Giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường cao đẳng từ thực tiễn tỉnh bình định - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRÙNG DƯƠNG

GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRÙNG DƯƠNG

GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành : Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số

: 838.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Võ Khánh Minh.
Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Tác giả luận văn

Nguyễn Trùng Dương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON
NGƯỜI CHO SINH VIÊN .......................................................................................8
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giáo dục quyền con người cho sinh viên .....8
1.2. Các thành tố của giáo dục quyền con người cho sinh viên ................................16
1.3. Các yếu tố đảm bảo giáo dục quyền con người cho sinh viên ...........................29
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH
VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH......34
2.1. Các yếu tố đặc thù của tỉnh Bình Định tác động đến giáo dục quyền con người
cho sinh viên các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Bình Định ...............................34
2.2. Thực tiễn giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường cao đẳng trên địa
bàn tỉnh Bình Định ....................................................................................................39
CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO
DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH ..................................................................57
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả giáo dục quyền con người cho sinh viên các
trường cao đẳng từ thực tiễn tỉnh Bình Định ............................................................57
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục quyền con người cho sinh viên các


SV

: Sinh viên

UBND

: Ủy ban nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1. Ngành nghề đào tạo của các trường cao đẳng tại tỉnh Bình Định
Bảng 2. Thống kê số lượng sinh viên và giảng viên các trường cao đẳng tại tỉnh
Bình Định
Bảng 3. Thống kê số lượng sinh viên cao đẳng tốt nghiệp hàng năm tại tỉnh
Bình Định
Bảng 4. Số lượng sinh viên chính quy học học phần Pháp luật đại cương, Pháp
luật hàng năm và số lượng giảng viên giảng dạy pháp luật tại các trường
cao đẳng ở Bình Định
Bảng 5. Nội dung chương trình Pháp luật đại cương đối với ngành sư phạm
trình độ cao đẳng
Bảng 6. Nội dung chương trình pháp luật trình độ cao đẳng nghề
Bảng 7. Nội dung chương trình pháp luật trình độ cao đẳng nghề
Bảng 8. Các văn bản liên quan đến giáo dục quyền con người và giáo dục quyền
con người cho sinh viên, giáo dục pháp luật và giáo dục pháp luật cho sinh viên


1


cán bộ quản lí giáo dục về tầm quan trọng, ý thức tự bảo vệ các quyền của bản thân,
tôn trọng nhân phẩm, các quyền và tự do của người khác; ý thức về trách nhiệm,
nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước và xã hội, góp phần phát triển toàn diện
con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững của đất nước.
Và mục tiêu cụ thể là đến năm 2025, 100% các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo
dục quốc dân tổ chức giáo dục quyền con người cho người học [31]. Tuy nhiên, ở
phương diện lý luận vẫn chưa có hệ thống lý luận tổng thể, toàn diện về GDQCN
cho nhóm đối tượng cụ thể là sinh viên, bao gồm: giáo dục quyền con người cho
SV; vai trò của giáo dục quyền con người cho SV; mục tiêu, nội dung, chủ thể, các
hình thức, các phương pháp GDQCN cho sinh viên; kinh nghiệm quốc tế trong giáo
dục quyền con người cho sinh viên và các vấn đề khác. Như vậy, cần phải nghiên
cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận đó nhằm xây dựng được hệ thống lý luận tổng
thể, toàn diện về GDQCN cho sinh viên làm cơ sở lý luận cho việc tiến hành giáo
dục quyền con người cho sinh viên có chất lượng, hiệu quả trong thực tiễn.
Hơn nữa, cộng đồng quốc tế ngày càng quan tâm nhiều hơn đến giáo dục quyền
con người ở phạm vi toàn cầu, khu vực, quốc gia và địa phương. Chương trình giáo
dục nhân quyền toàn cầu – một sáng kiến toàn cầu của LHQ từ năm 2005 đã và
đang khuyến khích các biện pháp cụ thể để đưa giáo dục quyền con người vào mọi
lĩnh vực. Đây cũng là một trong những nhân tố tác động mạnh, đặt ra yêu cầu tăng
cường GDQCN ở nước ta nói chung và giáo dục quyền con người cho sinh viên các
trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng.
Chính vì thế, tôi chọn vấn đề: “Giáo dục quyền con người cho sinh viên các
trường cao đẳng từ thực tiễn tỉnh Bình Định” làm đề tài luận văn thạc sĩ nhằm đưa
ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục quyền con người cho sinh viên các
trường cao đẳng tỉnh nhà trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu trong nước

quyền con người trong các cơ sở đào tạo đại học không có chuyên ngành Luật” của
PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh và Ths. Nguyễn Thị Báo (Tạp chí Khoa giáo, số 1 + 2,
2007); Chuyên đề “Nghiên cứu giảng dạy về quyền con người” (Thông tin Quyền
con người, số 3, 2007); Chuyên khảo “Giáo dục quyền con người, những vấn đề lý
luận và thực tiễn” của GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (Nxb. Khoa học xã hội, năm

3


2010); Báo cáo khoa học tổng quan đề tài cấp cơ sở “Giáo dục quyền con người_lý
luận, thực tiễn Quốc tế và Việt Nam” do Ths. Nguyễn Văn Tuấn làm chủ nhiệm đề
tài (Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa luật năm 2010)…Trong đó, cuốn chuyên khảo
“Giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay” của TS. Võ Khánh Minh chủ
biên (Nxb. Khoa học xã hội, năm 2016) đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của
mô hình tổng thể, toàn diện về giáo dục quyền con người ở Việt Nam; phân tích, đánh
giá khái quát về GDQCN ở Việt Nam theo mô hình lý luận tổng thể đối với bậc phổ
thông, bậc đại học và sau đại học; trình bày kinh nghiệm quốc tế về giáo dục quyền con
người; và đề xuất giải pháp tăng cường GDQCN ở Việt Nam hiện nay.
Những công trình nghiên cứu trên là đóng góp to lớn cho nền giáo dục quyền
con người còn non trẻ của Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chủ
yếu tập trung vào vấn đề GDQCN nói chung, hay giáo dục quyền con người ở bậc
phổ thông, bậc đại học và bậc sau đại học một cách khái quát, mà chưa đưa ra
những vấn đề lý luận về GDQCN cho nhóm đối tượng cụ thể là SV các trường CĐ.
Do vậy, để có cái nhìn chi tiết hơn về giáo dục quyền con người cho nhóm đối
tượng này vẫn là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các học giả, các nhà nghiên cứu.
Thêm vào đó, chưa có một tác giả nào nghiên cứu về GDQCN cho SV các trường
CĐ ở tỉnh Bình Định. Vì vậy, đề tài “Giáo dục quyền con người cho sinh viên các
trường cao đẳng từ thực tiễn tỉnh Bình Định” sẽ góp phần tạo nên một cái nhìn cụ
thể, hướng đi cụ thể để giáo dục, đào tạo một thế hệ mới của tỉnh nhà với ý thức tôn
trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

viên trong các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Bình Định; chỉ rõ những kết quả
đạt được, thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục quyền
con người cho sinh viên các trường cao đẳng trên địa bàn cả nước nói chung, tại
tỉnh Bình Định nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống quy định pháp luật về giáo dục, giáo dục pháp luật và giáo dục
quyền con người;
- Thực trạng giáo dục quyền con người cho sinh viên tại tỉnh Bình Định;
- Kinh nghiệm giáo dục quyền con người cho sinh viên của một số quốc gia
trên thế giới và một số địa bàn trong nước.

5


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Giáo dục quyền con người cho sinh viên thuộc hình thức đào tạo chính quy
trong các trường cao đẳng không chuyên luật trên địa bàn tỉnh Bình Định từ năm
2012 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, pháp luật của
nhà nước về giáo dục và đào tạo, lý luận về giáo dục pháp luật, giáo dục quyền con
người.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp như: phương
pháp điều tra, khảo sát, thống kê tình hình giáo dục pháp luật, giáo dục quyền con
người cho sinh viên từ thực tiễn các trường cao đẳng của tỉnh Bình Định. Trên cơ sở



CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN
CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giáo dục quyền con người cho
sinh viên
1.1.1. Quan niệm giáo dục quyền con người cho sinh viên
Quan niệm về giáo dục quyền con người là một trong những vấn đề lý luận
quan trọng đầu tiên của giáo dục quyền con người nói chung và giáo dục quyền con
người cho SV nói riêng. Việc làm sáng tỏ quan niệm về giáo dục quyền con người
là một trong những vấn đề lý luận cơ bản và có ý nghĩa quyết định đối với việc nhận
thức nhiều khái niệm khác trong lý luận về GDQCN và định hướng cho các hoạt
động thực tiễn giáo dục quyền con người. Quan niệm về giáo dục quyền con người
là một bộ phận được hình thành từ quan niệm giáo dục pháp luật và quan niệm
quyền con người. Vì vậy, để có cơ sở nghiên cứu quan niệm về giáo dục quyền con
người phải xuất phát và dựa vào các quan niệm về GDPL và quyền con người.
1.1.1.1. Quan niệm về giáo dục pháp luật
Cho đến nay, ở nước ta vẫn có những quan điểm khác nhau về giáo dục pháp
luật. Cơ bản, có thể khái quát 4 nhóm quan điểm về GDPL như sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo
dục chính trị, tư tưởng và của giáo dục đạo đức. Nghĩa là, nếu tiến hành giáo dục
chính trị, tư tưởng, đạo đức tốt thì trên thực tế có thể đạt được sự tôn trọng pháp luật
của công dân [7]. Quan điểm này đã không cân nhắc đến tính độc lập tương đối
mang tính thực chất của GDPL, chưa xác định rõ những điểm tương đồng và những
điểm khác biệt của các dạng thức giáo dục đó.
Nhóm quan điểm thứ hai, đồng nhất giáo dục pháp luật với tuyên truyền, phổ
biến pháp luật. Trong hoạt động khoa học và cuộc sống hàng ngày chúng ta hay sử
dụng các khái niệm: tuyên truyền pháp luật, phổ biến pháp luật, giải thích pháp luật,
GDPL. Nhìn nhận chung, mọi người đều cho rằng đó là các dạng hoạt động nhằm

văn hóa pháp luật [21, tr.32].

9


1.1.1.2. Quan niệm về quyền con người
Quyền con người là nội dung của giáo dục quyền con người, cho nên quan
niệm rộng hay hẹp về QCN có tác động đến việc xây dựng chương trình, nội dung
giáo dục quyền con người. Vì thế, việc xây dựng quan niệm GDQCN cần xuất phát
từ và dựa vào quan niệm quyền con người. Để xây dựng nội dung, chương trình
giáo dục quyền con người phù hợp, cần có cách tiếp cận rộng trong quan niệm về
QCN, thể hiện ở những nội dung quan trọng sau:
Thứ nhất, tiếp cận quyền con người với tư cách là một khoa học – khoa học
QCN. Khoa học quyền con người là hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật, tri
thức có liên hệ nội tại với nhau về QCN. Nhận thức khoa học về quyền con người
giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực GDQCN.
Thứ hai, tiếp cận quyền con người với tư cách một lĩnh vực pháp luật – pháp
luật về quyền con người. Pháp luật về QCN bao gồm tổng thể mục đích, định
hướng, các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật về QCN có mối quan hệ nội tại
thống nhất với nhau, được phân thành các chế định và thực hiện trong các văn bản
quy phạm pháp luật về quyền con người. Pháp luật về quyền con người là một hệ
thống bao gồm hai bộ phận cấu thành là hệ thống cấu trúc pháp luật về QCN và hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người. Pháp luật về quyền con
người là một tiểu hệ thống, một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống pháp luật của
từng quốc gia.
Thứ ba, tiếp cận quyền con người với tư cách là một lĩnh vực thực tiễn, một
lĩnh vực của đời sống con người. Thực tiễn quyền con người là những hoạt động vật
chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội trong lĩnh vực QCN nhằm hiện thực
hóa quyền con người; thể hiện bản chất của QCN, của con người. Nhờ vào và bằng
thực tiễn quyền con người như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình

trình chịu sự tác động của các yếu tố khách quan (chế độ kinh tế, chế độ chính trị,
môi trường sống) và các nhân tố chủ quan (định hướng giá trị, lợi ích của cá nhân,
tính tích cực chính trị - xã hội, ý thức và văn hóa pháp luật ...). Các yếu tố khách
quan đóng vai trò tạo ra các điều kiện, môi trường hoặc tích cực hoặc tiêu cực đối
với giáo dục quyền con người. Các nhân tố chủ quan đóng vai trò tạo ra động lực
thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với GDQCN. Quan niệm giáo dục quyền con người theo

11


nghĩa rộng có ý nghĩa quan trọng là: thấy được quá trình xã hội hóa pháp luật của cá
nhân nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng chịu sự tác động, sự chi phối
của rất nhiều yếu tố xã hội; không đồng nhất, không coi giáo dục chính trị, giáo dục
tư tưởng, giáo dục đạo đức, hoặc coi GDQCN chỉ là việc tuyên truyền, phổ biến các
văn bản pháp luật về quyền con người.
Thứ ba, giáo dục quyền con người là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ
chức, có kế hoạch của chủ thể giáo dục quyền con người để truyền tải, truyền đạt
những nội dung (thông tin, tri thức, năng lực về quyền con người), thông qua các
hình thức và phương pháp khác nhau đến đối tượng tiếp nhận GDQCN nhằm đạt
được những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm GDQCN: là hoạt động có định hướng, có tổ
chức, có chủ đích của các chủ thể giáo dục quyền con người đến đối tượng giáo dục
quyền con người thông qua các hình thức và phương pháp nhất định nhằm trang bị
tri thức quyền con người, kinh nghiệm, kỹ năng về quyền con người, giá trị, thái độ
và hành vi tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người [21, tr.38 -39].
1.1.1.4. Khái niệm giáo dục quyền con người cho sinh viên
Đầu tiên, có thể thấy đây là khái niệm nói về công tác giáo dục quyền con
người cho một đối tượng rất cụ thể, đó là SV. Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Sinh
viên là người đang học ở bậc đại học” [29]; Khoản 1, Điều 83 Luật Giáo dục 2005
quy định “người học bao gồm: “Sinh viên của trường cao đẳng, trường đại học”

của đối tượng ấy. Với sinh viên, có những đặc điểm riêng sau đây:
Xét về góc độ sinh lý, tự nhiên, sinh viên thuộc nhóm tuổi thanh niên từ 18
đến 25 tuổi, những công dân thành niên trẻ với sức khỏe sung mãn nhất, trí tuệ vừa
đủ chín đang chuẩn bị bước vào quá trình lao động sản xuất làm ra của cải vật chất.
Tuy nhiên, ở lứa tuổi này SV rất dễ bị lợi dụng và bị kích động.
Xét về giai tầng trong xã hội, sinh viên là tầng lớp đặc biệt. Sinh viên là nhóm
người trẻ tuổi, có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho đội ngũ tri thức có trình độ và
nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội. Họ là nguồn dự trữ chủ yếu cho đội ngũ
chuyên gia theo các nghề nghiệp khác nhau trong cấu trúc của các tầng lớp tri thức
xã hội.
Xét về tư cách công dân, sinh viên là những công dân thực sự của đất nước với
đầy đủ quyền và nghĩa vụ trước pháp luật. Họ có đầy đủ các quyền tự do, dân sự,

13


kinh tế, chính trị và phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của bản thân trước pháp
luật. Xã hội nhìn nhận sinh viên là một thành viên chính thức, một người trưởng
thành.
Xét về góc độ xã hội, sinh viên thực hiện một vai trò đặc biệt trong hệ thống
phân công lao động xã hội bằng việc tham gia lao động sản xuất dưới hình thức học
tập tạo nên ở họ lối sống tích cực, chủ động học tập, tự chủ nghiên cứu khoa học,
thực hành nghề.
Vì vậy, giáo dục quyền con người cho sinh viên mang đặc điểm khác biệt so
với GDQCN cho các đối tượng khác, thể hiện ở các điểm sau:
Một là, đối tượng giáo dục quyền con người là sinh viên, là công dân thành
niên, là người học ở trình độ đào tạo cao của hệ thống giáo dục quốc dân, thuộc
nhóm trên của mặt bằng dân trí nên chủ thể giáo dục quyền con người phải là người
có tri thức QCN ở mức độ cao hơn đối tượng, có tri thức nhất định về nghề nghiệp
mà đối tượng được đào tạo, có nghiệp vụ sư phạm bên cạnh những phẩm chất tốt

hình thành ở sinh viên thái độ tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy, thực thi và bảo vệ
QCN. Ngoài ra, GDQCN cho sinh viên còn bồi dưỡng tình cảm, ý thức trách nhiệm
và khả năng điều chỉnh hành vi của SV sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn của
quyền con người.
Hai là, vai trò tăng cường nhận thức về sự tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ
quyền con người. Chính việc cung cấp những tri thức, hiểu biết về quyền con người
cho sinh viên, giáo dục quyền con người cho sinh viên đã mang lại kết quả cao
trong việc nâng cao nhận thức về QCN, thúc đẩy sự tôn trọng quyền con người, đặc
biệt sự tôn trọng phẩm giá, nhân phẩm của SV, sự bình đẳng và sự tham gia trong các
quá trình đưa ra các quyết định dân chủ; trang bị cho sinh viên kiến thức, sự hiểu biết
về việc sử dụng các cơ chế, biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền con người.
Ba là, vai trò hiện thực hóa quyền con người. Giáo dục quyền con người cho
sinh viên hướng đến việc xây dựng nhận thức về trách nhiệm chung của SV là biến
QCN thành hiện thực trong cộng đồng và xã hội. Giáo dục quyền con người cho sinh
viên nâng cao năng lực để sinh viên sử dụng, hưởng thụ quyền của mình trong đời
sống hàng ngày. Hơn nữa, thông qua sinh viên, lúc này từ đối tượng GDQCN có thể

15


sẽ trở thành một chủ thể tuyên truyền, phổ biến trong cộng đồng mà SV sinh sống,
đưa sự hiểu biết về quyền con người đến từng gia đình, từng cá nhân trong xã hội.
Bốn là, vai trò phát triển con người, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và
chính trị. Nhân tố con người đóng vai trò quyết định trong sự phát triển bền vững
của đất nước, do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp đào tạo và
phát huy nhân tố con người; đặc biệt là sinh viên, chủ nhân tương lai của đất nước,
lực lượng xã hội hùng hậu, có sức khoẻ, có trình độ học vấn, có tiềm năng sáng tạo,
có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện đại. Thông qua việc thúc đẩy tiếp
cận quyền con người, GDQCN cho sinh viên làm cho hệ thống giáo dục ĐH thực
hiện được nhiệm vụ cơ bản là bảo đảm giáo dục cho SV có chất lượng, đáp ứng

thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc [2]. Mục tiêu chung của giáo dục ĐH Việt Nam là đào tạo
nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo
ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo
đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát
triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức
khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường
làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân. Và đào tạo trình độ cao đẳng để SV có kiến
thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của
các nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết
những vấn đề thông thường thuộc ngành được đào tạo [4]. Mục tiêu giáo dục quyền
con người cho SV được xác lập dựa trên mục tiêu tổng quát của giáo dục, giáo dục
ĐH và GDPL, vai trò của GDQCN cho sinh viên. Mục tiêu của giáo dục quyền con
người cho SV bao gồm mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu tổng quát của giáo dục quyền con người cho sinh viên là xây dựng và
phát triển văn hóa quyền con người trong sinh viên. Theo đó, văn hóa QCN bao
gồm ba yếu tố là: ý thức về QCN, hệ thống quyền con người (quyền tự nhiên và
quyền pháp lý); hành vi và lối sống dựa trên quyền con người như sau:
Thứ nhất, ý thức về quyền con người của sinh viên. Ý thức về QCN của SV
gồm tư tưởng về quyền con người của sinh viên và tâm lý về quyền con người của
sinh viên. Tư tưởng về quyền con người của sinh viên là tổng thể các tư tưởng, quan

17


điểm, quan niệm, có tính chất lý luận, lịch sử về QCN của sinh viên. Tư tưởng về
quyền con người của sinh viên phản ánh trình độ nhận thức cao, có tính hệ thống về
các vấn đề mang tính bản chất của QCN và của các hiện tượng QCN, trong đó nòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status