VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC HUY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC HUY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN PHÚ THÁI
của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của bản thân. Các số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Các thông tin trích dẫn trong
luận văn được chỉ rõ xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố. Tác
giả xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình./.
T c
ả u n văn
N uyễn Đức Huy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG HỖ TRỢ ....................................... 10
1.1. Một số khái niệm ...................................................................................... 10
1.2. Vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của tổ chức đối với thực hiện chính
sách công ......................................................................................................... 19
1.3. Các bước thực hiện chính sách ................................................................ 20
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách công..................................... 25
1.5. Những yêu cầu cơ bản trong thực hiện chính sách .................................. 29
1.6. Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ................................................ 32
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG
NGÃI .............................................................................................................. 37
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi ảnh hưởng đến
việc thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ................................ 37
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi ....................................................................................... 43
2.3. Đánh giá về tổ chức thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ
: Công nghiệp hỗ trợ
CSPTCNHT
: Chính sách phát triển Công nghiệp hỗ trợ
DNNVV
: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
GTSX
: Giá trị sản xuất
HĐND
: Hội đồng nhân dân
HĐH
: Hiện đại hóa
KTXH
: Kinh tế - xã hội
KKT
: Khu kinh tế
1.1
Khái niệm công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản
15
1.2
Khái niệm CNHT của Việt Nam
17
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hỗ trợ là lĩnh vực công nghiệp cung cấp những sản ph m
có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất thành các sản ph m chính, đó là những linh
kiện, phụ liệu, phụ t ng, sản ph m bao bì, nguyên liệu và còn bao gồm những
sản ph m trung gian, những nguyên liệu sơ chế. Công nghiệp hỗ trợ đóng vai
trò quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranh của các sản ph m công nghiệp
cuối cùng, giảm nhập siêu, góp phần quan trọng vào công nghiệp hóa, từ đó
tác động mạnh đến quá trình phát triển công nghiệp và kinh tế xã hội của địa
phương và của đất nước. Công nghiệp hỗ trợ kém phát triển s làm hạn chế sự
phát triển của công nghiệp sản xuất sản ph m hoàn chỉnh ho c tăng cường
tình trạng phụ thuộc nhập kh u của công nghiệp lắp ráp.
Công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển c ng s ảnh hưởng rất lớn đến việc
thu hút đầu tư, đ c biệt là các nhà đầu tư có tiềm lực lớn. Hiện nay các lợi thế
về truyền thống về nhân công, m t b ng
huy tối đa năng lực đầu tư của các thành phần kinh tế, đ c biệt là các đối tác
chiến lược, các công ty tập đoàn đa quốc gia. hát triển công nghiệp hỗ trợ
theo hướng tập trung từng nhóm ngành công nghiệp để phát huy hiệu quả
cạnh tranh.
Những phân tích trên đây cho thấy: hát triển công nghiệp hỗ trợ có ý
nghĩa vô c ng quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, trong việc phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương. Có thể nói:
hát triển CNHT đang thu hút sự quan tâm lớn của Nhà nước Trung ương
c ng như chính quyền các địa phương và Quảng Ngãi không phải là một
ngoại lệ.
N m trong v ng kinh tế trọng điểm miền Trung, với Khu kinh tế Dung
Quất, nơi tập trung hàng loạt các dự án công nghiệp n ng, đ c biệt là Nhà
máy lọc hóa dầu đầu tiên của Việt Nam, nhà máy công nghiệp n ng, nhà máy
luyện cán thép. Bên cạnh đó với sự hình thành 01 KKT, 04 KCN và 22 CCNlàng nghề, Quảng Ngãi có nhu cầu lớn về sản ph m - dịch vụ và các điều kiện
2
khác để phát triển CNHT. Tuy nhiên, sự phát triển của CNHT của tỉnh vẫn
còn những hạn chế nhất định. Tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp
của tỉnh Quảng Ngãi là rất thấp. Hiện nay ở Quảng Ngãi, một số ngành lắp
ráp sản ph m hoàn chỉnh đều phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài. Do vậy,
họ luôn phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập kh u, không thể chủ
động được hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cho đến nay, nhận thức về phát triển công nghiệp hỗ trợ của địa
phương m c d đã có những thay đổi, tuy nhiên vẫn chưa tương xứng và ph
hợp với vị trí quan trọng của lĩnh vực công nghiệp này. Quy hoạch phát triển
công nghiệp m c d được xây dựng rất công phu, tuy nhiên phần đề cập đến
công nghiệp hỗ trợ còn khá mờ nhạt. Điều này làm cho công nghiệp hỗ trợ
hình thành một cách tự phát và thiếu sự tác động tích cực của Nhà nước trung
diện lý luận và thực tế; Đồng thời đưa ra một số khuynh hướng phát triển và
hoàn thiện lý luận về khoa học chính sách - tức là một hệ tri thức có khả năng
ứng dụng trực tiếp, phổ biến, làm cơ sở cho việc ra các quyết định về chính
sách [18].
Tác giả Lê Chi Mai trong công trình Những vấn đề cơ bản về chính
sách và quy trình chính sách đã có những phân tích bước đầu, giới thiệu
những vấn đề lý luận cơ bản về khoa học chính sách, làm rõ nhận thức về
chính sách và các giai đoạn của quy trình chính sách trong thực tiễn của Việt
Nam [9].
Trong tác ph m Khoa học chính sách phát hành năm 2011 [2], tác giả
V Cao Đàm đã đưa ra những c p khái niệm mới, như mục tiêu công bố và
mục tiêu ngầm định của chính sách, tác động dương tính và tác động âm tính
của chính sách, tác động ngoại biên và chuỗi tác động kế tiếp của chính sách,
xung đột và bất bình đ ng xã hội do chính sách, paradigm (khung mẫu) và
kiến tạo xã hội của chính sách
C ng với những c p khái niệm này là quy
4
trình/phương pháp phân tích, hoạch định, thực hiện và đánh giá chính sách
được tiếp cận dưới các hướng tiếp cận hiện đại của khoa học.
Công trình Chính sách công - Những vấn đề cơ bản của tác giả Nguyễn
Hữu Hải [5] đã cung cấp những kiến thức lý luận chung nhất về chính sách
công như: quá trình phát triển khoa học chính sách; đ c điểm, vai trò và phân
loại chính sách công; cấu trúc nội dung và chu trình chính sách công; nguyên
tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định chính sách công;
yêu cầu, các hình thức, phương pháp tổ chức thực hiện chính sách công và
phân cấp quản lý chính sách công; nguyên tắc, tiêu chí, quy trình, nội dung và
chu trình chính sách công và việc đánh giá chính sách công, tiêu chí của đánh
giá chính sách công.
- Các công trình nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ
Từ hơn mười năm trở lại đây, CNHT là một vấn đề được quan tâm. Bởi
vậy, có một số công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn đề này. Trong
đó, phải kể đến các công trình nghiên cứu: Luận án Tiến sỹ kinh tế của Hà
Thị Hương Lan “Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt
Nam”; Luận án Tiến sỹ kinh tế chính trị của Trương Nam Trung “Công
nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất ô tô ở Việt Nam”; Luận văn Thạc sỹ của Phạm
Văn Kim “Doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với phát triển công nghiệp phụ trợ ở
Việt Nam”; Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Th y Dương “Chính sách phát
triển công nghiệp hỗ trợ ở một số nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam”; “Chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ: Lý
luận, thực tiễn và định hướng cho Việt Nam” của TS Lê Xuân Sang, Viện
nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương; Đề tài “Điều tra, đánh giá thực trạng
công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và đề xuất giải pháp phát
triển CNHT giai đoạn 2011-2015 định hướng 2020” của PGS.TS Nguyễn
Trường Sơn, Đại học Đà Nẵng; Bài đăng trên tạp chí Tài Chính “Thực trạng
6
ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam” của TS Nguyễn Đình Luận – Đại học
Công nghệ TPHCM.
3. Mục đíc và n ệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về công nghiệp hỗ trợ, chính
sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, luận văn s nghiên cứu thực trạng việc
thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ tại tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó
đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ
triển công nghiệp nói chúng, CS phát triển công nghiệp hỗ trợ nói riêng, về
khoa học CSC, khoa học quản lý công.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng
để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến
đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của
Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên
cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của Cục Thống kê và các sở, ngành của
Quảng Ngãi.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp điều
tra thực địa thu thập số liệu thực tế tại các KKT, KCN, CCN.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Là đánh giá tính toàn vẹn, tính
thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của CS nh m điều chỉnh cho phù hợp với
mục tiêu và thực tế.
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày
số liệu, tính toán các đ c trưng của đối tượng nghiên cứu nh m phục vụ cho
quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định.
- Phương pháp chuyên gia: Thông qua các buổi g p gỡ, trao đổi và thảo
luận với cán bộ quản lý nhà nước ngành Công nghiệp và giáo viên hướng dẫn
nh m tháo gỡ những thắc mắc.
6. Ý n
ĩa ý u n và thực tiễn của lu n văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả đánh giá làm sáng tỏ, minh chứng cho các lý thuyết liên quan
8
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG HỖ TRỢ
1.1. Một số k
n ệm
- Chính sách:
Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã
hội. Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những
phản ứng của chính quyền. Những phản ứng đó khi định hình và thể hiện một
cách chính thức được gọi dưới cái tên “Chính sách”. CS là một công cụ
quan trọng của quản lý “Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các
công cụ quản lý như chiến lược, kế hoạch, CS và quyết định quản lý để tác
động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nh m đạt tới mục
tiêu mong muốn” [5, tr.6].
M c dù CS của nhà nước là vấn đề nghiên cứu từ rất lâu, nhưng chỉ trở
thành vấn đề được xem xét có tính hệ thống từ vài thập kỷ gần đây. Sự phát
triển của nó gắn với một số sự kiện lớn trên thế giới, đánh dấu sự thay đổi từ
khi kết thúc thế chiến thứ hai. Khái niệm khoa học chính sách được Lasswell
đề cập lần đầu tiên từ năm 1951. Đến nay, khoa học chính sách đã có những
phát triển mạnh m , trở thành một trong những nội dung trọng tâm của khoa
học xã hội.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề CS, mỗi cách tiếp cận liên
quan trực tiếp tới tính đ c thù của từng lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, xã
hội,.
Mỗi cách tiếp cận giúp người chu n bị quyết định CS một hướng tư
Chính sách công là CS của nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng
với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước. CSC có vai trò quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đến nay, đã có nhiều định nghĩa
về CSC, Thomas R.Dye cho r ng CSC là “bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn
làm ho c không làm” [8, tr.47].
William Jenkins đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các quyết định
có liên quan với nhau được ban hành bởi một ho c một nhóm nhà hoạt động
chính trị c ng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các phương thức để đạt được
11
mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi th m quyền” [8, tr.48-49].
Theo tác giả, CSC là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa
chọn; đồng thời, định nghĩa này c ng cho thấy một cách rõ ràng CSC là “một
tập hợp các quyết định có liên quan với nhau” và quá trình CS là hành vi định
hướng mục tiêu của nhà nước.
Guy Peter cho r ng: “CSC là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có
ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” [9, tr.5].
Định nghĩa này kh ng định chủ thể ban hành và thực hiện CSC là nhà nước,
đồng thời nhấn mạnh một khía cạnh quan trọng của CSC, đó là tác động của
CSC đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động
lên một cá nhân ho c một tổ chức cụ thể.
CSC theo Nguyễn Duy Gia “là một tập hợp các quyết định hành động
của Nhà nước nh m giải quyết một vấn đề đang đ t ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu xác định. CSC do Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện
nên CSC phản ánh bản chất của Nhà nước đó” [6, tr.7].
Theo tác giả Lê Chi Mai: “CSC là thuật ngữ d ng để chỉ một chuỗi các
quyết định hoạt động của nhà nước nh m giải quyết một vấn đề chung đang
đ t ra trong đời sống KTXH theo mục tiêu xác định” [15, tr.38]. Đồng thời
tác giả c ng nhấn những đ c trưng cơ bản của CSC như sau: Thứ nhất, chủ
Các khái niệm, đ c điểm, vai trò c ng như các vấn đề liên quan của công
nghiệp hỗ trợ đã được khá nhiều các nhà nghiên cứu và quản lý quan tâm và
phát triển. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại nhìn nhận công nghiệp hỗ trợ
dưới những quan điểm riêng, t y theo đ c điểm phát triển của mỗi nền kinh
tế. Ở Việt Nam, khái niệm và các vấn đề về công nghiệp hỗ trợ chỉ mới được
đề cập từ đầu những năm 2000 trở lại đây, c ng với sự gia tăng của đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực chế tạo. Cùng với sự thiếu hụt về hệ thống
lý luận và nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ, hệ thống CS riêng biệt cho
13
ngành này c ng chưa hoàn thiện, dẫn đến những hạn chế nhất định trong sự
phát triển của khu vực này.
Nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định CS sử dụng thuật ngữ “công
nghiệp hỗ trợ”, “công nghiệp phụ trợ”.... Trên thực tế, thuật ngữ này trở nên
thông dụng ở Nhật Bản vào khoảng giữa những năm 1980 khi được Chính
phủ Nhật Bản sử dụng trong các văn bản tài liệu của mình và sau đó được sử
dụng rộng rãi ở các nước Châu Á.
Khái niệm CNHT ra đời và được chính phủ Nhật Bản chính thức sử
dụng vào khoảng thời gian này, bởi sự phát triển mang tính lịch sử của nền
kinh tế những năm đó. Sự tăng giá của đồng tiền Nhật Bản đã làm cho các
doanh nghiệp Nhật giảm xuất kh u các sản ph m cuối cùng và chuyển các cơ
sở sản xuất sang các nước có chi phí nhân công rẻ hơn. Tuy nhiên các nhà lắp
ráp Nhật Bản ở nước ngoài vẫn phải nhập kh u linh phụ kiện từ các DN Nhật
Bản vì các doanh nghiệp tại nước sở tại không thể đáp ứng. Thuật ngữ CNHT
lúc đó được d ng để chỉ sự thiếu hụt các ngành công nghiệp như vậy ở các
nước này. Sau đó, thuật ngữ này đã được phổ biến đến các nước châu Á khác
cùng với các chương trình hỗ trợ của Nhật Bản như New Aid lan năm 1987,
chương trình phát triển CNHT châu Á năm 1993.
dụng cụm từ công nghiệp hỗ trợ mà thường gọi là “các ngành cung ứng”
(Supplier Industries), chỉ việc cung cấp sản ph m từ các doanh nghiệp bên
15
ngoài. Các khái niệm liên quan đến nội dung này còn được phản ánh ở các
thuật ngữ khác, như: thầu phụ, thuê ngoài, nhà cung ứng.
Như vậy, có thể thấy r ng công nghiệp hỗ trợ là một khái niệm rộng, có
tính chất tương đối. Dù có rất nhiều cách định nghĩa, các khái niệm CNHT
đều có các điểm chung như sau:
Thứ nhất, đó là việc cung ứng các linh phụ kiện cho mục đích sản xuất
sản ph m cuối cùng; thứ hai, các ngành CNHT bao gồm các công đoạn chủ
yếu để sản xuất các linh kiện kim loại, nhựa và cao su, điện và điện tử, nh m
phục vụ một số ngành công nghiệp chế tạo như xe máy, ô tô, điện tử, chế tạo
máy móc; thứ ba, việc cung ứng này chủ yếu được đáp ứng bởi hệ thống
DNNVV có trình độ công nghệ cao, tạo ra những sản ph m có độ chính xác
lớn, thực hiện các cam kết hợp đồng với khách hàng một cách chu n mực; thứ
tư, khách hàng cuối cùng của các ngành CNHT là nhà lắp ráp, do vậy, thị
trường của CNHT không rộng như sản xuất sản ph m cho người tiêu dùng
cuối cùng. Thị trường hàng hoá của họ thu hẹp hơn, có những nhóm sản ph m
n m ở phần thị trường rất hẹp và chỉ dành cho một số khách hàng nhất định.
Đây chính là khó khăn lớn nhất của phát triển CNHT.
Ở Việt nam, cụm từ “công nghiệp phụ trợ” bắt đầu được nhắc tới một
cách tương đối rộng rãi từ năm 2003. Tuy nhiên, thuật ngữ “công nghiệp hỗ
trợ” đã được chính thức hoá để chỉ vấn đề này, lần đầu ở Việt Nam từ năm
2007, trong “Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ Việt
Nam đến 2010, tầm nhìn đến 2020” do Bộ Công Thương soạn thảo và Thủ
tướng phê duyệt. Trong đó, CNHT được định nghĩa: CNHT là hệ thống các
nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo
chứ không xác định trên đ c thù sản ph m của ngành sản xuất phụ trợ (cơ khí
chế tạo, nhựa, điện tử
.
(iii) Số lượng các doanh nghiệp tham gia vào ngành công nghiệp hỗ trợ
s rất lớn và có thể bao gồm phần lớn hoạt động công nghiệp của một địa
phương.
(iv) Các doanh nghiệp hỗ trợ theo định nghĩa này không có sự phân biệt
về hình thức sở hữu, doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài. Có thể sự xuất
hiện của một số các doanh nghiệp nước ngoài trong ngành công nghiệp hỗ trợ
trong nước s là động lực để hoàn thiện ngành này.
Hiện nay, theo quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày
03/11/2015 của Chính phủ về Phát triển CNHT, các khái niệm liên quan đến
CNHT được giải thích như sau:
- CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh
kiện và phụ t ng để cung cấp cho sản xuất sản ph m hoàn chỉnh.
- Dự án sản xuất CNHT là dự án đầu tư tại Việt Nam để sản xuất sản
ph m CNHT.
- Hoạt động phát triển CNHT bao gồm: hoạt động trợ giúp của cơ quan
quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân về CNHT, đào tạo nguồn nhân lực,
nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ chuyển giao công nghệ sản xuất sản ph m
CNHT, hợp tác quốc tế, phát triển thị trường; đầu tư dự án sản xuất sản
ph m CNHT; cung ứng dịch vụ phục vụ CNHT.
- Chương trình phát triển CNHT là tập hợp các nội dung, nhiệm vụ
về hoạt động xúc tiến, trợ giúp phát triển CNHT nh m mục tiêu phát triển sản
xuất các sản ph m CNHT.
18