Thi hành các hình phạt không tước tự do từ thực tiễn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN PHƯỚC

THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CỦ CHI,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN PHƯỚC

THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CỦ CHI,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật Hình sự

TAND

: Tòa án nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân

VKS

: Viện kiểm sát

VKSND

: Viện Kiểm sát nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả xét xử trên địa bàn huyện Củ ChiError! Bookmark
not defined.
Bảng 2.2: Tình hình thi hành hình phạt không tước tự do trên địa bàn
huyện Củ Chi ................................................... Error! Bookmark not defined.


MỞ ĐÂU

chung, ở địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cho thấy
rằng các cơ quan có thẩm quyền mới chỉ chú trọng đến việc thi hành hình phạt
tù, tử hình mà chưa chú trọng đến công tác thi hành các hình phạt không tước
quyền tự do. Các cơ quan có thẩm quyền (TAND, UBND, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể các cấp) chưa thực sự phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm
trong quản lý, chỉ đạo, phối hợp, giám sát việc thi hành án của người phải
chấp hành án, nhất là trong việc giám sát, cảm hóa, giáo dục giúp đỡ những
người chấp hành án hình sự tại cộng đồng dân cư nên việc chấp hành án trong
nhiều trường hợp không nghiêm, các vi phạm phát sinh không được xử lý kịp
thời nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa việc tái phạm.
Nguyên nhân của thực trạng này là hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật về thi hành hình phạt không tước tự do còn có những vướng mắc,
bất cập; chưa có sự phân công, phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan có thẩm
quyền trong quá trình thi hành án; cơ chế giám sát, chế tài xử lý trách nhiệm
đối với người không chấp hành án cũng như người có trách nhiệm trong thi
hành án chưa cụ thể, chưa nghiêm minh; ý thức pháp luật của người chấp
hành án còn hạn chế nên trong một số trường hợp người phải thi hành các
hình phạt không tước tự do tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật hoặc phạm
tội mới...
Thực trạng và nguyên nhân nêu trên đòi hỏi phải có những phương
hướng, giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu quả thi hành các hình phạt
không tước tự do nhằm đảm bảo mục đích của các hình phạt này và góp phần
vào đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Thi hành các
hình phạt không tước tự do từ thực tiễn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí
Minh” có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu
nâng cao hiệu quả thi hành các hình phạt không tước tự do nói chung và trên
2


địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.



được công bố trên các báo, tạp chí….Qua nghiên cứu, có thể thấy rằng các
công trình được công bố đã phân tích, làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
về thi hành các hình phạt không tước tự do nhưng chưa có công trình nghiên
cứu nào đề cập trực tiếp đến thi hành hình phạt không tước tự do từ thực tiễn
tại một địa bàn cụ thể là huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, việc
nghiên cứu đề tài này sẽ nhận diện, đánh giá tương đối toàn diện về thi hành
các hình phạt không tước quyền tự do ở huyện Củ Chi để từ đó đưa ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hình sự nói chung, công tác thi
hành các hình phạt không tước tự do ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghi n c
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
về thi hành các hình phạt không tước tự do dưới góc độ thể chế và thực tiễn
thi hành ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các giải pháp
hoàn thiện pháp luật; nâng cao hiệu quả thi hành các hình phạt không tước tự
do nói chung và ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong thời
gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thi hành các hình phạt không
tước tự do như: xây dựng khái niệm, làm rõ nội dung, đặc điểm, nguyên tắc
của thi hành các hình phạt không tước tự do và các yếu tố ảnh hưởng đến thi
hành các hình phạt không tước tự do.
- Đánh giá thực trạng thi hành các hình phạt không tước tự do của các
cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
(trong đó tập trung vào những vấn đề tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân).
4



biện chứng của triết học Mác - Lênin theo quan điểm phát triển, toàn diện,
lịch sử, cụ thể; kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phân tích,
tổng hợp, thống kê, so sánh và tổng kết thực tiễn. Cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu tại Chương 1
để phân tích cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, từ đó khái quát hóa thành
những quan điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu các nội dung tại các chương
khác của luận văn.
- Phương pháp phân tích, so sánh được áp dụng nhằm làm rõ những nội
dung của Chương 2. Đây là chương đánh giá thực trạng thi hành các hình phạt
không tước tự do tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, qua đó nhận diện
những ưu điểm, hạn chế và đề xuất các giải pháp ở Chương 3.
- Phương pháp phân tích, chứng minh được sử dụng chủ yếu ở Chương
3 nhằm làm rõ những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao
hiệu quả thi hành các hình phạt không tước tự do.
6. Ý nghĩa lý l ận và thực tiễn của l ận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, tương đối toàn diện về cơ
sở lý luận, thực tiễn thi hành các hình phạt không tước tự do. Luận văn đã chỉ
ra những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của thực trạng thi hành các hình
phạt không tước tự do tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật; nâng cao hiệu quả thi hành các hình
phạt không tước tự do nói chung và tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
nói riêng. Vì vậy luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học
viên cao học khi nghiên cứu về thi hành án hình sự cũng như thi hành các
hình phạt không tước tự do tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
7. Cơ cấ của l ận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết.
6

tội phạm” [16, tr. 34]. Cũng có quan điểm cho rằng: "Hình phạt là biện pháp
cưỡng chế do Toà án quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc
thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền
và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án [17, tr. 110]....Mặc dù
có nhiều quan điểm khác nhau về hình phạt nhưng theo các nhà lập pháp thì
"Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Tòa
án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội
nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại
đó” [18]. Tuy nhiên, về nguyên tắc, việc áp dụng hình phạt phải trên cơ sở cá
thể hóa trách nhiệm hình sự của chủ thể tội phạm tương ứng với tính chất,
8


mức độ của hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ của tội phạm, vì vậy, pháp luật quy định nhiều loại hình phạt khác
nhau.
Theo quy định của BLHS năm 2015, hình phạt được chia thành hình
phạt chính và hình phạt bổ sung, theo đó hình phạt chính được tuyên độc lập
đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính, còn
hình phạt bổ sung chỉ có thể áp dụng cùng với một hình phạt chính và người
phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc một số loại hình phạt bổ sung.
Tiếp cận dưới góc độ quyền tự do của cá nhân thì hình phạt có thể được
chia thành hình phạt tước tự do và hình phạt không tước tự do, vì vậy, theo
quy định của pháp luật hiện hành, có thể xác định phạm vi các hình phạt
không tước tự do gồm: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; Cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; tước một số
quyền công dân và tịch thu tài sản. Như vậy, trong số các hình phạt trong
BLHS thì các hình phạt như cấm cư trú, quản chế và trục xuất không được
xác định là các hình phạt không tước tự do, bởi vì, các hình phạt này mặc dù
không tước quyền tự do thân thể của người bị kết án (cách ly khỏi xã hội)

Đây là đặc điểm quan trọng nhất của thi hành hình phạt không tước tự
do, bởi vì xuất phát từ bản chất của hình phạt được áp dụng thì việc thi hành
hình phạt không tước tự do nhằm giáo dục, cải tạo và giám sát người phải
chấp hành hình phạt trongmôi trường sống và làm việc bình thường mà không
phải bị cách ly khỏi đời sống xã hội. Việc cải tạo của người bị kết án được
thực hiện dưới sự giám sát, theo dõi, giáo dục bởi các cơ quan nhà nước,
chính quyền địa phương địa phương, tổ chức xã hội và gia đình. Hay nói cách
khác là mặc dù căn cứ để thi hành các hình phạt không tước tự do là bản án,
quyết định của Tòa án, nhưng quá trình thi hành các hình phạt không tước tự
do được thực hiện với những hoạt động, biện pháp mang tính chấp hành,
10


mệnh lệnh hành chính mà không mang tính chất tố tụng. Vì vậy, hiệu quả thi
hành các hình phạt không tước tự do phụ thuộc nhiều vào sự tự giác, nghiêm
chỉnh chấp hành pháp luật của người bị kết án và sự phối hợp của các cơ
quan, tổ chức liên quan ở địa phương để giám sát, giáo dục người bị kết án.
Thứ hai, mức độ giám sát, cưỡng bức trong thi hành các hình phạt
không tước tự do thấp hơn so với thi hành hình phạt tù.
Về nguyên tắc, tính chất cưỡng chế của hình phạt được thể hiện ở mức
độ tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội, trong đó những
quyền cơ bản và quan trọng nhất là quyền được sống, quyền tự do thân thể. Vì
vậy, tính chất, mức độ cưỡng chế của việc thi hành các hình phạt không tước
tự do thể hiện ở ngay tính chất "không tước tự do" của hình phạt, theo đó
người bị kết án không bị cưỡng bức tước bỏ, hạn chế quyền tự do thân thể và
bị áp đặt chế độ giam giữ, lao động, cải tạo khắt khe, nghiêm khắc như việc
thi hành hình phạt tù (tù có thời hạn hoặc tù chung thân). Việc cải tạo người
phạm tội trong thi hành các hình phạt không tước tự do chủ yếu được thực
hiện trên cơ sở các biện pháp thuyết phục, mệnh lệnh hành chính, vì vậy, mức
độ giám sát, quản lý đối với người bị kết án không tước tự do cũng như những

đình- đây là những nhân tố quan trọng trong việc cảm hóa, cải tạo người phải
chấp hành án. Về mặt hình thức thì về cơ bản, người phải chấp hành án được
hòa nhập bình thường trong xã hội với các chế độ sinh hoạt bình thường nếu
có ý thức tự giác cải tạo, nhưng thực tế người phải chấp hành án đều có
những mặc cảm, tự ti nhất định về những lỗi lầm đã phạm phải. Vì vậy, để
người phải chấp hành án thực sự hòa nhập bình thường với xã hội và tích cực
lao động, học tập, rèn luyện, tu dưỡng thì cộng đồng có vai trò rất quan
trọng. Các cơ quan nhà nước, tổ chức, gia đình cần có sự động viên, giám
sát, tạo điều kiện để người phải chấp hành án vượt qua được những mặc cảm,
định kiến về thân phận mình thông qua các biện pháp tích cực như tạo việc
12


làm, thu hút sự tham gia của những người phải chấp hành án vào các hoạt
động xã hội để họ thấy được ý nghĩa, vai trò của mình với cộng đồng, gia
đình để từ đó tự giác cải tạo, tích cực hòa nhập đầy đủ với cộng đồng, xã hội
bằng những hành vi hợp pháp và hướng thiện.
1.2. Nội d ng điề chỉnh của pháp l ật và ng y n tắc thi hành h nh
phạt không tước tự do
1.2.1. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thi hành hình phạt hình
phạt không tước tự do
Như đã đề cập về giới hạn nghiên cứu của luận văn ở phần Mở đầu, tác
giả tập trung phân tích nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với việc thi hành
các hình phạt không tước tự do là cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam
giữ
1.2.1.1. Thi hành hình phạt cảnh cáo
Theo Điều 34 của BLHS 2015 (trước đây là Điều 29 BLHS năm 1999)
thì cảnh cáo là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm
trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.
Như vậy, việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tôi khi có đủ hai điều

án nhằm buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền nhất định để nộp vào
ngân sách của Nhà nước. Theo quy định hiện hành, việc thi hành hình phạt
tiền có tính chất thi hành phần "dân sự" trong các bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật, nên nên việc thi hành hình phạt này được thực hiện theo trình
tự, thủ tục thi hành án dân sự.
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ
sung năm 2014 (gọi chung là Luật Thi hành án dân sự) và các văn bản hướng
dẫn thi hành thì khi nhận được bản án của Tòa án có tuyên hình phạt tiền thì
Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành
án chủ động. Trên cơ sở quyết định thi hành án, Chấp hành viên cơ quan Thi
14


hành án dân sự được giao nhiệm vụ thi hành sẽ tống đạt quyết định thi hành
án cho người bị kết án (người phải thi hành án); thông báo thời gian tự
nguyện thi hành án; phối hợp với UBND cấp xã và các cơ quan, tổ chức liên
quan xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, động viên,
thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành hình phạt tiền.
Trường hợp qua xác minh cho thấy người phải thi hành án có điều kiện
thi hành án (tài sản, thu nhập) thì Chấp hành viên thuyết phục, động viên
người phải thi hành án tự nguyện thi hành. Nếu người phải thi hành án không
tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành
án cần thiết để đảm bảo thi hành án. Theo quy định của Luật THADS thì các
biện pháp cưỡng chế thi hành án được áp dụng để buộc người phải thi hành án
thi hành hình phạt tiền bao gồm: khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý
tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài
sản đang do người thứ ba giữ; khai thác tài sản của người phải thi hành án
[13, Điều 71]. Trên cơ sở biện pháp cưỡng chế được áp dụng, Chấp hành viên
phối hợp với VKSND cùng cấp, các cơ quan, tổ chức liên quan (cơ quan

hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000
đồng đến dưới 5.000.000 đồng.
- Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp
ngân sách nhà nước được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ
các điều kiện: thuộc trường hợp quy định nêu trên và hết thời hạn 05 năm, kể
từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới
5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành
án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000
đồng.
- Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp
16


ngân sách nhà nước mà thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều
này thì được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các
điều kiện: Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần
nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần
giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án; và hết thời hạn
10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá
trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền
còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng.
- Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí,
tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên
tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được
phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần
nghĩa vụ còn lại.
Việc miễn, giảm chỉ được xét một lần trong một năm đối với mỗi bản
án, quyết định và căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi
hành án là quyết định thi hành án lần đầu.
1.2.1.3. Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ

quyết định thi hành án, Tòa án phải gửi quyết định thi hành án cho người chấp
hành án; VKSND cùng cấp; Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện
nơi người chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi
người chấp hành án làm việc và Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi
hành án có trụ sở.
Tiếp đến, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết
định thi hành án, cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm vụ triệu tập người chấp hành án đến
trụ sở cơ quan thi hành án để ấn định thời gian người chấp hành án có mặt tại
UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục và cam kết việc
18


chấp hành án và lập hồ sơ thi hành án (Hồ sơ thi hành án bao gồm: Bản án đã
có hiệu lực pháp luật; Quyết định thi hành án; Cam kết của người chấp hành
án và các tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án).
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày triệu tập người chấp hành án, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu phải giao hồ sơ cho UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám
sát, giáo dục. Trước khi hết thời hạn chấp hành án 03 ngày, UBND cấp xã,
đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ thi hành án cho
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu để cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt cải tạo
không giam giữ ngay khi hết thời hạn chấp hành án. Giấy chứng nhận phải
gửi cho người chấp hành án, UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám
sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã
ra quyết định thi hành án có trụ sở.
Để đảm bảo hiệu quả thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, pháp
luật cũng quy định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, nghĩa vụ của người chấp hành
án, cơ quan, tổ chức liên quan. Cụ thể là:

người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình UBND cấp xã được giao giám sát,
giáo dục người đó; phải kiểm điểm khi vi phạm nghĩa vụ chấp hành án và đã
bị nhắc nhở từ hai lần trở lên nhưng vẫn còn tiếp tục vi phạm. Đồng thời, để
đảm bảo hiệu quả thi hành án, pháp luật còn quy định người chấp hành án còn
phải thực hiện chế độ lao động, học tập, theo đó được bố trí công việc bảo
đảm yêu cầu, mục đích giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ
khác phù hợp với công việc mà mình đảm nhiệm, được tính vào thời gian
công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật; người chấp hành án
được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì
được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó; người chấp hành án được
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status