VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ KIM DUNG
MẠNG LƢỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH
LÀM NGHỀ BIỂN (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI
THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ KIM DUNG
MẠNG LƢỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH
LÀM NGHỀ BIỂN (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI
THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 9 31 03 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4. Phƣơng pháp luận của luận án
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
7. Cấu trúc của luận án
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Những chủ đề nghiên cứu về mạng lƣới xã hội
1.2. Những chủ đề nghiên cứu mạng lƣới xã hội của phụ nữ
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Các khái niệm đƣợc sử dụng trong luận án
2.2. Một số lý thuyết đƣợc sử dụng trong luận án
2.3. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích vấn đề của
luận án
2.4. Khái quát địa bàn nghiên cứu
CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM MẠNG LƢỚI XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ TRONG
GIA ĐÌNH LÀM NGHỀ BIỂN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH
ĐỊNH.
3.1. Quy mô mạng lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
3.2. MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển thông qua các mối quan
Trang
1
1
3
3
4
8
9
88
95
95
119
122
144
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH - HĐH:
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CLB:
Câu lạc bộ
CĐ-ĐH:
Cao đẳng - Đại học
CSXH:
Chính sách xã hội
HĐND:
Hội đồng nhân dân
Trung học phổ thông
TC:
Trung cấp
TDP:
Tổ dân phố
UBND:
Ủy ban nhân dân
VXH:
Vốn xã hội
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.
Đặc điểm mẫu nghiên cứu về MLXH tại thành phố Quy Nhơn
Bảng 3.1.
Bảng 3.9.
Đặc điểm về bạn bè của ngƣời phụ nữ
Bảng 3.10.
Mức độ đi thăm giữa phụ nữ và các thành viên sống riêng (%)
Bảng 3.11.
Mức độ hỗ trợ vật chất giữa phụ nữ và các thành viên sống riêng (%)
Bảng 3.12.
Hỏi ý kiến những việc quan trọng trong gia đình (%)
Bảng 3.13.
Mức độ hỗ trợ giữa phụ nữ và họ hàng (%)
Bảng 3.14.
Mức độ hỏi ý kiến trong họ hàng (%)
Bảng 3.15.
Mức độ hỗ trợ giữa phụ nữ và hàng xóm (%)
Bảng 3.16.
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1.
Mức độ quen biết với hàng xóm láng giềng
Biểu đồ 3.2.
Mức độ phụ nữ và bạn bè đi thăm nhau
Hình 4.1.
Kiểu mạng lƣới xã hội truyền thống hỗ trợ việc làm cho phụ nữ
Hình 4.2.
Kiểu mạng lƣới xã hội hiện đại hỗ trợ việc làm cho phụ nữ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, chủ đề mạng lƣới xã hội (MLXH) đƣợc đặc biệt chú
ý dƣới nhiều góc cạnh khác nhau trong phát triển và ổn định kinh tế xã hội, phát triển
con ngƣời từ vai trò quan trọng của các mối quan hệ, tƣơng tác giữa các cá nhân nhóm - cộng đồng với các thành tố của nó tới quá trình sống của con ngƣời. MLXH là
vô cùng cần thiết và hữu ích, dần đƣợc coi nhƣ một tác nhân quan trọng không thể
thiếu đƣợc giúp con ngƣời cải thiện tốt hơn cuộc sống của mình trong quá trình tạo
dựng gia đình với sinh kế bền vững, đặc biệt đối với chủ thể sống ở những vùng khó
khăn dễ bị tổn thƣơng nhƣ phụ nữ trong gia đình làm nghề biển khi phải đối mặt với
những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào. MLXH nhiều khi đóng vai trò nhƣ nguồn lực
dùng sinh hoạt bị cuốn trôi. Tuy nhiên, tổn thất về ngƣời là tổn thất lớn nhất mà phụ
nữ phải đối mặt khi bị mất mát, thƣơng tật đối với bản thân và các thành viên của gia
đình. Thƣờng những rủi ro này có tác động lâu dài đến cuộc sống vốn đã khó khăn của
phụ nữ, do đó cũng nằm ngoài khả năng giải quyết của họ và gia đình. Vì vậy, nếu có
chung tay giúp sức từ các thành viên trong MLXH nhƣ gia đình, họ hàng, hàng xóm
láng giềng, bạn bè, các tổ chức xã hội cho phụ nữ cũng nhƣ giúp họ đƣợc tiếp cận
nhiều hơn với các chính sách xã hội thì đó sẽ là những nguồn hỗ trợ rất lớn về vật chất,
tinh thần và sinh kế cần thiết giúp họ và gia đình sớm ổn định cuộc sống.
Nhƣ vậy, trên bình diện xã hội học, nghiên cứu về MLXH với tƣ cách là một
vấn đề của xã hội rất cần đƣợc quan tâm đúng mức ở Việt Nam bởi những yêu cầu
xuất phát cả từ mặt lý luận và mặt thực tiễn. Hiện nay, nghiên cứu về MLXH đã có
đƣợc một hệ thống lý luận khá rõ ràng nhƣng những khoảng trống trong nghiên cứu
thực nghiệm vẫn cần đƣợc bổ sung. Chẳng hạn, còn thiếu những mô tả chi tiết về đặc
điểm của MLXH; Còn ít có những phân tích chuyên sâu về vai trò của MLXH trên tất
cả các mặt của đời sống cá nhân, cũng nhƣ chỉ ra các tác động tiêu cực của mạng lƣới
đến cá nhân; Bên cạnh đó, việc tìm ra những nhân tố tác động đến MLXH (cả yếu tố
cá nhân và các yếu tố bên ngoài) là vô cùng quan trọng, vì qua đó có thể thấy MLXH
là một yếu tố động có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau và dẫn đến sự biến
đổi trong mạng lƣới.
Để góp phần khắc phục những khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm về
MLXH, việc thực hiện đề tài “MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển: nghiên
cứu trƣờng hợp tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” sẽ mô tả chi tiết đặc điểm
của MLXH; chỉ rõ cách phát triển MLXH cùng những cơ hội, thách thức bộc lộ; Phân
tích MLXH và những tác động của nó trên thực tế đối với phụ nữ. Những tác động tiêu
cực từ MLXH đối với phụ nữ; Những nhân tố tác động đến MLXH của phụ nữ. Việc
làm rõ những vấn đề trên về MLXH chính là cơ sở khoa học chứng minh sự cần thiết
trong việc tìm hiểu các chiều cạnh về MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển
ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hiện nay.
2
• Khách thể nghiên cứu chính của luận án: Là 400 phụ nữ đại diện hộ gia đình
làm nghề biển. Luận án đƣợc phân tích trên cơ sở của 400 mẫu khảo sát này, do vậy các
đặc điểm MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển chính là đặc điểm của ngƣời
đƣợc hỏi mà chƣa phải là toàn bộ phụ nữ (bà, mẹ, con gái, cháu gái...) trong các gia đình
làm nghề biển tại thành phố Quy Nhơn.
3
• Khách thể bổ trợ của luận án: Các thành viên trong gia đình, họ hàng, hàng
xóm, bạn bè và các tổ chức xã hội chính thức, các tổ chức xã hội tự nguyện, các doanh
nghiệp, công ty ở địa bàn nghiên cứu.
3.2.2. Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Luận án đƣợc nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2014 đến
tháng 8 năm 2016.
3.2.3. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Luận án tiến hành nghiên cứu tại các khu vực dân cƣ ven biển trên địa bàn
thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Cụ thể: hai phƣờng trong nội thành là Đống Đa
và Hải Cảng; hai xã ngoại thành là Nhơn Hải và Nhơn Lý.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Để thực hiện tốt phƣơng pháp nghiên cứu này, đề tài đã tiến hành tra cứu các
nguồn tƣ liệu, bao gồm hệ thống các tài liệu công trình nghiên cứu từ các lĩnh vực
khoa học xã hội có liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nƣớc từ các nguồn nhƣ sách;
luận án; luận văn; bài viết trên các tạp chí: Xã hội học, Nghiên cứu Gia đình và Giới;
Khoa học Xã hội...Ngoài ra các tƣ liệu sẵn có thu thập tại địa bàn nghiên cứu sẽ đƣợc
tổng quan, khái quát và đối sánh với kết quả nghiên cứu của đề tài.
4.2. Phương pháp thu thập thông tin
4.2.1. Phương pháp thu thập thông tin định lượng
• Cách thức chọn mẫu
Trong điều kiện số lƣợng các phƣờng/ xã vùng ven biển thành phố Quy Nhơn
٧ Xã Nhơn Lý có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ
Xã Nhơn Hải có 100 mẫu chia đều cho 10 TDP, mỗi TDP có 10 phụ nữ.
• Mô tả đặc điểm bảng hỏi
Luận án sử dụng bảng hỏi định lƣợng nhằm tiến hành phỏng vấn trực tiếp 400
phụ nữ trong các gia đình làm nghề biển.
Bảng hỏi gồm tất cả 77 câu hỏi, trong đó có 56 câu hỏi đóng, 8 câu hỏi mở, 13
câu hỏi vừa đóng vừa mở.
Bảng hỏi đƣợc chia làm 5 phần: Phần 1 có 7 câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu xã hội của phụ nữ dùng để mô tả đặc điểm phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, đồng
thời cũng là những phân tổ chính khi xử lý thông tin định lƣợng; Phần 2 có 49 câu hỏi
về các thành phần của MLXH dùng để mô tả đặc điểm về MLXH của phụ nữ trong gia
đình làm nghề biển, đồng thời cũng là những phân tổ chính khi xử lý thông tin định
lƣợng; Phần 3 có 14 câu hỏi về sự hỗ trợ của MLXH dùng để phân tích vai trò của
MLXH; Phần 4 có 4 câu hỏi về chính sách xã hội dùng để phân tích các yếu tố tác
động đến MLXH và phần 5 có 3 câu hỏi về tầm quan trọng của MLXH dùng để phân
tích quá trình phát triển MLXH
5
• Mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu
Đặc điểm mẫu nghiên cứu đƣợc thể hiện ở bảng 1.
Bảng 1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu về MLXH tại thành phố Quy Nhơn
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội
Độ tuổi
24-34
35-44
45-59
60-68
Trình độ học vấn
Mù chữ
13
40
155
166
23
1
2
254
2
28
36
9
30
41
44
28
148
157
23
374
4
20
2
Tỷ lệ (%)
15,3
29,0
48,0
7,8
3,3
٧ Trình độ học vấn
Phần lớn phụ nữ trong mẫu khảo sát có trình độ học vấn ở mức phổ cập: tiểu
học (TH) chiếm 38,8%, trung học cơ sở (THCS) chiếm 41,5%, trung học phổ thông
(THPT) chiếm 5,8%. Tỷ lệ phụ nữ có trình độ trung cấp (TC) - nghề và cao đẳng, đại
6
học (CĐ-ĐH) thấp, chỉ chiếm lần lƣợt là 0,3% và 0,5%. Có đến 10% chỉ mới đạt trình
độ học vấn là biết đọc, biết viết, thậm chí có 3,3% phụ nữ là mù chữ.
٧ Nghề nghiệp
Phụ nữ trong mẫu khảo sát chủ yếu làm ngƣ nghiệp (chiếm 63,5%); có 9% phụ
nữ kinh doanh, buôn bán; Có 7,5% phụ nữ làm lao động tự do; Có 7% phụ nữ làm
công nhân trong các công ty, doanh nghiệp; Có 2,3% phụ nữ là công chức, viên chức;
Có 0,5% phụ nữ làm nông nghiệp và có đến 10,3% phụ nữ không có việc làm.
٧ Thu nhập
Phụ nữ trong mẫu khảo sát có mức thu nhập trung bình so với mặt bằng thu
nhập chung (từ 2 triệu - dƣới 5 triệu đồng/ tháng chiếm 39,2%). Một số phụ nữ có thu
nhập thấp hơn (dƣới 500 ngàn đồng/ tháng chiếm 7% và không có thu nhập chiếm
11%). Chỉ có 5,8% phụ nữ có thu nhập trên 5 triệu đồng/ tháng.
٧ Tình trạng hôn nhân
Phụ nữ trong mẫu khảo sát phần lớn họ đã kết hôn. Có 93,5% đang sống cùng
với chồng; phụ nữ đã ly hôn chiếm 1%; phụ nữ đã góa bụa chiếm 5%; và phụ nữ chƣa
kết hôn chiếm 0,5%.
Tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ là 23,8 (trong đó ngƣời có thời gian kết hôn
ít nhất là 1 năm và dài nhất là 57 năm). Cụ thể: độ tuổi kết hôn từ 21-30 năm chiếm
Tiến hành thảo luận nhóm tập trung đối với các nhóm phụ nữ trong gia đình làm
nghề biển. Tổng cộng có 6 nhóm phụ nữ (ngƣ nghiệp; công nhân; không có nghề nghiệp;
đơn thân; thanh niên; ngƣời cao tuổi); mỗi nhóm có 8-10 ngƣời tham gia. Trong đó, ở mỗi
phƣờng là 2 thảo luận nhóm, còn ở mỗi xã có 1 thảo luận nhóm.
Mục tiêu của thảo luận nhóm tập trung nhằm thu thập thông tin sâu hơn về các chủ
đề nghiên cứu của luận án...Bảng hƣớng dẫn thảo luận nhóm tập trung tổng cộng có 10
câu hỏi với các nội dung về nghề nghiệp và sự hỗ trợ từ MLXH đến hoạt động nghề
nghiệp của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển.
• Quan sát
Luận án sử dụng phƣơng pháp quan sát tìm hiểu một số thông tin để bổ sung
thêm những nhận định ban đầu về nghiên cứu. Nội dung quan sát gồm:
٧ Sinh hoạt và những quan hệ diễn ra trong gia đình và ngoài gia đình phụ nữ
٧ Tham gia hoạt động nghề nghiệp, hoạt động cộng đồng...của phụ nữ
٧ Hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong gia đình và ngoài gia đình của phụ nữ.
Các thông tin từ biên bản quan sát thu thập trong quá trình khảo sát thực nghiệm
đƣợc sử dụng để dẫn giải và phân tích một số nội dung nghiên cứu của luận án.
Toàn bộ thông tin từ phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và quan sát đƣợc
phân loại, chọn lọc dƣới dạng trích dẫn để dẫn giải và phân tích vấn đề.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
• Đóng góp về mặt lý luận: Luận án đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận khá
hoàn chỉnh về mạng lƣới xã hội để dẫn đƣờng cho nghiên cứu thực nghiệm về mạng
lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển, bao gồm hệ thống luận điểm về
khái niệm mạng lƣới xã hội và các yếu tố liên quan đến mạng lƣới xã hội; hệ thống các
8
lý thuyết nghiên cứu về mạng lƣới xã hội nhƣ lý thuyết phân tích mạng lƣới xã hội, lý
thuyết vốn xã hội và lý thuyết tƣơng tác biểu trƣng.
• Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận án xác lập cơ sở thực tiễn từ kết quả nghiên
cứu thực tiễn về mạng lƣới xã hội của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển nhƣ mô tả
9
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Những chủ đề nghiên cứu về mạng lƣới xã hội
1.1.1. Phương pháp nghiên cứu mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Theo S. Wasserman và K. Faust (1994) thì phƣơng pháp phân
tích MLXH chỉ thực sự ra đời cùng với xuất hiện của phƣơng pháp “trắc lƣợng xã hội”
(socialmetry) của nhà tâm lý học ngƣời Mỹ gốc Romania là J. L. Moreno (1889-1974)
đƣợc trình bày trong tác phẩm "Ai sẽ là ngƣời sống sót?" (Who Shall Survive?) vào
năm 1934. Trong tác phẩm này, ông đã đƣa ra các nguyên tắc và công cụ của phƣơng
pháp trắc lƣợng xã hội. Theo ông, phƣơng pháp này gồm có hai công cụ cơ bản là
“sociometric test” và “lƣợc đồ xã hội” (sociogram). Với công cụ này, nhà nghiên cứu
sẽ khám phá đƣợc các cấu trúc xã hội trong nhóm, trong tổ chức thông qua việc làm
sáng tỏ các lực hút (attractions) và các lực đẩy (repulsions) giữa các thành viên trong
một nhóm, một tổ chức (chẳng hạn hỏi từng thành viên xem họ thích và không thích ai
trong mạng lƣới) thông qua bảng ma trận. Sau đó nhà nghiên cứu sẽ dùng đến những
công cụ “lƣợc đồ xã hội” để thể hiện trên mặt phẳng những lực hút và lực đẩy giữa các
thành viên trong nhóm/ tổ chức đó. Trong lƣợc đồ xã hội, các điểm thể hiện các chủ
thể và các đƣờng nối thể hiện các mối liên kết giữa các chủ thể trong nhóm/ tổ chức.
Với việc thể hiện trên mặt phẳng, chúng ta sẽ nhìn thấy “hình ảnh” cụ thể của cấu trúc
xã hội. Tuy không khẳng định nhƣ S. Wasserman và K. Faust, nhƣng nhiều nhà nghiên
cứu cũng đã thống nhất rằng phƣơng pháp trắc lƣợng xã hội của J. L. Moreno là công
cụ phân tích đầu tiên của phƣơng pháp phân tích MLXH [dẫn theo Lê Minh Tiến
2006:70].
G. Simmel đƣợc xem nhƣ là ngƣời khởi xƣớng cách tiếp cận cấu trúc (nghiên
cứu tính hợp thức và các đặc trƣng cấu trúc của mạng lƣới) trong phân tích MLXH.
Hƣớng tiếp cận mang tính hình thức chú trọng đến hình thức của các tƣơng tác mà bỏ
qua nội dung của các tƣơng tác. Để lý giải cho việc nghiên cứu ƣu tiên các hình thức
thống kê các mối quan hệ thƣờng ngày mà cá nhân thực hiện và duy trì; (3) thống kê
các mối quan hệ quan trọng mà cá nhân có thể có hoặc đã có nhƣng không bắt buộc
phải là các hoạt động thƣờng ngày sau đó; (4) tiến hành chuỗi các trao đổi phỏng vấn
với nhân tố đó bằng các câu hỏi và các tiếp xúc của anh/ chị ta. Lợi ích và những hạn
chế của cách tiếp cận phi cấu trúc ở chỗ, mạng lƣới cá nhân thể hiện đầy đủ những
phạm vi mang tính nhận thức và cá nhân của các xử sự trong quan hệ. Cách tiếp cận
này cho phép nắm bắt các động thái, các vận động và các đặc trƣng thay vì tìm kiếm
tính thƣờng xuyên và các hình thức cố định. Tuy nhiên, cách tiếp cận này tập trung
vào khía cạnh mang tính cá nhân của các hiện tƣợng xã hội và không chú trọng tới
phân tích tổng thể [dẫn theo Emmanuel Pannier 2008:110].
Ở Việt Nam: Những nghiên cứu MLXH cũng áp dụng các phƣơng pháp nghiên
cứu trên thế giới, đó là phân tích cấu trúc và phi cấu trúc. Lê Minh Tiến (2006) xác
định phƣơng pháp phân tích MLXH nhƣ là một tập hợp các phƣơng thức chọn mẫu,
thu thập và xử lý dữ kiện, các khái niệm, các lý thuyết nhằm mô tả và phân tích mối
11
quan hệ giữa các actor trong mạng lƣới, các quy luật hình thành và chuyển biến của
những mối quan hệ đó, và nhất là làm sáng tỏ những ảnh hƣởng của các mối quan hệ
xã hội (hay cấu trúc của mạng lƣới) đối với hành vi của các actor. Có thể nhận thấy
phƣơng pháp phân tích MLXH khác với lối phân tích theo biến số truyền thống. Theo
đó, phân tích theo biến số thƣờng dùng trong nghiên cứu thực nghiệm xã hội học chú
trọng đến các đặc trƣng dân số học và kinh tế - xã hội của các tác nhân nhƣ tuổi tác,
giới tính, học vấn...và xem hành vi của cá nhân bị quy định bởi những đặc trƣng đó.
Trong khi lối phân tích MLXH nhấn mạnh đến quan hệ xã hội giữa các tác nhân, coi
đó là yếu tố quyết định đến hành vi chứ không phải là các đặc trƣng của các tác nhân.
Đồng thời, sự khác biệt của các tác nhân không do các đặc trƣng quyết định mà là cấu
trúc của các quan hệ xã hội quyết định [58]. Vũ Quang Hà (2001) cho rằng điểm trọng
tâm trong phân tích MLXH là nghiên cứu các quan hệ nối kết của các thành viên (cá
thể và tập thể) mà "không đƣợc ràng buộc đầy đủ và không đan bện chặt chẽ để có thể
Quan điểm về sự đồng dạng (homophily) trong MLXH của J. Miller Mc
Pherson, Lynn Smith - Lovin đã nhấn mạnh đến những đặc điểm chung nhất tạo nên
sự chia sẻ chung giữa các cá nhân hay cộng đồng có khả năng tạo ra các mối liên kết,
từ đó hình thành nên MLXH. Theo phân tích dựa trên các yếu tố: chủng tộc và tộc
ngƣời, nhóm tuổi, tôn giáo, giáo dục, nghề nghiệp và giai cấp xã hội, vị trí trong mạng
lƣới, hành vi, thái độ, khả năng, niềm tin và khát vọng. Các yếu tố này đƣợc phân định
thành hai loại đồng dạng là đồng dạng nền tảng (các yếu tố chủng tộc và tộc ngƣời,
nhóm tuổi...) và đồng dạng khác biệt (các yếu tố giới tính và giới, giáo dục, nghề
nghiệp) [37].
Các nhà nghiên cứu xã hội học về MLXH đã phát hiện ra mối quan hệ chặt chẽ
giữa MLXH và vốn xã hội (VXH) và kết hợp lý thuyết nghiên cứu MLXH với lý
thuyết nghiên cứu VXH trong những nghiên cứu về MLXH hay VXH. Phân tích có hệ
thống đầu tiên về VXH là của Pierre Bourdier (1986). Ông đã định nghĩa khái niệm
VXH là "tập hợp những nguồn lực hiện hữu hoặc tiềm tàng, gắn với việc có một mạng
lƣới bền vững những quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều đƣợc thể chế
hóa" [84:198]. Tiếp nối những quan điểm về mối quan hệ giữa VXH và MLXH của
Bourdier; Coleman (1988) cũng cho rằng VXH nằm trong quan hệ xã hội [92]; hay
theo Putnam (1993) cho rằng MLXH là một thành tố của VXH [115] hay theo Portes,
Alejandro (1998) thì cần quan sát VXH thông qua MLXH [114]. Về mặt thực nghiệm,
một trong những nghiên cứu đáng kể nhất là về ngƣời nhập cƣ và nghề thầu khoán
theo tộc ngƣời của Alejandro Pores (2003), trong đó MLXH và VXH lƣu chuyển qua
nó trƣớc sau đều đƣợc xác định là một nguồn lực then chốt để tạo ra các cơ sở kinh
doanh nhỏ [1]. Hary Goulbourne (2006) cho rằng, tổ chức gia đình đƣợc coi là đơn vị
cơ bản nhất của trật tự xã hội với chức năng bảo tồn nòi giống. Từ cấu trúc gia đình
(gia đình hạt nhân hay gia đình mở rộng) đến các mối quan hệ thân tộc và các chuỗi
MLXH đƣợc liên kết qua yếu tố sinh học cũng nhƣ các thiết chế xã hội và luật pháp
(luật hôn nhân), ngƣời thực hiện và các tổ chức kiểm soát luật. Điều đó đã cung cấp
một luận điểm quan trọng để đề xuất ý tƣởng về VXH có thể liên quan đến gia đình,
cộng đồng và bản sắc của họ. VXH là một dạng vốn đƣợc sở hữu bởi các thành viên
quan chính quyền địa phƣơng và các cơ quan chức năng có thể giúp giảm chi phí giao
dịch kinh tế cho các doanh nghiệp gia đình và tăng cƣờng khả năng huy động nguồn
lao động khi cần thiết [50]. Nghiên cứu về “Vai trò của việc sử dụng VXH trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội” của Trần Tú Hoa (2010) đã
cho thấy VXH có vai trò quan trọng đối với phát triển doanh nghiệp. Đóng góp này
thông qua việc phát triển các mối quan hệ xã hội, thông qua việc sử dụng VXH trong
các hoạt động của doanh nghiệp. Vai trò của việc sử dụng VXH thể hiện ở sự tham gia
của doanh nghiệp vào các mạng lƣới sản xuất, kinh doanh để tìm kiếm những động lực
và cơ hội hợp tác, phát triển mới. Tiếp đến là các nguồn thông tin từ mạng lƣới kinh
doanh sẽ giúp doanh nghiệp đề ra các giải pháp và chiến lƣợc phát triển doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chƣa chú ý đến tính hai mặt (tích cực/tiêu cực) của VXH
với vai trò là động lực của sự phát triển doanh nghiệp [21].
15
Nhƣ vậy, có thể nhận thấy nghiên cứu MLXH trên thế giới đã có đƣợc một hệ
thống lý thuyết tƣơng đối hoàn chỉnh có thể ứng dụng trong các nghiên cứu thực
nghiệm. Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu MLXH cũng vận dụng hầu hết những lý
thuyết này trong những nghiên cứu thực nghiệm và đã đạt đƣợc những thành công nhất
định. Trong đó lý thuyết "Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" đƣợc nhiều nhà nghiên
cứu sử dụng để phân tích mối quan hệ trong MLXH. Tuy nhiên, theo tác giả nghiên
cứu MLXH cần kết hợp các lý thuyết MLXH với lý thuyết vốn xã hội và một số lý
thuyết khác để hiểu rõ hơn về việc phát huy VXH của cá nhân thông qua mạng lƣới
của họ. Đồng thời chỉ ra các tác động tiêu cực của MLXH đối với cá nhân trong quá
trình phát triển.
Từ kết quả tổng quan các lý thuyết nghiên cứu về MLXH, luận án sử dụng lý
thuyết "Sức mạnh của các mối quan hệ yếu" làm nền tảng để đo lƣờng xem trong
MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển tồn tại các mối quan hệ nào là mạnh/
và quan hệ nào là yếu? Các quan điểm về sự "đồng dạng", "trung gian" trong mạng
lƣới cũng đƣợc áp dụng nhằm xác định trong MLXH của phụ nữ có sự đồng dạng
Cũng bàn về quy mô MLXH ở nông thôn, Ngô Đức Thịnh (2008) chỉ ra ba hình thức
tổ chức xã hội ở nông thôn Việt Nam nhƣ liên kết theo huyết thống (gia đình, dòng
họ), liên kết theo cƣ trú (làng xã, quốc gia...) và liên kết theo lợi ích (giai cấp, nghiệp
đoàn). Từ ba dạng liên kết, ba hình thức tổ chức xã hội nông thôn cơ bản tạo nên các
MLXH khá đa dạng [53].
Từ kết quả tổng quan nghiên cứu về quy mô, mật độ của MLXH, luận án mô tả
quy mô MLXH của phụ nữ trong gia đình làm nghề biển với tiêu chí đo lƣờng đó là số
lƣợng thành viên trong mạng lƣới, bao gồm số lƣợng thành viên trong gia đình, họ
hàng, hàng xóm, bạn bè và các TCXH. Tuy nhiên, luận án chƣa đề cập đến mật độ của
mạng lƣới và xem đây là khoảng trống trong nghiên cứu cần đƣợc các nghiên cứu tiếp
theo về MLXH bổ sung, hoàn thiện.
• Nghiên cứu về các mối quan hệ trong mạng lưới xã hội
Trên thế giới: Lee Jae Yeol khi nghiên cứu quan hệ xã hội của ngƣời Hàn đã
chia ra làm 4 loại hình nhƣ sau: Loại hình 1 (các mối quan hệ lâu dài và chắc chắn
(strong and long ties) là các mối quan hệ đƣợc duy trì trong thời gian dài và tần suất
tiếp xúc thƣờng xuyên. Các quan hệ gia đình thuộc vào loại này. Loại 2 (mối quan hệ
lâu dài nhƣng lỏng lẻo - weak but long ties) là mối quan hệ đƣợc duy trì trong thời
gian dài nhƣng tần số tiếp xúc không thƣờng xuyên. Nó ứng với các quan hệ họ hàng,
đồng hƣơng, đồng học...Loại hình 3 (mối quan hệ ngắn nhƣng chắc chắn - strong but
short ties) là mối quan hệ đƣợc hình thành tƣơng đối mới nhƣng tần số tiếp xúc thƣờng
xuyên. Quan hệ hàng xóm, đồng nghiệp thuộc vào loại này. Loại hình 4 (mối quan hệ
ngắn và lỏng lẻo - weak and short ties) là các mối quan hệ mới hình thành và tần số
quan hệ ít. Các mối quan hệ nhƣ hội cùng sở thích, nhân viên công chức nhà nƣớc,
đoàn thể xã hội và các quan hệ khác thuộc về loại này [dẫn theo Nguyễn Qúy Thanh,
Cao Thị Hải Bắc, 2012:38-39].
17
Ở Việt Nam: Hầu nhƣ các nghiên cứu MLXH ở Việt Nam chú trọng vào chỉ rõ
gọi là cục bộ vì các thành viên thƣờng tƣơng tác trực tiếp với nhau, do đó, các thành
viên có khuynh hƣớng tập trung về mặt địa lý. Các mạng lƣới mở rộng bao gồm các
mối quan hệ yếu và lỏng lẻo hơn, do đó các thành viên của mạng lƣới mở rộng tƣơng
18