VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ DUY THẮNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ DUY THẮNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
:
838.01.02
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NAM ..............................................................................................................25
2.1. Điều kiện tự nhiên và lịch sử của tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam .................25
2.2. Khái quát về văn hóa tộc người Cơtu .....................................................................28
2.3. Tình hình quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam .............................................................................................39
2.4. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển văn hoá tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ..........................................58
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC
NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM ........................................64
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ................................................................64
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển
văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ..................................................65
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ................................................................68
KẾT LUẬN ..................................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng sinh hoạt tinh thần của con người trong xã hội, phản ánh
trình độ phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Đất nước ta đang trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng cao. Bên cạnh
những thay đổi, chuyển biến về mặt kinh tế nói chung, xã hội đã đặt ra cho lĩnh vực
văn hóa nhiều vấn đề mới. Đặc biệt là những vấn đề nảy sinh do sự thay đổi của cơ
cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sự biến đổi của cơ chế quản lý. Bên cạnh đó còn có
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến đề tài, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều khía cạnh
khác nhau. Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu như:
"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia,
1994; "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh, 2001; "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học,
2002; "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên); "Bản sắc văn hóa dân tộc", Hồ Bá Thâm, Nxb
Văn hóa Thông tin, 2003.
Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có:
“Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội, 1997; "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Ngô Văn Lệ, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1998; Đề tài: "Văn hóa truyền thống của các dân tộc Jrai và Bahnar
ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ Triết học của Lê
Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội; "Văn hóa truyền thống các
dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay", Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ
thuật, số 7/2000; Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu
số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn Hòa...
Nghiên cứu về văn hóa dân tộc Cơtu, cũng có nhiều công trình với nhiều tác
phẩm, dẫn liệu mà chủ yếu là điều tra, truy tìm và giới thiệu những giá trị văn hóa ở
dạng vật thể, phi vật thể, trong đó tiêu biểu có:
Trong cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về văn hóa dân tộc Cơtu là “Tìm hiểu
2
văn hóa Ka Tu”, Nxb Thuận Hóa, năm 2002, tác giả Tạ Đức đã nêu những vấn đề và
cách lý giải những khía cạnh đời sống văn hóa của dân tộc Cơtu, qua đó người đọc có
thể tiếp cận những giá trị và các tập tục của người Cơtu ở Quảng Nam.
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc
người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng và các dân tộc khác trên cả nước
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên quan đến
quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa ở Việt Nam.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển
văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, chỉ rõ những ưu điểm,
hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó trong quản lý nhà nước về
bảo tồn và phát triển văn tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
- Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam
nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển văn hóa, thực trạng bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam và tìm ra phương hướng, các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu là một vấn đề có nội dung rất rộng, trong khuôn khổ của một
luận văn cao học, học viên chỉ đề cập và nghiên cứu một cách khái quát những vấn đề
cơ bản của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh đó, học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để giải
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và
phát triển văn hóa tộc người Cơtu
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn
hóa tộc người Cơtu
Để đưa ra được khái niệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu thì cần phải tìm hiểu một số thuật ngữ sau:
Văn hóa là gì? Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách
hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật
như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Các "Trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi
chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: Văn hóa là cách sống bao
gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận...
Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người, trong quá trình phát
triển, tác động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí
thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, bản tính
con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng sáng tạo của con
người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có
con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của mình.
Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã
hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó, đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội
mà các cá thể là thành viên.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu văn hóa như sau: Văn hóa là tổng thể
những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách
của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và
khác. Bao gồm: Tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn,
truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ
công, truyền thống tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục
truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác.
7
Văn hóa phi vật thể của tộc người Cơtu gồm những tri thức về mối quan hệ của
người Cơtu với môi trường tự nhiên và cuộc sống như kinh nghiệm về mùa vụ, sức
khỏe, ẩm thực; những sáng tạo trong văn học truyền khẩu dân gian như truyện cổ tích,
ca dao, dân ca, dân vũ; nghệ thuật tạo hình như kiến trúc nhà sàn, điêu khắc, chạm trổ
hoa văn; trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực; tiếng nói, chữ viết Cơtu, lễ hội…
Tóm lại, văn hóa của tộc người Cơtu gồm những giá trị văn hóa vật thể và văn
hóa phi vật thể rất độc đáo, phong phú, đa dạng và tinh tế đã cùng với giá trị văn hóa
của các dân tộc anh em khác tạo nên nền văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Tộc người được hiểu như thế nào? Hiện nay, khái niệm dân tộc được sử dụng
trong các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật hoặc trên phương tiện thông tin đại
chúng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau:
Theo nghĩa thứ nhất, “dân tộc” được hiểu là “tộc người”. Với nghĩa này, dân tộc
là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng người có các đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, văn
hoá và ý thức tự giác về cộng đồng có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch
sử. Ví dụ: Dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Ba Na, dân tộc Chăm, dân tộc Cơtu...
Hiểu theo nghĩa này, kết cấu dân cư của một quốc gia có thể bao gồm nhiều dân tộc
(tộc người) khác nhau, trong đó có những dân tộc chiếm đa số trong thành phần dân cư
và có những dân tộc thiểu số. Trong quá trình phát triển của mình, trong bản thân mỗi
dân tộc có thể có sự phân chia thành các nhóm người có những đặc điểm khác nhau về
nơi cư trú, văn hoá, lối sống, phong tục tập quán, nhưng đều được coi là cùng một dân
tộc, bởi có chung 3 điểm đặc trưng của một dân tộc như nói trên đây. Ví dụ: dân tộc
Dao bao gồm nhiều nhóm người, như các nhóm Dao đỏ, Dao tiền, Dao Tuyển, Dao
quần chẹt, Dao Thanh phán, Dao Thanh y, Dao quần trắng.