, trên cơ sở đó có thể hội nhập và giao lưu với các nền văn hóa khác
trên thế giới, cùng nhau phát triển.
Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Văn hóa là đổi mới, đổi mới là văn
hóa”. Vì vậy trong sự nghiệp đổi mới đầy khó khăn, văn hóa phải đóng vai trò là
nguồn động lực quan trọng. Nguồn động lực ấy sẽ trở nên dồi dào nếu văn hóa
được xây dựng, giữ gìn và phát huy đúng hướng. Muốn thế, phương châm của mọi
hoạt động văn hóa phải xuất phát từ cuộc sống, đi sâu phản ảnh những cơ tầng đa
diện, sâu sắc của cuộc sống và hướng đến phục vụ cuộc sống.
1.2. Quan điểm của Đảng ta về văn hóa:
Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình
chức của các hội văn học- nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương.
Cũng trong nhiệm kỳ Đại Hội X, đối với văn hóa, văn học nghệ thuật, Đảng
đã dành sự quan tâm cho một số lĩnh vực tinh túy và nhạy cảm thường xuyên tác
động đến đời sống tinh thần của xã hội. Đó là 02 kết luận quan trọng của Ban Bí
thư (số 83, ngày 27-6-2008), Bộ Chính trị (số 51, ngày 22-7-2009) chỉ đạo việc
tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 27 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về
“Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội” tiếp tục đẩy mạnh hơn
nữa thực hiện chỉ thị này.
Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc là một trong 08 (tám) đặc trưng đề cập đến văn hóa, nhưng xét về chiều
sâu đều ẩn chứa những giá trị văn hóa. Các đặc trưng như “dân chủ, công bằng,
văn minh”, “do nhân dân làm chủ”, “con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc,
phát triển toàn diện”, “các dân tộc trong cộng đồng Việt nam bình đẳng, đoàn kết,
tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”…đều là những giá trị văn hóa đích thực mà
con người khát vọng vươn tới.
Quan điểm của Đảng về văn hóa theo mục tiêu tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc tiếp tục được khẳng định. Nhưng từ thực tiễn đời sống văn hóa của đất nước
những năm qua, đặc biệt là trong xu thế hội nhập, có sự tác động nhiều chiều của
quá trình toàn cầu hóa của nền kinh tế thị trường…, Đảng ta đã xác định cần được
cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và nhất là ngành văn hóa coi trọng, tập trung chỉ
đạo, tổ chức thực hiện nhằm tiếp tục xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội. Trong
đó, việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng có ý nghĩa
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 7 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
rất quan trọng, chi phối và gắn bó hữu cơ với các công việc sau: Cần nhận thức đầy
đủ rằng, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cũng chính là góp phần tạo ra
môi trường chính trị- xã hội ổn định, an toàn và bền vững trên cơ sở đời sống kinh
tế được đảm bảo.
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về văn hóa thông qua việc thể chế
hiện đại hóa đất nước, nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, công bằng,
dân chủ, văn minh”.
1.3. Chính sách pháp luật của Nhà nước về văn hóa:
Chính sách văn hóa là tổng thể những nguyên tắc thể hiện tư tưởng chỉ đạo
của Nhà nước về đường lối, phương thức xây dựng và phát triển văn hóa, chính
sách văn hóa đặt ra các nguyên tắc chung của sự nghiệp phát triển văn hóa là vạch
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 8 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
ra mục tiêu phát triển chung của đất nước. Chính sách phát triển văn hóa của Đảng
đã được cụ thể hóa thành chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa trong Quyết
định của thủ tướng Chính phủ số: 125/2007/TTg. Quyết định này xác định rõ mục
tiêu tổng quát về phát triển văn hóa Việt nam là: Nâng cao nhận thức của toàn
Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, huy động sức mạnh của toàn xã hội vào sự
nghiệp phát triển văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, là động lực, là
nhân tố góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) đã cụ thể hóa 07 loại chính sách:
- Chính sách kinh tế trong văn hóa để vừa đảm bảo định hướng chính trị,
vừa có thêm nguồn lực tài chính cho hoạt động văn hóa.
- Chính sách văn hóa trong kinh tế, nghĩa là các hoạt động kinh tế phải đảm
bảo các tiêu chí của văn hóa, tạo điều kiện nhiều hơn cho văn hóa.
- Chính xã hội hóa hoạt động văn hóa nhằm động viên nhân lực, vật lực của
các tầng lớp nhân dân cho hoạt động văn hóa, cho việc sáng tạo, phổ biến văn hóa.
- Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
- Chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa.
- Chính sách đặc thù ưu đãi hưởng thụ văn hóa cho một số đối tượng.
Các chính sách văn hóa là không thể thiếu trong quản lý hoạt động văn hóa,
song chính sách văn hóa không thể thay thế pháp luật. Pháp luật có vai trò rất quan
trọng trong phát triển văn hóa. Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về văn
hóa nhằm phát huy tác dụng của văn hóa để sự hình thành nhân cách, nâng cao
vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng.
- Thông tư số: 05/TT/BVHTT ngày 08/01/1996 của Bộ Văn hóa Thông tin,
hướng dẫn thực hiện Quy chế “Lưu hành kinh doanh phim, băng đĩa hình, băng đĩa
nhạc, bán, cho thuê xuất bản phẩm; hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa nơi công
cộng; quảng cáo, viết, đặt biển hiệu”.
- Nghị định số: 103/2009/NĐ- CP ngày 06/11/2009, về việc ban hành Quy
chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng.
- Thông tư số: 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 củ Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về hướng dẫn Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Nghị định số: 75/2010/NĐ- CP ngày 12/7/2010, về việc Qui định xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa.
- Thực hiện Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư (khóa
X) về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại
đạo đức xã hội”.
- Thông tư số: 11/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch về quy định tiêu chí của Trung tâm văn hóa – Thể thao quận,
huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.
- Thông tư số: 12/2011/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
về Quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu
“Gia đình văn hóa”, “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn
hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương.
- Thông tư số: 17/TT-BVHTTDL ngày 02/12/2011 của Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch Quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự thủ tục xét và công nhận
“Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới”. (trong đó có tiêu chí xây dựng các cơ sở
vật chất văn hóa như Trung tâm văn hóa; Nhà văn hóa…)
- Chương trình phối hợp số: 12/CTrPH-MTTW-BVHTTDL, ngày 29/9/2011
về việc chỉ đạo thực hiện nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 10 –
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 11 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
(Hình 1 Bản đồ huyện An Phú)
Chương 2
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA
CỦA HUYỆN AN PHÚ TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Đặc điểm tình hình:
An Phú là huyện đầu nguồn biên giới của
tỉnh An Giang, có 04 dân tộc Kinh- Chăm-
Hoa- Khmer cùng sinh sống. Diện tích tự nhiên
208km
2
, chiều dài đường biên là 42km, đất
dành cho nông nghiệp là 37.178ha, về giao
thông thủy bộ có tuyến tỉnh lộ 956; 957 và hai
con sông Hậu và sông Bình Di chạy dọc suốt
huyện trên 33km, dân số 180.013 người (thống
kê cuối năm 2012), đa số nhân dân sống bằng
nghề nông, có 14 đơn vị hành chính: 02 thị trấn
trì được nhịp độ phát triển, tổng sản lượng năm 2011 là 34.215 tấn. Tuy nhiên đến
năm 2011- 2012 do ảnh hưởng về giá và khâu tiêu thụ nên diện tích ao, hầm và
lồng bè nuôi thả cá giảm, tổng sản lượng thủy sản thu hoạch là 20.974 tấn.
Về công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ: Sản xuất
ngành công nghiệp tiếp tục phát triển, giá trị sản xuất năm 2012 vừa qua ước thực
hiện 272,5 tỷ đồng, tăng 10,55 so với cùng kỳ năm 2011, đạt 100,93% kế hoạch
năm. Hoạt động thương mại – dịch vụ năm 2012 ước thực hiện 6.510 tỷ đồng đạt
102,5% so với kế hoạch tăng 2,5% và tăng 22% so năm 2011. Tổng giá trị hàng
hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới ước đạt 550 triệu USD, đạt 122,2%
so với kế hoạch, tăng 57% so với năm 2011.
Về Thương mại: có hai cửa khẩu Quốc
gia Thị trấn Long Bình và Vĩnh Hội Đông,
ngoài ra còn có các Trung Tâm Thương Mại
của Huyện như: Trung tân thương mại An Phú;
Trung tâm thương mại xã Quốc Thái; Trung
tâm thương mại Khánh An…được xây dựng qui
mô lớn, hầu hết các xã, thị trấn đều có chợ, tạo
thành mạng lưới dịch vụ lưu thông hàng hóa
tương đối lớn. (Hình bên: Hình 3: Trung tâm thương mại An Phú)
Về Giáo dục-đào tạo: Có bước phát triển về số lượng lẫn chất lượng. Hệ
thống trường lớp từ Mầm non đến trung học cơ sở đã phủ khắp 14 xã, thị trấn trong
huyện với 63 điểm trường, toàn huyện có 04 trường trung học phổ thông; cơ sở vật
chất trường lớp được đầu tư ngày càng khang trang. Chất lượng giáo dục các cấp
học được nâng lên, tỷ lệ học sinh thi đỗ cuối cấp ngày càng tăng. Có 100% trường
tiểu học đạt chuẩn “mức chất lượng tối thiểu” và 02 trường đạt chuẩn Quốc gia. Xã
hội hóa giáo dục và công tác khuyến học cũng góp phần đáng kể vào phát triển sự
nghiệp giáo dục của huyện.
Về Y tế: trên địa bàn huyện thực hiện tốt việc khám chữa bệnh cho nhân dân.
Công tác chăm sóc bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia đình đạt kết quả tốt, tỷ lệ suy
dinh dưỡng trẻ em dưới 05 tuổi từ 23,31% giảm còn 18%. Ngành y tế chủ động
2.2. Quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa trong
thời gian qua của huyện An Phú:
2.2.1. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa:
Thực hiện Nghị định số: 814/TTg ngày 12/12/1995 của Thủ tướng Chính
phủ, về việc tăng cường quản lý thiết lập trật tự kỷ cương trong các hoạt động văn
hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn nghiêm trọng và Nghị định
số: 103/2009/NĐ- CP ngày 06/11/2009, về việc ban hành Quy chế hoạt động văn
hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng.
Từ đầu năm 2010 đến cuối năm 2012 vừa qua đội kiểm tra liên ngành 814
huyện An Phú, đã tổ chức kiểm tra thường xuyên tổng số: 1.066 cơ sở. Trong đó:
quảng cáo 140 cơ sở; băng đĩa 238 cơ sở ; trò chơi điện tử 143 cơ sở; karaoke 123
cơ sở; tranh ảnh-sách 110 cơ sở; photocopy 117 cơ sở; văn phòng phẩm 97 cơ sở;
internet 98 cơ sở.
Ngành Văn hóa thông tin huyện còn phối hợp với các Đồn Biên phòng,
Chi cục Hải quan thực hiện tốt việc ngăn chặn, chống sự xâm nhập của các sản
phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội bằng nhiều hình thức như:
tuyên truyền trên hệ thống Đài truyền thanh kiểm tra văn hóa phẩm nhập khẩu
tại biên giới, kết hợp đội kiểm tra liên ngành 814 kiểm tra các hoạt động dịch
vụ văn hóa theo kế hoạch hàng tháng, quý và kiểm tra đột xuất theo tình hình
thực tế của địa phương.
2.2.2. Thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa”; xây dựng nếp sống, lối sống văn hóa:
Thực hiện Quyết định số: 16/QĐ- UBND, ngày 12/7/2012 của Ủy ban
nhân dân tỉnh An Giang Ban hành Quy định về việc công nhận các danh hiệu
trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tỉnh An
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 14 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
Giang và được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền
Thực hiện theo Quyết định số : 156/QĐ-UBND ngày 24/01/2006 của Ủy
Ban Nhân Dân tỉnh An Giang về việc phê duyệt quy hoạch chung khu du lịch
Búng Bình Thiên, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Đã được công ty TNHH tư vấn
xây dựng Hợp Nghiệp, lập đề án quy hoạch, với quy mô: 139,19 ha, có 19 danh
mục. Hiện nay, Khu du lịch Búng Bình Thiên đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch An Giang chọn 02 phân khu 16d và 17 để xây dựng Trường huấn luyện cho
các môn thể thao dưới nước nhằm tiến đến năm 2018 đăng cai tổ chức đại hội cấp
Quốc gia và cấp khu vực.
Ngoài ra, còn có các điểm du lịch như Bưng Bàu Nâu (xã Vĩnh Trường) ;
Giồng Cây Da (xã Khánh An) ; Khu căn cứ Lịch sử B3 và Làng Chăm Đa Phước.
2.2.5. Công tác tuyên truyền cổ động:
Trong những năm qua, toàn bộ hệ thống ngành từ Huyện đến cơ sở, đã thực
hiện tốt công tác tuyên truyền, cổ động trực quan phục vụ nhiệm vụ chính trị của
địa phương với các hình thức: phóng thanh lưu động, kẻ vẽ panô, băng drol, tranh
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 15 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
ảnh cổ động đã thực hiện đóng góp nhiều hình thức đa dạng phong phú cả chiều
rộng lẫn chiều sâu, nhằm chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp
luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân.
Hằng năm, thực hiện chỉ tiêu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An
Giang, tổ chức triển lãm với nhiều hình ảnh: những thành tựu phát triển kinh tế, xã
hội của Tỉnh, huyện, hình ảnh huyện An Phú qua 20 năm xây dựng và phát triển;
phòng chống ma túy, phòng chống HIV/AIDS, an toàn giao thông
2.2.6. Công tác Thông tin Văn nghệ :
Toàn huyện đã được đầu tư xây dựng và đảm bảo hoạt động 08 nhà Văn hóa
xã- thị trấn, đã được cấp trang thiết bị và bộ phóng thanh lưu động, nhằm đảm bảo
phục vụ cho phong trào thông tin tuyên truyền và Văn nghệ ở cơ sở. Các nhà văn
hóa thường xuyên tổ chức thực hiện các hoạt động Văn nghệ, lồng ghép nội dung
tuyên truyền, giáo dục chủ trương đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của
2.2.9. Về
thiết chế văn hóa:
Huyện đã tiến hành quy hoạch mặt bằng để xây dựng mạng lưới các thiết
chế văn hóa từ huyện đến xã – thị trấn và đã xây dựng được một số công trình
văn hóa trọng điểm, như: Nhà văn hóa, Sân bóng đá, công viên, thư viện và
nhiều tủ sách đã tạo điều kiện phong phú đa dạng trong hoạt động văn hóa
và hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân. Toàn huyện đã đưa vào hoạt
động 08 nhà văn hóa thuộc các xã: Vĩnh Trường, Vĩnh Hậu, Đa Phước, Nhơn
Hội, Khánh An, thị trấn Long Bình, Quốc Thái và Vĩnh Hội Đông.
Toàn huyện có 9 sân bóng đá, 85 sân bóng chuyền, 06 sân tennis, 25 sân
cầu lông, có 172 câu lạc bộ thể dục thể thao xã, ấp. Có 01 thư viện cấp huyện
và 17 tủ sách cấp xã; 13/14 xã, thị trấn có bưu điện xã (xã Khánh Bình không
có bưu điện) trong đó có 10 xã, thị trấn có bưu điện văn hóa. 14/14 xã, thị trấn
có Đài truyền thanh.
2.3. Nhận xét, đánh giá:
Vừa qua Huyện ủy An Phú đã tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực
hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) với quan điểm: “Văn hóa
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội”, sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5
(khóa VIII) trên địa bàn huyện An Phú, các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể đã
tập trung tổ chức thực hiện đồng bộ, qua đó tạo được sự chuyển biến tích cực
về nhận thức và hành động trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về vai trò
và nhiệm vụ của việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới. Nhiều phong trào ở cơ sở đã thu hút
đông đảo quần chúng tham gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an
toàn xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển,
cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Được sự quan tâm kịp thời chỉ đạo của Huyện ủy, Thường trực UBND
huyện An Phú; Sở Văn hóa- thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, được sự hỗ trợ
thường xuyên của các cơ quan ban ngành huyện và các xã- thị trấn. Những năm
có: 17 thùng bass (mang tính cờ bạc), 38 đĩa không tem.
* Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”:
Tính đến nay, có 39.838 hộ đạt chuẩn gia đình văn hóa (đạt 92,10%) so với
tổng số hộ trong toàn huyện; có 58/58 ấp đạt chuẩn văn hóa (đạt 100%); 07 chợ đạt
chuẩn chợ trật tự vệ sinh; có 41/47 cơ quan văn hóa (đạt 100%), có 41/70 trụ sở
văn hóa cấp xã-thị trấn (đạt 58,57%/); có 65/66 trường học văn hóa (đạt 98,48 %)
và có 5/5 đồn biên phòng đạt chuẩn văn hóa (đạt 100%); có 10/14 xã-thị trấn đạt
chuẩn xã văn hóa, tỉnh công nhận 01 điểm sáng văn hóa giai đoạn 2008- 2010 cho
ấp Phú Thành- Phú Hữu - An Phú (Đồn biên phòng 929). Tính đến cuối năm 2012
toàn huyện đã nâng tổng số ấp xây dựng “điểm sáng văn hóa biên giới” là 12 ấp.
* Về Du lịch:
Những năm qua, lượng khách du lịch đến các xóm Chăm trong huyện tham
quan tìm hiểu về đời sống Văn hóa cộng đồng người Chăm, hàng năm có trên
20.000 lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan. Ngoài ra, du khách còn
mua sắm các mặt hàng thêu may truyền thống như: khăn choàng tắm, khăn Matơra
(khăn đội đầu của phụ nữ Chăm) và trang phục sinh hoạt hàng ngày và lễ hội của
nam- nữ dân tộc Chăm.
* Về bảo tồn, bảo tàng :
Toàn huyện hiện có 75 di tích, trong đó có 25 đình. Các cơ sở trên đều
được lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích, tính đến nay
huyện An Phú được xếp
hạng 07 di tích
gồm: đình xã Đa Phước (đình cấp Quốc gia); đình xã Vĩnh Hội
Đông; đình xã Phước Hưng; đình Vĩnh Thành, đình Vĩnh Nghĩa và chùa Phước
Trường thuộc xã Vĩnh Trường.
Các di tích này hằng năm đều tổ chức lễ hội,
ngoài ra còn vận động xã hội hóa trong nhân dân, các tổ chức xã hội khác để trùng
tu, tôn tạo và gây quỹ từ thiện.
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 18 –
- Cấp trang thiết bị nhà văn hóa xã Khánh An và điểm sinh hoạt văn nghệ ấp
Vĩnh Phát xã Vĩnh Lộc theo chương trình mục tiêu quốc gia.
- Nâng cấp nhà văn hóa xã Khánh An từ nguồn kinh phí mục tiêu quốc gia
hỗ trợ 300 triệu đồng.
2.4.2. Nguyên nhân đạt được:
- Các hoạt động văn hóa cơ bản hoàn thành nhiệm vụ là nhờ sự quan tâm
của lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện và Sở Văn hóa- Thể thao và Du
lịch tỉnh, cùng sự hỗ trợ của các cơ quan ban ngành đoàn thể huyện, lực lượng vũ
trang đóng trên địa bàn huyện và Đảng ủy, UBND các xã- thị trấn.
- Kết hợp chặt chẽ việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc với các cuộc vận động, phong trào lớn như: việc đẩy mạnh
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 19 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, phong trào “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4
(khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
- Ngành văn hóa huyện An Phú, thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện,
chủ động đề ra trương trình, kế hoạch hoạt động quản lý nhà nước, sự nghiệp từ
huyện đến cơ sở vào đầu các năm. Công tác quản lý nhà nước về Văn hóa phối hợp
với Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện thực hiện chương trình vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, đã đẩy mạnh, nâng chất cuộc
sống xây dựng gia đình văn hóa; ấp văn hóa; xã văn hóa; cơ quan; trường học văn
hóa; trợ trật tự vệ sinh. Thông qua xây dựng ý thức cộng đồng chăm lo phát triển
kinh tế-xã hội, đấu tranh đẩy lùi các tệ nạn xã hội ở từng địa bàn dân cư.
2.5. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế:
2.5.1. Những hạn chế:
Trong quản lý nhà nước về văn hóa còn một số mặt cần chấn chỉnh, việc
phối hợp với các địa phương chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ nên công tác kiểm tra
Hoạt động lĩnh vực văn hóa các xã, thị trấn còn nhiều hạn chế, bất cập chưa
đáp ứng được yêu cầu đề ra, một số xã- thị trấn chưa củng cố lại Ban Chủ nhiệm
Nhà Văn hóa, có nơi củng cố Ban Chủ nhiệm nhưng chưa xây dựng được chương
trình hoạt động cụ thể. Từ đó, các hoạt động văn hóa ở cơ sở ngày càng xuống cấp,
bên cạnh lãnh đạo xã chưa quan tâm đến công tác này.
Một số cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa hoạt động biến tướng, trá hình, có
biểu hiện tiêu cực. Một số sản phẩm văn hóa không lành mạnh xâm nhập vào địa
bàn huyện An Phú từ CamPuChia sang, làm ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn
hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Đội Thanh tra liên ngành của huyện có kiểm
tra ngăn chặn nhưng chưa kịp thời.
Phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” còn chạy theo thành tích,
các hoạt động và báo cáo kết quả trong việc xây dựng phong trào chưa được nhận
thức sâu sắc và đồng đều ở một số địa phương, chưa phát huy được sức mạnh tổng
hợp của các lực lượng xã hội tham gia; chất lượng phong trào chưa được chú trọng
duy trì; việc tổ chức đăng ký, bình xét khen thưởng chưa thường xuyên và kịp thời.
Cán bộ làm công tác văn hóa thì kiêm nhiệm nhiều việc, hơn nữa chưa được
đào tạo chuyên môn nên hiệu quả hoạt động chưa cao.
Cơ sở vật chất, thiết chế, trang bị từ huyện đến xã- thị trấn chưa đồng đều,
số trang thiết bị trước đây xuống cấp và hư hỏng không sử dụng được, nên hoạt
động phong trào không hiệu quả.
2.6. Bài học kinh nghiệm:
Từ thực tiễn đã rút ra những bài học kinh nghiệm như sau:
Một là: Quán triệt và nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của văn hóa trong
phát triển kinh tế - xã hội đối với các cấp ủy và chính quyền. Tăng cường sự chỉ
đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, nâng cao chất lượng các hoạt động
phong trào Văn hóa văn nghệ - Thể dục thể thao ở cơ sở.
Hai là: Phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với các ngành đoàn thể cấp
huyện đặc biệt các phòng ban chuyên môn của ngành; Cán bộ, đảng viên, công
chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự nêu gương trong
việc xây dựng và thực hiện đời sống văn hóa (nhất là trong việc cưới, việc tang,
tâm đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa và mua sắm các trang thiết bị hoạt động. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 22 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
Chương 3
MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CỦA HUYỆN AN PHÚ
GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2015 3.1. Mục tiêu:
Thực hiện Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ V (nhiệm kỳ 2011 – 2015), kế
- Tăng cường công tác thông tin lưu động, cổ động trực quan, xây dựng các
cụm panô, băng rol, áp phích, hỗ trợ các xã- thị trấn xây dựng các trạm dán tin ở
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 23 –
ở huyện An Phú đến năm 2015
GVHD: Th.S Nguyễn Xuân Hằng HVTH: Phan Thị Mai Thảo
nơi công cộng. Đồng thời nâng cao chất lượng nội dung tuyên truyền nhiệm vụ
chính trị vào các ngày lễ lớn, kỷ niệm của các ngành, chuyển tải chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước kịp thời đến tận quần chúng nhân dân để
hiểu biết thêm và tham gia thực hiện.
- Đẩy mạnh công tác xây dựng, củng cố và phát triển các Câu lạc bộ văn hóa
các xã- thị trấn cùng đồng bào 05 xóm Chăm trong huyện.
- Kết hợp với Bảo tàng An Giang khảo sát, quản lý bảo vệ di tích, phát huy
các di tích lịch sử văn hóa, lịch sử cách mạng và vận động xã hội hóa trong công
tác trùng tu, tôn tạo di tích.
- Thực hiện Đề án của Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh đầu tư trang
thiết bị các thiết chế văn hóa cơ sở, xây dựng mỗi xã- thị trấn, có 01 nhà văn hóa
và gắn với Trung tâm học tập cộng đồng, cũng cố nâng chất phòng đọc sách ở cơ
sở, nhằm nâng cao mức hưởng thụ đời sống văn hóa của nhân dân vùng nông thôn,
vùng sâu, các cụm tuyến dân, đồng thời phát triển về số lượng, chất lượng của
phong trào.
- Quản lý nhà nước về văn hóa và dịch vụ văn hóa, phối hợp với các ngành
chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm lập lại trật tự kỷ cương trong lĩnh vực văn
hóa theo Nghị định số 75 của Chính phủ.
- Cũng cố và ổn định từ huyện đến cơ sở về công tác cán bộ, tiếp tục đào tạo
nguồn kế thừa và chú trọng đến công tác bồi dưỡng, đào tạo người dân tộc Chăm
làm công tác văn hóa ở các xã có đồng bào Chăm sinh sống.
- Thực hiện Nghị quyết số: 05/2005/NQ-CP ngày 14/4/2005 của Chính phủ,
về việc đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa. Trên cơ sở nâng cao nhận
thức về xã hội hóa cho mọi người tự nguyện tham gia hoạt động văn hóa. Đặc biệt
vi phạm, để hiểu biết và nhận thức…đồng thời, để nhân dân tự nhắc nhỡ nhau,
cùng nhau giáo dục và thực hiện tốt pháp lệnh của Nhà nước, nhằm hạn chế tối đa
vụ việc vi phạm.
Kết hợp thanh tra Sở văn hóa, Thể thao và du lịch; đội 814 của huyện
thường xuyên kiểm tra các dịch vụ văn hóa trên địa bàn huyện trong các dịp lễ lớn
và các sự kiện quan trọng của đất nước.
Tổ chức triển khai văn bản pháp luật văn hóa kinh doanh dịch vụ Internet,
karaoke, quảng cáo,…
Phát triển hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở theo kế hoạch, ưu tiên các xã
vùng sâu, nông thôn Biên giới đáp ứng tổ chức nhiều hoạt động văn hóa phục vụ
nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân.
Tiếp tục củng cố tổ chức bộ máy hoạt động văn hóa từ huyện đến cơ sở,
chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa có phẩm chất đạo đức,
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng nỗ nhiệt tình để phục vụ tốt cho yêu cầu
nhiệm vụ mới ở cơ sở.
Tăng cường công tác quản lý về văn hóa, tuyên truyền pháp luật, quy chế,
qui định về các hình thức xử phạt vi phạm trong lĩnh vực văn hóa như: dịch vụ
kinh doanh karaokê; quảng cáo; Internet;…, để cho nhân dân tự nhắc nhỡ với nhau
thực hiện tốt pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh hoạt động văn hóa
và dịch vụ văn hóa.
3.2.2. Phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”:
Về nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền: tiếp tục
đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, có sơ
tổng kết kịp thời phát hiện những nhân tố điển hình tiên tiến đảm bảo việc thực
hiện đồng thời hai nội dung “ xây ” và “ chống ” trong hoạt động văn hóa.
Phát huy đúng mức vai trò của Mặt trận và các đoàn thể trong việc tuyên
truyền vận động quần chúng nhân dân theo từng giới từng ngành nòng cốt là
trong đoàn viên, hội viên tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 và
chương trình hành động của Tỉnh ủy và Huyện ủy. Từ đó huy động mọi nguồn
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa - 25 –
địa phương.
Đội thông tin lưu động phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng xã
chương trình có chuyên đề, xuống cơ sở phục vụ và tuyên truyền đến nhân dân
vùng sâu, vùng xa…
Công tác triểm lãm hình ảnh vào dịp lễ lớn, chương trình quốc gia như: An
toàn giao thông, phòng chống HIV, phòng chống lao, các nhiệm vụ khác của địa
phương…
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về phát triển sự nghiệp văn hóa, nhất là trong lực lượng thanh thiếu niên
các Trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, cơ quan, lực lượng vũ trang,
các tổ chức xã hội để mọi người nhận thức và tham gia thực hiện.