BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“TÌNH HÌNH TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH
BÌNH DƯƠNG TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY”
SVTH
MSSV
LỚP
KHĨA
NGÀNH
:
:
:
:
:
GIAO KHẢ THÙY
07124118
DH07QL
2007 – 2011
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
- TP. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2011-
TÓM TẮT
Sinh viên thực hiện: Giao Khả Thùy, Khoa Quản Lý Đất Đai và Bất Động Sản, Trường Đại
Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
Đề tài: “Tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn Thị Xã Dĩ
An, tỉnh Bình Dương từ năm 2005 đến nay”.
Giáo viên hướng dẫn: TS. Đào Thị Gọn, Bộ môn Quy hoạch, Khoa Quản Lý Đất Đai và
Bất Động Sản Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
Tranh chấp đất đai là một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai, có vai trò vô
cùng quan trọng, công tác này được làm tốt sẽ đảm bảo quyền sử dụng đất hợp pháp của người dân
giúp người dân an tâm lao động, sản xuất. Tranh chấp đất đai là một vấn đề phức tạp, nhạy cảm,
xảy ra ở khắp các tỉnh thành trên cả nước và đặc biệt trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay nó
càng trở nên nóng bỏng hơn, trở thành vấn đề được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.
Thị xã Dĩ An có tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích xây dựng
khu công nghiệp, khu dân cư, khu trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí ngày càng tăng nên
đất đai ngày càng có giá trị hơn dẫn đến tình trạng tranh chấp của Thị xã ngày càng đa dạng và
phức tạp. Do đó vấn đề tranh chấp đất đai cần phải được giải quyết triệt để, chính xác, hiệu quả để
ổn định xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội của Thị xã.
Đề tài có mục đích đánh giá tổng quan tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp trên địa
bàn Thị xã Dĩ An từ năm 2005 đến nay và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn Thị xã. Để đạt được mục đích nói trên, các phương pháp điều
tra thu thập số liệu, phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp
đánh giá đã được sử dụng làm công cụ nghiên cứu đề tài.
Ngoài ra, đề tài cũng nghiên cứu về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của Thị xã, tình hình
quản lý Nhà nước về đất đai có ảnh hưởng đến tình hình tranh chấp đất đai và hiệu quả giải quyết
tranh chấp đất đai. Đồng thời đề tài cũng nêu lên các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, các dạng
tranh chấp điển hình, hướng giải quyết và rút ra những khó khăn, vướng mắc trong công tác giải
quyết tranh chấp đất đai. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh
chấp đất đai trên địa bàn Thị xã Dĩ An.
Thực tế cho thấy tình hình tranh chấp đất đai trên địa bàn Thị xã Dĩ An không diễn ra gay
gắt như một số địa phương khác. Do những quyết định của cơ quan Trung ương và của địa phương
UBND
TN-MT
GCNQSDĐ
QSDĐ
TN & MT
TANDTC
VKSNDTC
DTTN
ĐHQG
TPHCM
GDP
CN
GD - ĐT
THCS
THPT
QH-KHSDĐ
BĐĐC
DANH SÁCH CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1: Diện tích tự nhiên của Thị xã theo đơn vị hành chính năm 2010................................. 10
Bảng 2: Cơ cấu các loại đất Thị xã Dĩ An ................................................................................. 13
Bảng 3: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế Thị xã Dĩ An ........................................................... 15
Bảng 4: Hiện trạng các khu, cụm công nghiệp trên Thị xã Dĩ An ............................................. 17
Bảng 5: Dân số, lao động Thị xã Dĩ An ..................................................................................... 18
Bảng 6: Hiện trạng giáo dục của Thị xã Dĩ An.......................................................................... 21
Bảng 7: Tổng diện tích tự nhiên năm 2010 của Thị xã Dĩ An ................................................... 24
Bảng 8: Diện tích được đo đạc lập bản đồ địa chính ................................................................. 26
Bảng 9: Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 .................................... 27
Đất đai có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người và hiện nay nó
càng quan trọng hơn vì nó là nhân tố để phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Chính vì
vậy việc quản lý tốt quỹ đất của quốc gia để sử dụng tiết kiệm, hợp lý và đạt hiệu quả cao
nhất là vấn đề đang được Nhà nước quan tâm hàng đầu.
Đối với Việt Nam, trong suốt thời gian từ khi chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai
được thiết lập từ năm 1980 cho đến nay, tranh chấp đất đai luôn là vấn đề thời sự, có những
diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc quản lý, sử dụng đất nói riêng và gây những
bất ổn nhất định đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung. Cụ thể, tranh chấp đất đai xảy
ra không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên trong tranh chấp mà còn ảnh hưởng
đến lợi ích Nhà nước. Khi xảy ra tranh chấp sẽ tác động không tốt đến tâm lý, tinh thần của
các bên, gây nên tình trạng mất ổn định, bất đồng trong nội bộ nhân dân, làm cho những quy
định của Luật đất đai cũng như những chính sách của Nhà nước không được thực hiện. Sự
kiện Bộ Tài nguyên – môi trường từng đề xuất thành lập một cơ quan tài phán chuyên trách
để giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai đã phần nào cho thấy tính chất nghiêm
trọng của vấn đề.
Đặc biệt, ngày nay khi nước ta bước vào nền kinh tế thị trường thì nhu cầu sử dụng
đất ngày càng gia tăng, do đó các vấn đề liên quan đến đất đai cũng nảy sinh đó là sự tăng
đột biến giá đất. Do đó, tình trạng tranh chấp đất đai để giành quyền quản lý, sử dụng có xu
hướng ngày càng tăng. Khi tranh chấp đất đai xảy ra, các bên tranh chấp khó có thể thỏa
thuận với nhau để đưa ra giải pháp hữu hiệu trong việc thực hiện quyền sử dụng đất. Để
tránh những xung đột có thể xảy ra, giữ vững an ninh trật tự đòi hỏi sự tăng cường quản lý
Nhà nước về đất đai, đặc biệt là công tác giải quyết tranh chấp đất đai.
Giải quyết tranh chấp đất đai là nội dung hết sức quan trọng của công tác quản lý nhà
nước về đất đai. Giải quyết tranh chấp đất đai tuy chỉ là một trong những công tác quản lý
do cơ quan Nhà nước thực hiện nhằm giải quyết ổn thoả với các bên khi có xảy ra mâu
thuẫn trong sử dụng đất đai, nhưng nó liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp thuộc về pháp
luật và những quan hệ xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích thiết thực của các tổ chức, cá
nhân, vì vậy được mọi người rất quan tâm.
Làm tốt công tác giải quyết tranh chấp đất đai sẽ giúp cho Nhà nước củng cố quản lý
chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật, xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với
quả trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai cũng như việc thực hiện các nội dung quản
lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn Thị xã Dĩ An từ năm 2005 đến nay. Qua đó có những
kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn công tác giải quyết tranh chấp, các vấn đề quản lý
Nhà nước về đất đai và ổn định tình hình sử dụng đất trên địa bàn Thị xã.
PHẦN I: TỔNG QUAN
I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I.1.1. Cơ sở khoa học
1. Các khái niệm
1.1. Khái niệm đất và đất đai
- Đất là lớp mặt tơi xốp của vỏ quả đất và được giới hạn ở độ sâu 3m trở lại, trong đó
có hai thành phần là vô cơ, hữu cơ. Tập hợp hai thành phần này lại ta có một thuộc tính
quan trọng của đất là độ màu mỡ, phì nhiêu, sức sản xuất, khả năng sinh lợi của đất. Nó là
một trong những thành phần của đất đai. Đất được hình thành do kết quả tác động của các
nhân tố: đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật và tác động của con người.
- Đất đai là một vùng không gian đặc trưng được xác định gồm các yếu tố: thổ
quyển, thạch quyển, thủy quyển, sinh quyển và khí quyển. Đất đai là kết quả của mối quan
hệ tổng hòa, tác động qua lại giữa đất với các hoạt động kinh tế xã hội của con người trong
cộng đồng dân tộc trên một lãnh thổ nhất định. Đất đai là nhân tố sinh thái bao gồm các
thuộc tính sinh học và tự nhiên tác dụng đến việc sử dụng đất như khí hậu, địa hình, loại đất,
chế độ thủy văn, thảm thực vật (động vật tự nhiên) và những biến động của đất do hoạt
động của con người.
+ Theo Luật Đất đai 2003 của Việt Nam thì đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng
quý giá, là tư liệu sản xuất đặt biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống,
là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và
quốc phòng.
1.2. Khái niệm về tranh chấp
Tranh chấp đất đai (TCĐĐ): là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. ( Khoản 26, Điều 4 Luật đất đai năm
- Với chế độ sỡ hữu toàn dân về đất đai nên tranh chấp đất đai chỉ có thể là tranh
chấp về quyền quản lý và sử dụng đất. Vì vậy, để giải quyết mọi quan hệ về tranh chấp đất
đai phải đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở
hữu quản lý. Kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời sửa
chữa đúng pháp luật những trường hợp xử lý sai hoặc xử lý không đúng. Đề cao vai trò của
các tổ chức đoàn thể để hòa giải các vụ tranh chấp có hiệu quả.
- Khi giải quyết tranh chấp đất đai xác định chỉ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
đất chứ không giải quyết tranh chấp quyền sở hữu về đất đai.
- Việc giải quyết tranh chấp đất đai làm thế nào để đảm bảo lợi ích chung của toàn
dân, quan hệ pháp luật đất đai cần phải được giữ ổn định tránh xáo trộn.
( Khoản 2, Điều 10 Luật đất đai năm 2003)
2.2. Nguyên tắc 2: Nguyên tắc khuyến khích việc tự thương lượng, hòa giải các
tranh chấp đất đai.
- Nắm vững quan điểm lấy dân làm gốc, phải dựa vào dân, bàn bạc dân chủ, công
khai quỹ đất với dân để giải quyết và phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong nội bộ
nhân dân để tìm ra giải pháp, không gò ép mệnh lệnh.
- Đảm bảo tính khả thi của việc giải quyết tranh chấp đất đai. Đảm bảo mối quan hệ
tốt đẹp trong nôi bộ nhân dân.
- Việc hòa giải được thực hiện tại UBND cấp xã (phường), thời hạn là 30 ngày.
(Điều 135 Luật đất đai năm 2003).
2.3. Nguyên tắc 3: Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai nhằm ổn định đời sống
và sản xuất của người sử dụng đất, kết hợp với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước.
- Đảm bảo người làm nông nghiệp có đất sản xuất, mọi người điều có nơi ở, gắn việc
giải quyết các vấn đề ruộng đất với tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa
theo hướng thâm canh tăng vụ, kinh doanh tổng hợp, mở mang ngành nghề, phân bố lại lao
động, dân cư phù hợp với đặc điểm và quy hoạch từng địa phương.
- Giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích phát triển sản xuất, ổn định và
từng bước cải thiện đời sống cho nhân dân.
- Kết hợp hài hòa giữa căn cứ pháp luật với thực tiễn, giữa các chính sách đất đai với
các chính sách xã hội khác.
nếu đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các
loại giấy tờ hợp lệ thì gửi biên bản hòa giải không thành kèm theo hồ sơ đến phòng TN –
MT hoặc Sở TN – MT.
3.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
o Thẩm quyền giải quyết của TAND
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận về quyền sử
dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ hợp lệ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50
của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.
o Thẩm quyền giải quyết của UBND
* UBND cấp xã, phường, thị trấn:
- Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến
UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.
- UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất
đai. UBND xã, phường, thị trấn chỉ được hòa giải, không ra quyết định giải quyết tranh
chấp đất đai.
- Thời hạn hòa giải là 30 ngày làm việc, kể từ ngày UBND xã, phường, thị trấn nhận
được đơn ( Khoản 2 Điều 135 Luật đất đai năm 2003).
* UBND cấp huyện và cấp tỉnh:
- Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn mà một bên
hoặc các bên đương sự không nhất trí.
- Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có GCNQSDĐ hoặc
không có một trong các loại giấy tờ hợp lệ quy định tại các khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật
đất đai năm 2003 thì các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan hành chính để được giải quyết.
Cơ quan hành chính các cấp giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định như sau:
+ Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết đối với tranh
chấp đất đai giừa hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau.
Trường hợp Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết
+ Làm việc với các đương sự để làm rõ nội dung tranh chấp và yêu cầu bổ sung hồ
sơ, tài liệu liên quan đến nội dung tranh chấp; trường hợp cần thiết mở hội nghị tư vấn để
giải quyết.
+ Làm việc với UBND cấp xã để thống nhất kết quả thẩm tra, xác minh.
+ Viết báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh và dự kiến giải quyết vụ việc, trình UBND
quyết định giải quyết vụ việc.
- Trong quá trình thẩm tra, xác minh giải quyết vụ việc, cán bộ phòng TN – MT vẫn
tiếp tục vận động đương sự hòa giải và rút đơn tranh chấp.
* Đối với trường hợp UBND cấp tỉnh giải quyết lần đầu
- Sau khi nhận được hồ sơ tranh chấp đất đai, Thanh tra Sở TN - MT tiến hành
nghiên cứu hồ sơ; đối với những vụ tranh chấp phức tạp, Sở TN - MT có thể thành lập đoàn
thanh tra TN - MT hoặc đề nghị UBND cấp tỉnh thành lập đoàn thanh tra liên ngành để tổ
chức thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ theo các bước sau:
+ Làm việc với các đương sự để làm rõ nội dung tranh chấp và yêu cầu bổ sung hồ
sơ, tài liệu liên quan đến nội dung tranh chấp. Tổ chức đối thoại khi cần thiết.
+ Làm việc với UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để tìm hiểu về nguồn gốc, quá
trình sử dụng đất, thu thập chứng cứ và hồ sơ địa chính của thửa đất.
+ Làm việc với các tổ chức, nhân chứng để thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến
nội dung tranh chấp.
+ Làm việc với UBND cấp Huyện để thống nhất kết quả thẩm tra, xác minh.
+ Viết báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh và dự kiến giải quyết vụ việc, trình UBND
quyết định giải quyết vụ việc.
- Trong quá trình thẩm tra, xác minh giải quyết vụ việc, Thanh tra Sở TN - MT vẫn
tiếp tục vận động đương sự hòa giải và rút đơn tranh chấp.
3.5. Căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai
- Luật cải cách ruộng đất ban hành ngày 04 tháng 12 năm 1953 của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa;
- Thông tư số 73/TTg ngày 07 tháng 7 năm 1962 của Thủ tướng Chính phủ nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa về việc quản lý đất của tư nhân cho thuê, đất vắng chủ, đất bỏ
hoang tại nội thành, nội thị;
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng
đất.
- Việc giải quyết đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp có công trình xây
dựng trên đất do Nhà nước quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách
quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991
được thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003
của Quốc hội, Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBNVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005.
* Căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không
có giấy tờ về quyền sử dụng đất
- Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có GCNQSDĐ hoặc
không có một trong các loại giấy tờ hợp lệ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất
đai thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện dựa theo các căn cứ sau:
+ Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đưa ra.
+ Ý kiến của Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai của xã, phường, thị trấn
do UBND xã, phường, thị trấn thành lập gồm có:
Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn là chủ tịch Hội
đồng;
Đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn;
Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc
đối với khu vực nông thôn;
Đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về
nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó;
Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn.
+ Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang
có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương.
+ Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch sử
dụng đất chi tiết đã được xét duyệt.
+ Chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước.
+ Từ 106o17’00’’ đến 106o48’45” kinh độ Đông.
Bảng 1: Diện tích tự nhiên của Thị xã theo đơn vị hành chính năm 2010
STT
Phường
Diện tích (ha)
Tỷ lệ (%)
1
Dĩ An
1.039,17
17,33
2
An Bình
339,85
5,67
3
7
Tân Bình
1.036,84
17,30
Tổng cộng
5.994,97
100,00
(Nguồn: Phòng Tài Nguyên và Môi Trường Thị xã Dĩ An)
- Thị xã Dĩ An là thị xã thuộc vùng Đông Nam Bộ nằm ở phía Nam tỉnh Bình
Dương. Tứ cận như sau:
+ Phía Bắc giáp: huyện Tân Uyên - tỉnh Bình Dương.
+ Phía Nam giáp: quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh.
+ Phía Đông giáp: thành phố Biên Hoà - tỉnh Đồng Nai.
+ Phía Tây giáp: quận Thủ Đức – thành phố Hồ Chí Minh và huyện Thuận An (nay
là Thị xã Thuận An) - tỉnh Bình Dương.
- Thị xã Dĩ An được chia tách ra từ huyện Thuận An vào ngày 20/08/1999 với tổng
diện tích tự nhiên là 6010.0 ha và diện tích hiện nay là 5.994,97 ha.
- Theo quy hoạch xây dựng vùng TP.HCM (QĐ phê duyệt 589/QĐ-TTg ngày
20/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ), Dĩ An là một trong những đô thị vệ tinh phụ thuộc
của TP.HCM. Mặt khác, Thị xã cũng là cửa ngõ giao lưu kinh tế của Bình Dương với quốc
tế và các Tỉnh miền Trung và miền Bắc qua cảng An Bình và ga tàu lửa Sóng Thần. Dĩ An
hội tụ khá đầy đủ các yếu tố hình thành thế và lực cho phát triển kinh tế với tốc độ cao trong
giai đoạn tới.
Sơ đồ 1: Bản đồ hành chính Thị xã Dĩ An
+ Suối Siệp - suối Bà Lô: bắt nguồn từ khu phố Đông An – phường Tân Đông Hiệp
chảy qua phía Bắc núi Châu Thới đến phường Bình An, Bình Thắng (đây là ranh giới giữa
Thị xã Dĩ An và Tp. Biên Hòa). Đoạn thuộc phường Tân Đông Hiệp có tên là suối Siệp,
rộng 3-6m); đoạn thuộc phường Bình An và Bình Thắng có tên là suối Bà Lô, rộng 50-60m.
Suối Bà Lô có các chi lưu: suối Lồ Ồ, rạch Bà Khâm, rạch Mương Cái.
+ Suối Nhum: nằm phía Tây nam Thị xã Dĩ An, là ranh giới giữa phường Đông Hòa
và quận Thủ Đức- TP.HCM. Đoạn chảy qua phường Đông Hòa rộng 5-8m, chảy theo
hướng Bắc- Nam, đây là suối thoát nước chính của khu vực Đông Hòa và một phần phường
Dĩ An.
5. Các nguồn tài nguyên
5.1. Tài nguyên đất
- Về mặt thổ nhưỡng, đất đai của thị xã được chia làm 04 nhóm chính: loại đất nâu
vàng có diện tích lớn nhất 4587,04ha, chiếm 76,51% tổng diện tích tự nhiên (DTTN) toàn
Thị xã; kế tiếp là đất phù sa 956,00ha chiếm 15,95% DTTN; đất xám gley 314,00ha chiếm
5,24% DTTN và đất xói mòn trơ sỏi đá 77,00ha; còn lại là sông suối chiếm diện tích
60,93ha, cụ thể:
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): 4587,04ha chiếm đến 76,51% DTTN toàn Thị xã
và 4,24 % diện tích đất đất đỏ vàng toàn Tỉnh. Đất đỏ vàng được hình thành trên mẫu chất
phù sa cổ. Loại đất này được phân bố ở hầu hết ở các xã trong thị xã. Đất Fp thích hợp với
trồng cây lâu năm như cao su, tiêu, cây ăn quả...
+ Đất phù sa (P, Pf): 956,00ha chiếm 15,95% DTTN của toàn Thị xã và 3,87 % diện
tích đất phù sa toàn Tỉnh. Đất phù sa phân bố tập trung ở các phường Tân Bình, Bình An,
Bình Thắng, hầu hết đã được khai thác sử dụng cho mục đích nông nghiệp (trồng lúa, hoa
màu và cây ăn trái...). Đất phù sa được chia làm 2 loại: Đất phù sa không được bồi (P), đất
phù sa có tầng loang lổ (Pf).
+ Đất xám gley: Chỉ có 314,00ha chiếm 5,24% DTTN toàn Thị xã và 0,08 % diện
tích đất xám toàn Tỉnh. Đất xám phân bố tập trung ở phường Bình An, Đông Hoà và Dĩ An.
Loại đất này được hình thành trên bậc thềm phù sa cổ, đất xám có thành phần cơ giới nhẹ,
Đất nâu vàng
4587,04
76,51
4
Đất xói mòn trơ sỏi đá
77,00
1,28
5
Đất sông suối
60,93
1,02
Tổng Cộng
5.994,97
100,00
(Nguồn: Phân viện quy hoạch và kinh tế nông nghiệp)
trong vài chục năm nay. Đến nay, đã có các mỏ đá ngừng khai thác và được chuyển mục
đích sử dụng như: Mỏ đá Đông Hòa được chuyển thành hồ nước - khu bảo tồn ĐHQG
TPHCM; mỏ đá Bình An được cải tạo thành hồ nước phục vụ cho khu du lịch hồ Bình An.
5.4. Tài nguyên nhân văn
- Dĩ An nằm gần Cù Lao Phố. Cách đây 300 năm, Cù Lao Phố là thương cảng chính
của xứ Đồng Nai-Nam Bộ, đây là nơi giao lưu nhiều nền văn hóa của nhiều vùng miền trên
cả nước. Ngoài ra, còn có người Hoa đến đây để buôn bán, một số ít làm nghề gốm xứ (chủ
yếu có nguồn gốc từ Hà tiên –tỉnh Kiên Giang). Sự giao lưu của nhiều nguồn văn hóa khác
nhau đã hình thành bản sắc văn hóa đặc trưng của người dân Dĩ An. Nét đẹp văn hóa, nghệ
thuật đã được thể hiện rõ nét trên các họa tiết điêu khắc gỗ, gốm sứ, các kiến trúc cổ đền
chùa...
6. Hiện trạng môi trường
- Thị xã Dĩ An là nơi tập trung đông dân cư với rất nhiều nhà máy xí nghiệp, vấn đề
bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn cho sức khỏe con người và môi trường sinh thái.
- Đối với các sơ sở sản xuất và các xí nghiệp hiện có, còn phân tán nhiều trong địa
bàn dân cư, đã gây ô nhiễm cho môi trường như khói bụi, gây tiếng ồn, nước bẩn, mùi
hoi,… Các cơ sở này từng bước thay đổi công nghệ tiên tiến và ứng dụng khoa học kỹ thuật
về xử lý chất thải. Đối với các cơ sở mới, các nhà máy xí nghiệp phải được xây dựng tập
trung trong các khu công nghiệp và phải có hệ thống xử lý nước thải, quan tâm đến mảng
cây xanh trong khu công nghiệp.
- Việc phát triển mạnh công nghiệp trên địa bàn Thị xã dẫn đến vấn đề chất, khí thải
công nghiệp càng phải được quan tâm, cần phải có những biện pháp thiết thực và hiệu quả
để bảo vệ môi trường chung.
I.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Giai đoạn 2005-2010, GDP tăng bình quân 16,2%/năm, trong đó ngành công
nghiệp-xây dựng tăng khá 14,1%(tỉnh Bình Dương: 13,6%), thương mại dịch vụ tăng nhanh
và đạt 26,5%/năm, nông nghiệp giảm 7,8%/năm.
Năm
Năm
Tăng
BQ
tính
2005
2006
2007
2008
2009
2010
(%/năm
)
1000
Dân số trung bình Ng
I
GDP
DL
đồng
Nông-Lâm-Thủy
sản
Tỷ
đồng
9
GDP (giá thực tế)
Tỷ
đồng
10.94
3.520 4.447 5.608 7.291 8.916 6
Công nghiệp-XD
Tỷ
đồng
2.898 3.628 4.568 5.752 6.796 8.279
Thương mại-DVDL
100
100
100
100
100
100
Công nghiệp-XD
%
82,3
81,6
81,5
78,9
76,2
75,6
Thương mại-DVDL
0,1
4
GDP/người
Tr. Đ
16,9
19,6
22,1
26,3
29,8
35,2
II
Giá trị sản xuất
(GO)
1
GO (gía 1994)
Tỷ
2.002 2.432 3.032 4.799 6.596 9.367 36,2
Nông-Lâm-Thủy
sản
Tỷ
đồng
36
2
3
9
35
9
34
8
30
7
26
Bảng 4: Hiện trạng các khu, cụm công nghiệp trên Thị xã Dĩ An
Số
TT
Tên khu/cụm công nghiệp
Địa điểm
Tổng cộng
Diện
tích (ha)
Dự án
nước
ngoài
Dự án
trong
nước
Lao động
(người)
808,7
163
152
3
Khu CN Bình Đường
An Bình
16,5
10
2
7.247
4
Khu CN T.Đ. Hiệp A
(Dapark)
T. Đ. Hiệp
52,8
6
8
5.212
T. Đ. Hiệp
58,0
4
2
n/a
8
Dịch vụ hỗ trợ CN
Các phường
30.7
n/a
n/a
n/a
(Nguồn: Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương và Phòng Kinh tế Thị xã Dĩ An,
2010)
2.3. Thương mại – Dịch vụ
Đ.vị
tính
Năm
2005
Người
2
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
207.796 226.942 253.194 277.406 299.248
Năm
2010
Tăng BQ
(%/năm
2
Mật độ dân số
Ng/km
3
Lao động đang
làm việc trong các
ngành
Người
-
Ngành nông nghiệp
Người
-
Công nghiệp và XD
Người
-
Dịch vụ
100,0
-
Ngành nông nghiệp
%
1,3
1,0
0,9
0,9
0,6
0,5
-
Công nghiệp và XD
%
86,7
81,4
12,0
17,5
17,0
18,7
17,4
(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tổng kết các năm của Thị xã Dĩ An).
4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn.
- Thị xã cũng đã lập xong quy hoạch chung tỷ lệ 1/10.000 đô thị Dĩ An đến năm
2020 và tầm nhìn 2030. Hiện đang triển khai quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 các phường để
làm cơ sở pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đô thị trên địa bàn Thị xã.
- Quản lý tương đối chặt chẽ việc thực hiện quy chế xây dựng của các khu đô thị, khu
dân cư tập trung, nhất là về mặt kiến trúc và các chỉ số xây dựng.
- Hiện nay, trên địa bàn Thị xã có khoảng 95 khu dân cư với diện tích khoảng
1.493ha (Tân Đông Hiệp: 15 khu, An Bình: 21 khu, TT Dĩ An: 17 khu, Đông Hòa: 10 khu,
Bình Thắng: 14 khu, Bình An: 6 khu, Tân Bình: 12 khu).
- Các khu dân cư cũ đã hình thành lâu đời, đặt biệt trong những năm sau 1990 khi
nhiều khu công nghiệp tập trung được xây dựng, dân nhập cư đến rất đông, nhu cầu đất ở
tăng cao, từ đó phát sinh tình trạng tự phân lô bán đất nền, mật độ xây dựng cao (chiếm
70% diện tích). Các khu dân cư tự phát hầu hết thiếu cơ sở hạ tầng như cống thoát nước,
đường hẻm nhỏ, …
- Các khu dân cư mới hoặc đã chỉnh trang: Thị xã Dĩ An đã thu hút được nhiều dự án
đầu tư xây dựng khu đô thị và khu dân cư tập trung. Tính lũy kế cho đến nay có 57 dự án
được duyệt với tổng diện tích đất quy hoạch 717ha (tăng 13 dự án so với năm 2005). Hầu
hết các dự án đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 và tiến hành xây dựng hạ
dài khoảng 2,4km, nền đường rộng khoảng 28m, lộ giới 120m, đạt tiêu chuẩn cấp I đồng
bằng.
+ Quốc lộ 1K nối thành phố Biên Hòa - Thị xã Dĩ An – Thủ Đức (TpHCM), đoạn
chạy qua Thị xã có chiều dài khoảng 5,7km, hiện đang được nâng cấp lên thành 4 làn xe.
Đây là tuyến trục đối ngoại cho các khu công nghiệp thuộc địa bàn Thị xã Dĩ An.
- Đường tỉnh: Trên địa bàn Thị xã có 2 tuyến đường tỉnh chạy qua với chiều dài
khoảng 29.28 km.
+ Đường tỉnh 743A xuất phát từ ngã tư Tân Vạn (QL1A) – QL1K – phường Tân
Đông Hiệp -Thuận An –Thủ Dầu Một, tổng chiều dài khoảng 12,2 km (DT743: 10,9km,
743B: 1,3km), nền đường 13-15 m, mặt đường nhựa rộng 9-11m. Đây là đường xuyên tâm,
nối từ cảng Bình Dương và QL1A vào trung tâm Thị xã, có ý nghĩa vô cùng to lớn trong
phát triển kinh tế – xã hội của Thị xã Dĩ An cũng như tỉnh Bình Dương.
+ Đường tỉnh 743B xuất phát từ ngã tư An Phú đến ranh TPHCM, tổng chiều dài của
tuyến đường là 4.93km( qua Dĩ An 4.93km), nền đường 42m, mặt đường 20m. Nó có ý
nghĩa rất quan trọng nối giữa TPHCM với Bình Dương nói chung và Dĩ An nói riêng.
+ Đường tỉnh 743C xuất phát từ ngã tư Cầu Ông Bố (QL 13) huyện Thuận An đến
(QL1K), chiều dài tuyến trên Thị xã Dĩ An là 1.27km, nền rộng 42m, mặt nhựa rộng 20m.
Là tuyến nối giữa Dĩ An-Thuận An-Thủ Dầu Một, là tuyến đường trọng yếu phát triển kinh
tế của vùng.
+ Đường Tân Vạn - Mỹ phước đi từ ngã ba Tân Vạn (QL1A) - Thủ Dầu Một - Mỹ
Phước (huyện Bến Cát) – nối vào QL13, hiện đang xây dựng và đã hoàn thành từ Tân Vạn
đến ĐT741, đoạn qua Thị xã Dĩ An dài khoảng 10km (tổng chiều dài khoảng 32km), nền
30m, mặt đường nhựa 27m. Đây là đường huyết mạch nối cảng Bình Dương và QL1A vào
các khu công nghiệp và khu đô thị mới của tỉnh Bình Dương.
- Đường thị xã: Hiện nay, trên địa bàn Thị xã có khoảng 40-50 tuyến đường chính
với chiều dài khoảng 40km.
- Đường trong khu dân cư: Hầu hết đường trong các khu dân cư cũ lộ giới nhỏ (3-5
m), chất lượng kém, thiếu hệ thống cấp thoát nước. Các khu dân cư mới đường rộng 8-12m,
có lề đường và xây dựng với chất lượng cao.
- Bến xe miền Đông được cấp đất với diện tích 8,22ha ở phường Bình Thắng.