VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN VĂN PHƯỚC
THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CỦ CHI,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN VĂN PHƯỚC
THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CỦ CHI,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
MỞ ĐÂU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội, pháp luật là cơ sở cho hành vi xử sự của các chủ thể
nhưng thực tế có nhiều chủ thể vi phạm pháp luật, thậm chí bị coi là tội phạm theo
Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi bị coi là tội phạm thì việc điều tra, truy tố, xét xử
được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng và kết quả của quá trình TTHS
được thể hiện bằng bản án, quyết định hình sự được tôn trọng và bảo đảm thi hành.
Thực tế cho thấy rằng việc xét xử các vụ án hình sự cũng như việc thi hành các bản
án hình sự liên quan trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là các
quyền tự do về thân thể, danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu tài sản... của cá nhân
nên đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và
thẩm quyền theo quy định pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, trong đó có
định hướng:
“Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề
cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm
hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối
với một số loại tội phạm.Xác định rõ trách nhiệm của UBND xã, phường, thị trấn và
của cơ quan chuyên môn của UBND dân tỉnh, thành phố trong việc thi hành các hình
phạt không phải là hình phạt tù để thực hiện nghiêm túc các bản án của tòa án. Từng
bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ
chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án” [2].
Trên cơ sở định hướng trên, việc xét xử các vụ án hình sự cũng như thi hành
án hình sự thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là các Tòa án
chủ động phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an, chính quyền địa
phương tổ chức thi hành án và quản lý các đối tượng phải thi hành các hình phạt
không tước quyền tự do và các biện pháp tư pháp. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, khảo
5
phạt không tước tự do nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến
thi hành hình phạt không tước tự do từ thực tiễn tại một địa bàn cụ thể là huyện Củ
Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ nhận diện, đánh
giá tương đối toàn diện về thi hành các hình phạt không tước quyền tự do ở huyện
Củ Chi để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hình sự
nói chung, công tác thi hành các hình phạt không tước tự do ở huyện Củ Chi, thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghi n c
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thi
hành các hình phạt không tước tự do dưới góc độ thể chế và thực tiễn thi hành ở
huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp
luật; nâng cao hiệu quả thi hành các hình phạt không tước tự do nói chung và ở
huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thi hành các hình phạt không tước tự
do như: xây dựng khái niệm, làm rõ nội dung, đặc điểm, nguyên tắc của thi hành các
hình phạt không tước tự do và các yếu tố ảnh hưởng đến thi hành các hình phạt
không tước tự do.
- Đánh giá thực trạng thi hành các hình phạt không tước tự do của các cơ
quan có thẩm quyền trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh (trong đó
tập trung vào những vấn đề tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân).
- Luận giải các quan điểm và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật,
nâng cao hiệu quả thi hành các hình phạt không tước tự do đáp ứng yêu cầu công tác
8
sánh và tổng kết thực tiễn. Cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu tại Chương 1 để
phân tích cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, từ đó khái quát hóa thành những quan
điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu các nội dung tại các chương khác của luận văn.
- Phương pháp phân tích, so sánh được áp dụng nhằm làm rõ những nội dung
của Chương 2. Đây là chương đánh giá thực trạng thi hành các hình phạt không tước
tự do tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, qua đó nhận diện những ưu điểm,
hạn chế và đề xuất các giải pháp ở Chương 3.
- Phương pháp phân tích, chứng minh được sử dụng chủ yếu ở Chương 3
nhằm làm rõ những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả
thi hành các hình phạt không tước tự do.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, tương đối toàn diện về cơ sở lý
luận, thực tiễn thi hành các hình phạt không tước tự do. Luận văn đã chỉ ra những ưu
điểm, tồn tại và nguyên nhân của thực trạng thi hành các hình phạt không tước tự do
tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện
pháp luật; nâng cao hiệu quả thi hành các hình phạt không tước tự do nói chung và
tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Vì vậy luận văn có thể làm tài
liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học khi nghiên cứu về thi hành án hình sự
cũng như thi hành các hình phạt không tước tự do tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ
Chí Minh.
7. Cơ cấu của lu ận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thi hành các hình phạt không tước
1
0
dõi, giáo dục bởi các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương địa phương, tổ chức
xã hội và gia đình. Hay nói cách khác là mặc dù căn cứ để thi hành các hình phạt
không tước tự do là bản án, quyết định của Tòa án, nhưng quá trình thi hành các hình
phạt không tước tự do được thực hiện với những hoạt động, biện pháp mang tính
chấp hành, mệnh lệnh hành chính mà không mang tính chất tố tụng. Vì vậy, hiệu quả
thi hành các hình phạt không tước tự do phụ thuộc nhiều vào sự tự giác, nghiêm
14
chỉnh chấp hành pháp luật của người bị kết án và sự phối hợp của các cơ quan, tổ
chức liên quan ở địa phương để giám sát, giáo dục người bị kết án.
Thứ hai, mức độ giám sát, cưỡng bức trong thi hành các hình phạt không tước
tự do thấp hơn so với thi hành hình phạt tù.
Về nguyên tắc, tính chất cưỡng chế của hình phạt được thể hiện ở mức độ
tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội, trong đó những quyền cơ
bản và quan trọng nhất là quyền được sống, quyền tự do thân thể. Vì vậy, tính chất,
mức độ cưỡng chế của việc thi hành các hình phạt không tước tự do thể hiện ở ngay
tính chất "không tước tự do" của hình phạt, theo đó người bị kết án không bị cưỡng
bức tước bỏ, hạn chế quyền tự do thân thể và bị áp đặt chế độ giam giữ, lao động, cải
tạo khắt khe, nghiêm khắc như việc thi hành hình phạt tù (tù có thời hạn hoặc tù
chung thân). Việc cải tạo người phạm tội trong thi hành các hình phạt không tước tự
do chủ yếu được thực hiện trên cơ sở các biện pháp thuyết phục, mệnh lệnh hành
chính, vì vậy, mức độ giám sát, quản lý đối với người bị kết án không tước tự do
cũng như những hạn chế quyền và lợi ích sẽ thấp hơn nhiều so với việc thi hành các
hình phạt tước tự do đối với người bị kết án. Điều này cũng thể hiện tính nhân đạo
trong chính sách hình sự của Nhà nước đối với người bị kết án và đòi hỏi sự tự giác,
tự nguyện thi hành án của người bị kết án không tước tự do.
Thứ ba, việc thi hành các hình phạt không tước tự do được thực hiện bởi
nhiều cơ quan có thẩm quyền.
tạo điều kiện để người phải chấp hành án vượt qua được những mặc cảm, định kiến
về thân phận mình thông qua các biện pháp tích cực như tạo việc làm, thu hút sự
tham gia của những người phải chấp hành án vào các hoạt động xã hội để họ thấy
được ý nghĩa, vai trò của mình với cộng đồng, gia đình để từ đó tự giác cải tạo, tích
cực hòa nhập đầy đủ với cộng đồng, xã hội bằng những hành vi hợp pháp và hướng
thiện.
16
1.2. Nội dung điề u chỉnh của pháp lu ật và nguy ên tắc thi hành hình
phạt không tước tự do
1.2.1. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thi hành hình phạt hình phạt
không tước tự do
Như đã đề cập về giới hạn nghiên cứu của luận văn ở phần Mở đầu, tác giả
tập trung phân tích nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với việc thi hành các hình
phạt không tước tự do là cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam giữ
1.2.11. Thi hành hình phạt cảnh cáo
Theo Điều 34 của BLHS 2015 (trước đây là Điều 29 BLHS năm 1999) thì
cảnh cáo là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có
nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt. Như vậy, việc áp
dụng hình phạt đối với người phạm tôi khi có đủ hai điều kiện: một là, người phạm
tội ít nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội
ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm) và hai là, có
nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt (theo BLHS thì có 22
trường hợp được coi là tình tiết giảm nhẹ và được miễn hình phạt nếu thuộc trường
hợp đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm
hình sự.
Căn cứ quy định của Điều 71 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 thì hình
phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa do Tòa án tuyên; trong thời hạn 07
định thi hành án, Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự được giao nhiệm vụ thi
hành sẽ tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án (người phải thi hành án);
thông báo thời gian tự nguyện thi hành án; phối hợp với UBND cấp xã và các cơ
quan, tổ chức liên quan xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án,
động viên, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành hình phạt tiền.
18
Trường hợp qua xác minh cho thấy người phải thi hành án có điều kiện thi
hành án (tài sản, thu nhập) thì Chấp hành viên thuyết phục, động viên người phải thi
hành án tự nguyện thi hành. Nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì
Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án cần thiết để đảm bảo thi
hành án. Theo quy định của Luật THADS thì các biện pháp cưỡng chế thi hành án
được áp dụng để buộc người phải thi hành án thi hành hình phạt tiền bao gồm: khấu
trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án;
trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi
hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; khai thác tài sản của người phải thi
hành án [13, Điều 71]. Trên cơ sở biện pháp cưỡng chế được áp dụng, Chấp hành
viên phối hợp với VKSND cùng cấp, các cơ quan, tổ chức liên quan (cơ quan Công
an, cơ quan quản lý nhà nước về đất đai; cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm; cơ
quan bảo hiểm; tổ chức tín dụng...) và UBND cấp xã tổ chức việc cưỡng chế theo
trình tự, thủ tục quy định đối với mỗi biện pháp cưỡng chế. Trong trường hợp phải
cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án thì sau khi kê biên, Chấp hành
viên ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá để định giá tài sản và ký hợp đồng với tổ
chức đấu giá để bán tài sản kê biên và thu tiền thi hành án; trường hợp tại tỉnh, thành
phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở không có tổ chức đấu giá tài sản hoặc tổ
chức đấu giá tài sản từ chối bán tài sản hoặc giá trị tài sản dưới 10.000.000 đồng, tài
sản tươi sống, mau hỏng thì Chấp hành viên tự bán đấu giá tài sản đã kê biên để thi
hành án.
sách nhà nước mà thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được
xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các điều kiện: Hết thời hạn
05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ
10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền
còn lại phải thi hành án; và hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án
mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không
20
quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá
50.000.000 đồng.
- Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt
nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn,
tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn
lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại.
Việc miễn, giảm chỉ được xét một lần trong một năm đối với mỗi bản án,
quyết định và căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án là
quyết định thi hành án lần đầu.
J.2.J.3. Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt
được quy định trong BLHS, theo đó không tước tự do, không buộc người phạm tội
cách ly khỏi gia đình, nơi làm việc cũng như xã hội. Mục đích của hình phạt này là
tạo điều kiện cho người bị kết án được cải tạo, học tập trong môi trường xã hội bình
thường, khuyến khích họ trở thành người có ích cho xã hội.
Nội dung của hình phạt là Tòa án giao người bị kết án cho cơ quan, tổ chức
nơi người đó làm việc, học tập hoặc UBND cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát,
giáo dục và gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức
hoặc UBND cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.
hành án; Cam kết của người chấp hành án và các tài liệu khác có liên quan đến việc
thi hành án).
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày triệu tập người chấp hành án, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải
giao hồ sơ cho UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục. Trước
khi hết thời hạn chấp hành án 03 ngày, UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao
giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công
22
an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để cấp giấy chứng nhận đã
chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ ngay khi hết thời hạn chấp hành án.
Giấy chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, UBND cấp xã, đơn vị quân đội
được giao giám sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi
Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.
Để đảm bảo hiệu quả thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, pháp luật
cũng quy định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, nghĩa vụ của người chấp hành án, cơ quan,
tổ chức liên quan. Cụ thể là:
- UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp
hành án có nhiệm vụ: tiếp nhận hồ sơ, tổ chức giám sát, giáo dục người chấp hành
án; phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người chấp hành án; yêu cầu người
chấp hành án thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng
ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật; biểu dương người chấp hành án có
nhiều tiến bộ hoặc lập công; giải quyết cho người chấp hành án được vắng mặt ở nơi
cư trú theo quy định; phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thực hiện khấu trừ một
phần thu nhập của người chấp hành án theo quyết định của Toà án để sung quỹ nhà
nước; phối hợp với gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc,
học tập trong việc giám sát, giáo dục người đó; lập hồ sơ đề nghị xem xét việc giảm
thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án gửi cơ quan có thẩm quyền; nhận xét bằng
và người được phân công giám sát, giáo dục người chấp hành án để giám sát, giáo
dục người đó; thông báo kết quả chấp hành án của người chấp hành án với UBND
cấp xã giao giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; bồi thường thiệt hại và thực hiện các
nghĩa vụ dân sự khác do người chấp hành án là người chưa thành niên gây ra theo
bản án, quyết định của Tòa án; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người chấp hành
án theo yêu cầu của UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục.
24
Ngoài ra, trong quá trình thi hành án nếu người phải chấp hành án tuân thủ
đúng quy định của pháp luật; tự giác phấn đấu, tích cực học tập, lao động, chấp hành
nghiêm chỉnh bản án, quyết định thi hành án và nghĩa vụ của người chấp hành án thì
được xét miễn, giảm thời hạn chấp hành án. Theo đó:
- Đối với việc miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ: Theo quy
định của Thông tư liên tịch số 09/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC- VKSNDTC
ngày 16/8/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao và Viện
kiểm sát nhân dân tối cao thì người phải chấp hành án được miễn chấp hành án phạt
cải tạo không giam giữ khi lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và không còn
nguy hiểm cho xã hội. Bởi vậy, khi người bị kết án cải tạo không giam giữ đã có
quyết định thi hành án, nhưng chưa chấp hành án mà có đủ các điều kiện quy định
này thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện hoặc Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi
người chấp hành án cư trú hoặc làm việc tự mình hoặc theo đề nghị của Cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu xem
xét, lập hồ sơ đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn chấp hành án. Hoặc nếu người phải
chấp hành án có đủ điều kiện miễn mà có đơn xin miễn chấp hành án thì Trưởng
Công an cấp xã có nhiệm vụ giúp UBND cấp xã tổ chức cuộc họp hoặc Thủ trưởng
đơn vị quân đội phải tổ chức cuộc họp để lập hồ sơ và đề nghị Cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ cư trú hoặc làm việc xem xét, đề nghị