VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRÙNG DƯƠNG
GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm
2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TRÙNG DƯƠNG
GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Luật hiến pháp và luật hành chính Mã
số
: 838.01.02
LỜI CAM ĐOAN
Một lần nữa trân trọng cảm ơn!
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Võ Khánh Minh.
Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Tác giả luận văn
Nguyễn Trùng Dương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON
NGƯỜI CHO SINH VIÊN.....................................................................................8
1.1...................................................................................................................... Kh
ái niệm, đặc điểm và vai trò của giáo dục quyền con người cho sinh viên...8
1.2...................................................................................................................... Cá
c thành tố của giáo dục quyền con người cho sinh viên...............................16
1.3...................................................................................................................... Cá
c yếu tố đảm bảo giáo dục quyền con người cho sinh viên...........................29
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CHO SINH
VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH......34
2.1.
Các yếu tố đặc thù của tỉnh Bình Định tác động đến giáo dục quyền
con người
ĐH
: Đại học
GDPL
GDQCN
LHQ
: Giáo dục pháp luật
: Giáo dục quyền con
người
: Liên hợp quốc
QCN
: Quyền con người
SV
: Sinh viên
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
phát triển con người, trong đó có phát triển quyền con người. Để phát triển QCN đòi
hỏi phải có và cần tăng cường giáo dục quyền con người.
Trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân, giáo dục pháp luật cho mọi thành viên trong xã hội,
trong đó giáo dục quyền con người với tư cách là một bộ phận cấu thành của giáo
dục pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Đồng thời, Nhà nước pháp
quyền XHCN có sứ mệnh và trọng trách công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ
quyền con ngừoi. Để thực hiện được sứ mệnh và trọng trách đó, Nhà nước pháp
quyền XHCN cần phải tiến hành, thúc đẩy, tăng cường giáo dục quyền con người.
Việc nghiên cứu về giáo dục quyền con người và tiến hành GDQCN ở nước ta
trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu vượt bậc. Đặc biệt, vừa qua Thủ
tướng chính phủ đã phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương
trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân (Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày
5 tháng 9 năm 2017); với mục tiêu chung là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền
con người, tạo sự chuyển biến trong nhận thức của người học, của đội ngũ nhà giáo,
1
cán bộ quản lí giáo dục về tầm quan trọng, ý thức tự bảo vệ các quyền của bản thân,
tôn trọng nhân phẩm, các quyền và tự do của người khác; ý thức về trách nhiệm,
nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước và xã hội, góp phần phát triển toàn diện con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững của đất nước. Và
mục tiêu cụ thể là đến năm 2025, 100% các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục
quốc dân tổ chức giáo dục quyền con người cho người học [31]. Tuy nhiên, ở
phương diện lý luận vẫn chưa có hệ thống lý luận tổng thể, toàn diện về GDQCN
cho nhóm đối tượng cụ thể là sinh viên, bao gồm: giáo dục quyền con người cho SV;
vai trò của giáo dục quyền con người cho SV; mục tiêu, nội dung, chủ thể, các hình
thức, các phương pháp GDQCN cho sinh viên; kinh nghiệm quốc tế trong giáo dục
quyền con người cho sinh viên và các vấn đề khác. Như vậy, cần phải nghiên cứu
người; pháp luật quốc tế, pháp luật khu vực, pháp luật quốc gia về QCN;v.v...) và các
quyền cụ thể (quyền sống của con người, quyền tự do, tín ngưỡng; quyền trẻ em;
quyền tự do kinh doanh; v.v.)
- Tình hình nghiên cứu giáo dục pháp luật
Giáo dục quyền con người là một bộ phận hợp thành của giáo dục pháp luật.
Nhiều nội dung GDPL đều được quy tụ về GDQCN, quyền công dân. Do đó, khi
nghiên cứu về giáo dục quyền con người không thể không nghiên cứu tình hình
GDPL. Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp đến giáo dục pháp luật, đó là: nhóm các công trình nghiên cứu những
vấn đề chung về GDPL; và nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề về giáo
dục pháp luật cho các đối tượng cụ thể, làm sáng tỏ đặc điểm đặc thù của các đối
tượng giáo dục pháp luật.
- Tình hình nghiên cứu giáo dục quyền con người
Ở góc độ riêng về giáo dục quyền con người, thời gian gần đây có một số công
trình nghiên cứu điển hình như: “Giáo dục nhân quyền hướng tới thế kỷ XXI” của
Tường Duy Kiên (Tạp chí Thông tin Khoa học thanh niên, số 4, 1997); “Giáo dục
quyền con người trong các cơ sở đào tạo đại học không có chuyên ngành Luật” của
PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh và Ths. Nguyễn Thị Báo (Tạp chí Khoa giáo, số 1 + 2,
2007); Chuyên đề “Nghiên cứu giảng dạy về quyền con người” (Thông tin Quyền
con người, số 3, 2007); Chuyên khảo “Giáo dục quyền con người, những vấn đề lý
3
luân và thực tiễn” của GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (Nxb. Khoa học xã hội, năm
2010); Báo cáo khoa học tổng quan đề tài cấp cơ sở “Giáo dục quyền con ngườilý
luận, thực tiễn Quốc tế và Việt Nam ” do Ths. Nguyễn Văn Tuấn làm chủ nhiệm đề
tài (Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa luật năm 2010).. .Trong đó, cuốn chuyên khảo
“Giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay” của TS. Võ Khánh Minh chủ biên
(Nxb. Khoa học xã hội, năm 2016) đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của mô hình
Giáo dục công dân và giáo dục nhân quyền. Đặc biệt, Chương trình giáo dục quyền
con người toàn cầu (World Programme to Human Rights Education), pha thứ nhất,
pha thứ hai và pha thứ ba, kế hoạch hành động của chương trình đã đưa ra những
khuyến nghị hữu ích cho việc xây dựng chương trình giáo dục quyền con người ở
Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng của việc giáo dục
quyền con người cho sinh viên ở các trường cao đẳng tại tỉnh Bình Định hiện nay,
tác giả đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của
việc giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường cao đẳng trên địa bàn cả
nước nói chung, trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ các khía cạnh lý luận và pháp luật liên quan đến giáo dục
quyền con người cho sinh viên.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác giáo dục quyền con người cho sinh
viên trong các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Bình Định; chỉ rõ những kết quả đạt
được, thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục quyền
con người cho sinh viên các trường cao đẳng trên địa bàn cả nước nói chung, tại tỉnh
Bình Định nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống quy định pháp luật về giáo dục, giáo dục pháp luật và giáo dục
quyền con người;
- Thực trạng giáo dục quyền con người cho sinh viên tại tỉnh Bình Định;
5
6
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu,
quản lý và thực tiễn triển khai hoạt động giáo dục quyền con người cho sinh viên ở
Việt Nam hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về giáo dục quyền con người cho sinh viên
Chương 2. Thực trạng giáo dục quyền con người cho sinh viên các trường cao
đẳng trên địa bàn tỉnh Bình Định
Chương 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục quyền con
người cho sinh viên từ thực tiễn các trường cao đẳng tại tỉnh Bình Định
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN
CON NGƯỜI CHO SINH VIÊN
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giáo dục quyền con người cho sinh
viên
1.1.1. Quan niệm giáo dục quyền con người cho sinh viên
Quan niệm về giáo dục quyền con người là một trong những vấn đề lý luận
quan trọng đầu tiên của giáo dục quyền con người nói chung và giáo dục quyền con
người cho SV nói riêng. Việc làm sáng tỏ quan niệm về giáo dục quyền con người là
một trong những vấn đề lý luận cơ bản và có ý nghĩa quyết định đối với việc nhận
thức nhiều khái niệm khác trong lý luận về GDQCN và định hướng cho các hoạt
biết cơ bản và tạo niềm tin một cách có cơ sở đối với pháp luật.
Nhóm quan điểm thứ tư cho rằng không có khái niệm giáo dục pháp luật. Theo
quan điểm này, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung và mọi chủ thể có
nghĩa vụ phải tuân theo pháp luật, do đó, không cần đặt ra vấn đề GDPL. Đây là
quan điểm một chiều và chưa thấy hết được vai trò, giá trị, nội dung rộng lớn của
pháp luật, của giáo dục pháp luật.
Giáo dục pháp luật đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, yêu cầu
“tăng cường công tác giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng
pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật
được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng" [9, tr.57-58] luôn là
bức thiết trong chỉ đạo hoạt động.
Từ những phân tích trên luận văn thống nhất với quan niệm về GDPL sau:
giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể
giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động đến đối tượng
giáo dục một cách có hệ thống nhằm hình thành ở họ tri thức, giá trị pháp luật, tình
cảm, sự tôn trọng pháp luật và hành vi phù hợp với pháp luật, xây dựng lối sống và
văn hóa pháp luật [21, tr.32].
Quan niệm về quyền con người
Quyền con người là nội dung của giáo dục quyền con người, cho nên quan
niệm rộng hay hẹp về QCN có tác động đến việc xây dựng chương trình, nội dung
giáo dục quyền con người. Vì thế, việc xây dựng quan niệm GDQCN cần xuất phát
từ và dựa vào quan niệm quyền con người. Để xây dựng nội dung, chương trình giáo
dục quyền con người phù hợp, cần có cách tiếp cận rộng trong quan niệm về QCN,
thể hiện ở những nội dung quan trọng sau:
Thứ nhất, tiếp cận quyền con người với tư cách là một khoa học - khoa học
QCN. Khoa học quyền con người là hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật, tri
thức có liên hệ nội tại với nhau về QCN. Nhận thức khoa học về quyền con người
giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực GDQCN.
nghiệm của con người. Con người được giáo dục về QCN là một trong những nhân
tố quan trọng nhất, vừa là mục tiêu, là động lực, vừa là chủ thể, là nguồn vốn đặc
biệt quan trọng để phát triển xã hội.
Thứ hai, giáo dục quyền con người là một tiểu hệ thống có tính độc lập tương
đối và có mối quan hệ tương hỗ với các tiểu hệ thống khác của giáo dục pháp luật
như: giáo dục luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật
dân sự, luật tố tụng dân sự... Quan niệm này được hình thành dựa trên cách tiếp cận
rộng nhất của GDPL, gắn kết nó với quá trình xã hội hóa pháp luật của cá nhân. Con
người pháp luật, con người nhân quyền được hình thành và phát triển là do tác động
lẫn nhau của tổ hợp các yếu tố xã hội rộng lớn như: pháp luật, chính trị, kinh tế văn
hóa, xã hội, đạo đức,... trong quá trình con người tham gia vào các quan hệ xã hội.
Hay, quá trình hình thành con người pháp luật, con người nhân quyền là quá trình
chịu sự tác động của các yếu tố khách quan (chế độ kinh tế, chế độ chính trị, môi
trường sống) và các nhân tố chủ quan (định hướng giá trị, lợi ích của cá nhân, tính
tích cực chính trị - xã hội, ý thức và văn hóa pháp luật ...). Các yếu tố khách quan
đóng vai trò tạo ra các điều kiện, môi trường hoặc tích cực hoặc tiêu cực đối với giáo
dục quyền con người. Các nhân tố chủ quan đóng vai trò tạo ra động lực thúc đẩy
hoặc kìm hãm đối với GDQCN. Quan niệm giáo dục quyền con người theo nghĩa
rộng có ý nghĩa quan trọng là: thấy được quá trình xã hội hóa pháp luật của cá nhân
nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng chịu sự tác động, sự chi phối của
rất nhiều yếu tố xã hội; không đồng nhất, không coi giáo dục chính trị, giáo dục tư
tưởng, giáo dục đạo đức, hoặc coi GDQCN chỉ là việc tuyên truyền, phổ biến các
văn bản pháp luật về quyền con người.
Thứ ba, giáo dục quyền con người là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ
chức, có kế hoạch của chủ thể giáo dục quyền con người để truyền tải, truyền đạt
những nội dung (thông tin, tri thức, năng lực về quyền con người), thông qua các
hình thức và phương pháp khác nhau đến đối tượng tiếp nhận GDQCN nhằm đạt
được những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định.
bị tri thức quyền con người, kinh nghiệm, kỹ năng về quyền con người, giá trị, thái
độ và hành vi tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cho sinh viên.
Trong phạm vi nghiên cứu giới hạn của luận văn, “Sinh viên” được hiểu là
người học trình độ đào tạo CĐ theo hình thức chính quy tập trung trong các trường
CĐ không chuyên luật. Các trường CĐ không chuyên luật được hiểu là các đơn vị
đào tạo các ngành nghề khác nhau nhưng không đào tạo ngành luật.
1.1.2. Đặc điểm của giáo dục quyền con người cho sinh viên
Giáo dục quyền con người cho đối tượng nào thì GDQCN mang màu sắc riêng
của đối tượng ấy. Với sinh viên, có những đặc điểm riêng sau đây:
Xét về góc độ sinh lý, tự nhiên, sinh viên thuộc nhóm tuổi thanh niên từ 18 đến
25 tuổi, những công dân thành niên trẻ với sức khỏe sung mãn nhất, trí tuệ vừa đủ
chín đang chuẩn bị bước vào quá trình lao động sản xuất làm ra của cải vật chất. Tuy
nhiên, ở lứa tuổi này SV rất dễ bị lợi dụng và bị kích động.
Xét về giai tầng trong xã hội, sinh viên là tầng lớp đặc biệt. Sinh viên là nhóm
người trẻ tuổi, có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho đội ngũ tri thức có trình độ và nghề
nghiệp tương đối cao trong xã hội. Họ là nguồn dự trữ chủ yếu cho đội ngũ chuyên
gia theo các nghề nghiệp khác nhau trong cấu trúc của các tầng lớp tri thức xã hội.
Xét về tư cách công dân, sinh viên là những công dân thực sự của đất nước với
đầy đủ quyền và nghĩa vụ trước pháp luật. Họ có đầy đủ các quyền tự do, dân sự,
kinh tế, chính trị và phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi của bản thân trước pháp
luật. Xã hội nhìn nhận sinh viên là một thành viên chính thức, một người trưởng
thành.
Xét về góc độ xã hội, sinh viên thực hiện một vai trò đặc biệt trong hệ thống
phân công lao động xã hội bằng việc tham gia lao động sản xuất dưới hình thức học
tập tạo nên ở họ lối sống tích cực, chủ động học tập, tự chủ nghiên cứu khoa học,
thực hành nghề.
Vì vậy, giáo dục quyền con người cho sinh viên mang đặc điểm khác biệt so
quyền con người cho SV có các vai trò cơ bản sau đây:
Một là, vai trò nền tảng. Giáo dục quyền con người cho sinh viên hình thành,
nâng cao nhận thức, tri thức, hiểu biết về QCN cho sinh viên. Giáo dục quyền con
người cho SV là hình thức cơ bản nền tảng cung cấp tri thức, hiểu biết về QCN để từ
đó sinh viên có nhận thức về quyền con người; đây chính là tiền đề quan trọng để
hình thành ở sinh viên thái độ tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy, thực thi và bảo vệ QCN.
Ngoài ra, GDQCN cho sinh viên còn bồi dưỡng tình cảm, ý thức trách nhiệm và khả
năng điều chỉnh hành vi của SV sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn của quyền con
người.
Hai là, vai trò tăng cường nhân thức về sự tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền
con người. Chính việc cung cấp những tri thức, hiểu biết về quyền con người cho
sinh viên, giáo dục quyền con người cho sinh viên đã mang lại kết quả cao trong việc
nâng cao nhận thức về QCN, thúc đẩy sự tôn trọng quyền con người, đặc biệt sự tôn
trọng phẩm giá, nhân phẩm của SV, sự bình đẳng và sự tham gia trong các quá trình
đưa ra các quyết định dân chủ; trang bị cho sinh viên kiến thức, sự hiểu biết về việc
sử dụng các cơ chế, biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền con người.
Ba là, vai trò hiện thực hóa quyền con người. Giáo dục quyền con người cho
sinh viên hướng đến việc xây dựng nhận thức về trách nhiệm chung của SV là biến
QCN thành hiện thực trong cộng đồng và xã hội. Giáo dục quyền con người cho sinh
viên nâng cao năng lực để sinh viên sử dụng, hưởng thụ quyền của mình trong đời
sống hàng ngày. Hơn nữa, thông qua sinh viên, lúc này từ đối tượng GDQCN có thể
sẽ trở thành một chủ thể tuyên truyền, phổ biến trong cộng đồng mà SV sinh sống,
đưa sự hiểu biết về quyền con người đến từng gia đình, từng cá nhân trong xã hội.
Bốn là, vai trò phát triển con người, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và
chính trị. Nhân tố con người đóng vai trò quyết định trong sự phát triển bền vững
của đất nước, do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp đào tạo và
phát huy nhân tố con người; đặc biệt là sinh viên, chủ nhân tương lai của đất nước,
lực lượng xã hội hùng hậu, có sức khoẻ, có trình độ học vấn, có tiềm năng sáng tạo,
liền với mục tiêu của giáo dục nói chung, mục tiêu giáo dục đại học, mà cụ thể trong
giới hạn của luận văn là mục tiêu đào tạo trình độ cao đẳng nói riêng. Theo đó, mục
tiêu tổng quát của giáo dục ở nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc [2]. Mục tiêu chung của giáo dục ĐH Việt Nam là đào tạo nhân lực, nâng
cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản
phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
và hội nhập quốc tế; đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức,
kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa
học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng
tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục
vụ nhân dân. Và đào tạo trình độ cao đẳng để SV có kiến thức chuyên môn cơ bản,
kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý, quy luật tự
nhiên - xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường
thuộc ngành được đào tạo [4]. Mục tiêu giáo dục quyền con người cho SV được xác
lập dựa trên mục tiêu tổng quát của giáo dục, giáo dục ĐH và GDPL, vai trò của
GDQCN cho sinh viên. Mục tiêu của giáo dục quyền con người cho SV bao gồm
mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu tổng quát của giáo dục quyền con người cho sinh viên là xây dựng và
phát triển văn hóa quyền con người trong sinh viên. Theo đó, văn hóa QCN bao gồm
ba yếu tố là: ý thức về QCN, hệ thống quyền con người (quyền tự nhiên và quyền
pháp lý); hành vi và lối sống dựa trên quyền con người như sau:
Thứ nhất, ý thức về quyền con người của sinh viên. Ý thức về QCN của SV
gồm tư tưởng về quyền con người của sinh viên và tâm lý về quyền con người của
sinh viên. Tư tưởng về quyền con người của sinh viên là tổng thể các tư tưởng, quan
điểm, quan niệm, có tính chất lý luận, lịch sử về QCN của sinh viên. Tư tưởng về
quyền con người của sinh viên phản ánh trình độ nhận thức cao, có tính hệ thống về
các vấn đề mang tính bản chất của QCN và của các hiện tượng QCN, trong đó nòng