NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA ONG Encarsia transvena (APHELINIDAE – HYMENOPTERA) KÍ SINH SÂU NON BỌ PHẤN TRẮNG (Bemisia tabaci) HẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA
ONG Encarsia transvena (APHELINIDAE – HYMENOPTERA)
KÍ SINH SÂU NON BỌ PHẤN TRẮNG (Bemisia tabaci)
HẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
KHÓA: 2007 – 2011
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ PHỤNG KIỀU

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 8/2011


NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA
ONG Encarsia transvena (APHELINIDAE – HYMENOPTERA)
KÍ SINH SÂU NON BỌ PHẤN TRẮNG (Bemisia tabaci)
HẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tác giả
NGUYỄN THỊ PHỤNG KIỀU
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng kỹ sư ngành Bảo vệ thực vật

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TS. Trần Thị Thiên An


iii

TÓM TẮT
Nguyễn Thị Phụng Kiều – Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh – Tháng 8/2011.
Đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của ong Encarsia
transvena (Aphelinidae – Hymenoptera) kí sinh sâu non bọ phấn trắng Bemisia
tabaci hại rau tại Tp. Hồ Chí Minh”.
Giáo viên hướng dẫn: TS. Trần Thị Thiên An và KS. Trần Quốc Dũng.
Việc nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của ong Encarsia
transvena kí sinh sâu non bọ phấn trắng Bemisia tabaci là bước khởi đầu tạo cơ sở
thực tiễn cho việc xây dựng biện pháp phòng trừ sinh học đối với bọ phấn trắng tại Tp.
Hồ Chí Minh. Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2011 đến tháng 6/2011 tại trường Đại
học Nông Lâm nhằm góp phần giải quyết mục đích ở trên.
Đề tài đã ghi nhận một số kết quả:
Ong kí sinh E. transvena (tên khác là E. sophia) thuộc họ Aphelinidae, bộ cánh màng
Hymenoptera. E. transvena là loại ong kí sinh có cơ thể rất nhỏ màu vàng sáng, ong cái dài
trung bình 0,601 ± 0,049 mm, ong đực dài trung bình 0,531 ± 0,045 mm. Râu đầu của ong
dạng đầu gối có 8 đốt. Ong có 2 cặp cánh trong suốt được phủ 1 lớp lông tơ mịn, cánh trước
có diềm lông dài. Bụng ong có 8 đốt, ống đẻ trứng dài từ đốt bụng thứ 4 đến đốt bụng thứ 8.
Ở điều kiện nhiệt độ 30 ± 2oC, ẩm độ 65 ± 5%, thời gian phát triển vòng đời trung
bình của ong E. transvena là 12,35 ± 0,33 ngày. Trong điều kiện không tiếp xúc với kí chủ,
ong E. transvena sống được từ 3 – 4 ngày với nguồn thức ăn bổ sung thích hợp là mật ong
30%. Hoạt động kí sinh không ảnh hưởng đến tuổi thọ của ong cái khi ong được cho ăn đầy
đủ. Ong cái đẻ trung bình 22,75 ± 2,35 trứng kí sinh. E. transvena là ong nội kí sinh chuyên
tính, có tỉ lệ vũ hóa 96,38 ± 5,62%, tỉ lệ ong cái 82,33 ± 3,06% và vòng đời trung bình là
11,48 ± 0,64 ngày trên vật chủ thích hợp (sâu non bọ phấn tuổi 3). Ong E. transvena có khả
năng tìm kiếm vật chủ để kí sinh với khoảng cách 0,05 m2 trong khoảng 1,872 giờ và có
hoạt động kí sinh cao tại vùng có mật số vật chủ nhiều.



2.2.2 Các nghiên cứu về ong kí sinh E. transvena ........................................................13
2.3 Phản ứng chức năng và phản ứng số lượng .............................................................15
2.3.1 Phản ứng chức năng .............................................................................................15


v
2.3.2 Phản ứng số lượng ................................................................................................19
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....................................20
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ...........................................................................20
3.2 Nội dung nghiên cứu ...............................................................................................20
3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu.......................................................................20
3.3.1 Nhân nuôi nguồn kí chủ, kí sinh...........................................................................20
3.3.2 Thí nghiệm xác định thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời của ong .....22
3.3.3 Mô tả đặc điểm hình thái ong E. transvena ..........................................................22
3.3.4 Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E. transvena......................23
3.3.5 Thí nghiệm ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ ong E. transvena .....24
3.3.6 Thí nghiệm xác định tuổi vật chủ thích hợp cho ong E. transvena kí sinh ..........25
3.3.7 Thí nghiệm xác định khả năng sinh sản của ong E. transvena ............................26
3.3.8 Thí nghiệm xác định khả năng kí sinh của ong E. transvena...............................26
3.3.8.1 Phản ứng chức năng ..........................................................................................27
3.3.8.2 Phản ứng số lượng .............................................................................................27
3.4 Phương pháp thống kê xử lý số liệu ........................................................................28
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.....................................................................29
4.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của ong kí sinh E. transvena.......................29
4.1.1 Vị trí phân loại ......................................................................................................29
4.1.2 Đặc điểm hình thái................................................................................................29
4.2 Thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời của ong E. transvena ....................36
4.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E. transvena trưởng thành .....................39
4.4 Ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ ong E. transvena ...........................40
4.5 Khả năng sinh sản của ong E. transvena .................................................................42

Hình 4.6 Chân của E. transvena quan sát dưới kính hiển vi độ phóng đại ×10 ............32 
Hình 4.7 Bụng của ong E. transvena.............................................................................33 
Hình 4.8 Trứng của ong E. transvena ...........................................................................33 
Hình 4.9 Sâu non tuổi 1 của ong E. transvena ..............................................................34 
Hình 4.10 Sâu non tuổi 2 của ong E. transvena ............................................................34 
Hình 4.11 Sâu non tuổi 3 của ong E. transvena ............................................................34 
Hình 4.12 Các giai đoạn phát triển nhộng của ong E. transvena ..................................35 
Hình 4.13 Vòng đời của ong E. transvena ....................................................................38 


viii

DANH SÁCH BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng
Bảng 2.1 Tính kháng của bọ phấn B. tabaci đối với một số hoạt chất thuốc trừ sâu ......7 
Bảng 4.2 Thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời của ong kí sinh E. transvena.
.......................................................................................................................................36 
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến tuổi thọ ong E. transvena.........................39 
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của hoạt động kí sinh và thức ăn đến tuổi thọ ong cái E. transvena. .41 
Bảng 4.5 Khả năng đẻ trứng và tỉ lệ vũ hóa của ong E. transvena. ..............................42 
Bảng 4.6 Sự lựa chọn tuổi vật chủ của ong E. transvena..............................................43 
Bảng 4.7 Số sâu non bọ phấn bị kí sinh khi cho 1 ong cái tiếp xúc với mật số kí chủ
tăng dần..........................................................................................................................47 
Bảng 4.8 Giá trị 1/Ha và 1/H.T được tính từ kết quả thí nghiệm. .................................49 
Biểu đồ
Đồ thị 4.1 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến tuổi thọ ong E. transvena .......................40 
Đồ thị 4.2 Ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ ong cái E. transvena ..........41 
Đồ thị 4.3 Sự lựa chọn tuổi kí chủ của ong E. transvena. .............................................44 
Đồ thị 4.4 Số sâu non bọ phấn bị kí sinh khi cho 1 ong cái tiếp xúc với mật số kí chủ
ngày càng tăng ...............................................................................................................47 



2
phát triển nông nghiệp đô thị. Vì vậy, cần chú trọng đến vấn đề bảo vệ và phát huy vai
trò của thiên địch trong công tác phòng trừ bọ phấn trắng.
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về thiên địch của bọ phấn trắng B.
tabaci, tuy nhiên chưa có tài liệu nào công bố về ong Encarsia transvena kí sinh sâu
non bọ phấn trắng B. tabaci ở Việt Nam. Để có thêm cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng
biện pháp phòng trừ sinh học đối với bọ phấn trắng có hiệu quả, đề tài “Nghiên cứu
một số đặc điểm hình thái và sinh học của ong Encarsia transvena (Aphelinidae –
Hymenoptera) kí sinh sâu non bọ phấn trắng Bemisa tabaci hại rau tại Thành phố
Hồ Chí Minh” đã được thực hiện.
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích:
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng biện
pháp phòng trừ sinh học bọ phấn trắng bằng cách sử dụng ong kí sinh sâu non của
chúng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2.2 Yêu cầu:
1. Mô tả được một số đặc điểm hình thái của ong ở các pha trứng, ấu trùng, nhộng
và trưởng thành.
2. Xác định được ảnh hưởng của thức ăn và hoạt động kí sinh đến tuổi thọ của ong
E. transvena.
3. Xác định được thời gian phát triển các pha và vòng đời của ong E. transvena.
4. Xác định được khả năng đẻ trứng của ong E. transvena.
5. Xác định được khả năng kí sinh của ong E. transvena trên sâu non bọ phấn
trắng B. tabaci.
1.3 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Đề tài được thực hiện từ 15/02/2011 đến 15/06/2011 tại Bộ môn Bảo Vệ Thực
Vật, khoa Nông Học, trường Đại Học Nông Lâm - TP. Hồ Chí Minh.
1.4 Giới hạn đề tài

cây hàng niên và đa niên là thức ăn hay kí chủ phụ của B. tabaci. Từ những năm 1980,


4
việc bùng phát B. tabaci và virus từ B. tabaci trở thành yếu tố giới hạn năng suất trên
các cây lương thực và cây trồng lấy củ ở nhiều nơi trên thế giới (Brown, 1994). B.
tabaci được báo cáo gây hại trên cây ăn trái đầu tiên vào năm 1986 (Price và ctv.,
1986). Trong điều kiện nhà kính, bọ phấn trắng tấn công mạnh trên cây ăn trái hơn các
loại cây rau như cà chua, ớt ngọt, cà tím, dưa leo… (Cock, 1986).
2.1.2 Mức độ gây hại của bọ phấn trắng B. tabaci
Việc ước tính thiệt hại do bọ phấn trắng gây ra cho nền nông nghiệp thế giới rất
khó khăn do vùng thiệt hại ngày càng mở rộng, số lượng cây trồng mùa vụ và sự khác
biệt về đơn vị tiền tệ giữa các quốc gia (Ellsworth, 1999). Bọ phấn không chỉ chích hút
mà chất bài tiết của chúng vốn là thức ăn ưa thích của nấm bồ hóng. Đây là những yếu
tố gây thiệt hại đến cả năng suất và phẩm chất của sản phẩm.
B. tabaci lần đầu tiên được báo cáo là sâu hại nghiêm trọng trên bông vải tại Bắc
Ấn Độ (một phần Pakistan hiện nay) vào thập niên 20 và đầu thập niên 30 (Misra và
Lamba, 1929; Husain và Treham, 1933). Basu (1995) cho biết bọ phấn đã bùng phát dữ
dội ở Sudan và Iran (thập niên 50), El Salvador (1961), Mexico (1962), Brazil (1968),
Thổ Nhĩ Kì (1974), Israel (1976), Thái Lan (1978), Arizona và California, Hoa Kỳ
(1981) và Ethiopia (1984) (Basu, 1995).
Ở Hoa Kỳ, bọ phấn từ lâu đã là loài sâu hại phổ biến trên các vùng nông nghiệp
khác nhau suốt các tiểu bang từ miền nam đến miền tây nhưng chưa gây thiệt hại kinh tế
đáng kể cho đến năm 1981, khi chúng bộc phát thành dịch tại California và Arizona.
Năm 1986, ở Florida, bọ phấn trắng gây hại nặng trên cây trạng nguyên, đồng thời các
triệu chứng bệnh bạc lá do virus truyền từ bọ phấn trắng xuất hiện trên bí (Price và ctv.,
1986; Maynard và Cantliffe, 1989). Từ 1991 đến 1992, thiệt hại kinh tế do bọ phấn
trắng gây ra tại các bang Florida, Arizona, California, Texas khoảng 200 đến 500 triệu
USD. Riêng vùng thung lũng Imperial, California trong 5 năm (1991-1995), bọ phấn
gây thiệt hại năng suất đến hơn 100 triệu USD mỗi năm . Các vùng Arizona, California

De Barro và ctv. (1998) cho biết giữa thập niên 90, tại vùng Thái Bình Dương, B.
tabaci được tìm thấy trên 18 đảo bao gồm đảo Cook, Guam, New Caledonia, American
Samoa, Fiji, Marshall Island, Niue, Federated States of Micronesia, Kiribati, Papua New
Guinea và Solomon Island.
2.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ phấn trắng B. tabaci
2.1.3.1 Đặc điểm hình thái
Theo Nguyễn Thị Chắt, bọ phấn trưởng thành là một loài rầy có 2 cặp cánh nhỏ
trong suốt, toàn thân bao phủ lớp bột phấn màu trắng. Thành trùng thân dài 0,75 – 1
mm, sải cánh 1,5 – 2 mm, con đực nhỏ hơn con cái. Râu đầu dài 6 đốt, chân dài, mảnh,


6
bàn chân 2 đốt, cuối bàn có 2 vuốt, giữa 2 vuốt có đệm lồi. Bụng 9 đốt, đốt ngực bụng
nhỏ dạng ong.
Theo CABI, trứng có hình quả lê, dài 2 mm, mới đẻ trong suốt sau chuyển sang
màu nâu. Trứng đính trên lá nhờ vào cuống ghim vào khe nhỏ trên mô lá. Ấu trùng có 4
giai đoạn. Lúc mới nở (tuổi 1), ấu trùng có dạng dẹp, hình ovan, hình dáng giống như
cái vẩy. Sau khi nở, ấu trùng bò trên mặt lá khoảng vài giờ và ở cố định lại một chỗ để
hút nhựa cây; sau khi lột xác lần đầu, ấu trùng không còn chân, dùng vòi hút bám chặt
vào lá, không di chuyển. Nhộng giả (tuổi 4) có chiều dài khoảng 0,7mm. Trên những lá
trơn láng nhộng không có gai lưng, nhưng trên lá có nhiều lông thì nhộng có từ 2-8 gai
lưng dài. Nhộng có 2 đốm mắt màu đỏ mà sau này trở thành mắt của thành trùng.
Thành trùng nở ra thông qua ngấn lột xác hình chữ T trên vỏ nhộng và trải rộng
cánh trong khoảng vài phút trước khi cánh được phủ phấn bằng chất sáp bài tiết từ tuyến
đặc biệt trên bụng, cơ thể có màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt.
2.1.3.2 Đặc điểm sinh học
Theo Nguyễn Thị Chắt, trứng bọ phấn thường được đẻ dưới mặt lá thành từng cụm
4-6 trứng hay rải rác trong mô lá nhất là lá bánh tẻ. Ấu trùng mới nở màu vàng nhạt, có
đầy đủ râu và chân, bò rất nhanh ở mặt dưới lá. Sang tuổi 2, chân sâu non bọ phấn bị
thoái hóa, bò chậm chạp gần như ở cố định một chỗ. Sâu non bọ phấn tuổi 3 ở cố định.

Bảng 2.1 Tính kháng của bọ phấn B. tabaci đối với một số hoạt chất thuốc trừ sâu
Hoạt chất

Tác giả

BHC/cyclodienes
butocarboxim
carbofuran
dimethoate
DDT
dicrotophos
quinalphos
parathion
fenvalerate
endosulfan
permethrin
parathion-methyl
sulprofos
chlorfenvinphos
cyhalothrin
malathion
deltamethrin
acephate

Dittrich V., và Ernst G.H., (1982)
Dittrich V., and Ernst G.H., (1982)
Dittrich và ctv., (1983)
Dittrich và ctv., 1983)
Prabhaker và ctv., (1985)
Dittrich V. và ctv., (1985)

triazophos
cypermethrin-beta
methomyl
imidacloprid
pirimiphos-methyl
pyriproxyfen
thiamethoxam

Horowitz và ctv., (1994)
Bloch and Wool, (1994)
Cahill và ctv., (1996a); Erdogan và ctv., (2008)
Cahill và ctv., (1996a)
Cahill và ctv., (1996a)
Grafton – Cardwell và ctv., (1998)
Elbert và Nauen, (2000); Ishaaya và ctv., (2003)
Elbert và ctv., (2000)
Kranthi và ctv., (2001)
Cardona và ctv., (2001)
Cardona và ctv., (2001)
Cardona và ctv., (2001)
Roditakis và ctv., (2005)
Erdogan và ctv., (2008)
Erdogan và ctv., (2008)
Erdogan và ctv., (2008).
Qiu và ctv., (2009)
Qiu và ctv., (2009)
Roditakis và ctv., (2009)
Roditakis và ctv., (2009)
Crowder và ctv., (2009)
Feng và ctv., (2010)

ăn mồi này phải thực hiện trong điều kiện đặc biệt để giảm thiểu sự cạnh tranh.
Gần đây, hai loài Euseius scutalis (Phytoseiidae – Acari) và Typhlodromips swiskii
(Phytoseiidae – Acari) cũng đã được ghi nhận là thiên địch của B. tabaci. Chúng không
chỉ ăn các loài côn trùng gây hại cây trồng mà còn ăn được phấn hoa và mật hoa. Do đó
chúng có thể sống sót khi mật số kí chủ thấp. Vì vậy, chúng có khả năng gây hại khi sử
dụng các mô cây làm nguồn thức ăn trong điều kiện thiếu kí chủ (Nomikou và ctv.,
2003).
2.1.5.2 Nhóm nấm gây bệnh
Trên đồng ruộng, loài nấm phổ biến kí sinh B. tabaci hiệu quả là Paecilomyces
fumosoroceus. Các loại nấm kí sinh trên côn trùng khác cũng có hiệu quả đối với B.
tabaci bao gồm Paecilomyces spp., Lecanicillium lecanii, Beauveria bassiana và
Aschersonia spp. (Lawrence và ctv., 2008). Các nấm thuộc chi Archersonia đặc biệt
dùng cho bọ phấn trắng và côn trùng bộ cánh vảy có thể sử dụng là tác nhân sinh học
phòng trừ bọ phấn B. tabaci và T. vaporariorum (Meek và ctv., 2002). Gindin và ctv.
(2000) kết luận Verticillium lecanii có thể kiểm soát 95-98% ấu trùng Bemisia
argentifolii đang nở. Còn theo Poprawski và Jones (2001), Beauveria bassiana và
Paecilomyces fumosoroseus có khả năng phòng trừ tốt ấu trùng của bọ phấn gây hại trên


10
các cây trồng thuộc họ bầu bí. Tuy nhiên, các nấm gây bệnh không phải là tác nhân biến
động, vì vậy hiệu quả của chúng có thể bị ảnh hưởng bởi phương pháp và tần số áp
dụng và kết quả là tốn nhiều chi phí (Ardeh, 2004).
2.1.5.3 Nhóm kí sinh
Gerling và ctv. (2001) đã ghi nhận có 34 loài thuộc chi Encarsia , 12 loài thuộc chi
Eretmocerus, 2 loài thuộc chi Amitus, 1 loài thuộc mỗi chi Signiphora và Methycus là
các loài ong kí sinh sâu non bọ phấn trắng. Amitus fuscipennis có triển vọng trong
phòng trừ bọ phấn trắng T. vaporariorum ở môi trường nhà kính không quá khô hoặc
quá ấm (Manzano và ctv., 2000; Devis, 2001). Loài Amitus khác, Amitus hesperidium
cùng với Encarsia opulenta đã được phóng thích tại đảo Carribean của Cộng hòa

Các loài ong thuộc chi Encarsia thuộc loại nội kí sinh đơn. Con cái phát triển trên
sâu non bọ phấn trắng hay rệp vảy. Con đực có thể phát triển trên cùng loại kí chủ như
con cái hoặc phát triển dưới dạng kí sinh bậc hai trên các loài côn trùng kí sinh họ
Aphelinidae, kí sinh trứng của côn trùng bộ cánh vảy hay các loại vật chủ khác (Walter,
1983; Gerling, 1990b; Hunter và ctv., 1996b). Ong Encarsia spp. đều kí sinh trong cơ thể
sâu non bọ phấn và vũ hóa từ xác sâu non bọ phấn tuổi 4. Chúng tấn công sâu non bọ
phấn từ tuổi 2 đến tuổi 4 và đặc biệt ưa thích đẻ trứng trên sâu non bọ phấn tuổi nhỏ. Ong
trưởng thành thuộc dạng “synovigenic”, chúng vừa đẻ trứng vừa ăn thêm để tiếp tục phát
triển trứng trong buồng trứng (Gerling, 1990b). Mặc dù thời gian phát triển vòng đời và
khả năng đẻ trứng rất khác biệt giữa các loài và tùy thuộc vào điều kiện môi trường, tuy
nhiên có một vài điểm tổng quát ghi nhận về ong Encarsia spp. như sau. Vòng đời của
ong Encarsia spp. kéo dài khoảng từ 12 – 25 ngày tùy điều kiện môi trường và loại kí
chủ (Gerling và ctv, 2001). Khả năng đẻ trứng của ong Encarsia spp. thấp hơn ong
Eretmocerus spp. nhưng khả năng đẻ trứng của cả 2 nhóm ong này đều không đạt được
mức độ lí tưởng như ong Amitus spp. (trên 60 trứng/con cái) (Arakawa, 1982).
Các thí nghiệm trước đây cho thấy rằng ong không thể nhận biết được cây bị
nhiễm bọ phấn khi cho ong tiếp xúc với quần thể gồm cây bị nhiễm và cây không bị
nhiễm bọ phấn (van Lenteren và Martin, 1999). Quá trình tìm kiếm kí chủ được thực
hiện qua sự kiểm tra ngẫu nhiên trên mặt lá trong tầm nhìn hạn chế của ong (khoảng 1
mm) (van Lenteren và Martin, 1999; các quan sát cá nhân của Gerling). Khứu giác đóng
vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm kí chủ và ong cái nhanh chóng tìm được đối
tượng khi chúng bắt gặp chất mật do bọ phấn tiết ra trên mặt lá (Shimron và ctv., 1992).
Nghiên cứu của Shimron và ctv. (1992) cũng cho thấy rằng ong có phản ứng bắt mồi rất
tốt với liều lượng mật chỉ do 1 sâu non bọ phấn tiết ra. Thời gian tìm kiếm trên một lá
phụ thuộc vào các kết quả tìm kiếm trước đó, vì vậy thời gian tìm kiếm 1 kí chủ sẽ dài


12
ra nếu ong tìm được kí chủ đã bị kí sinh (Shimron và ctv., 1992; van Lenteren và
Martin, 1999). Theo Shimron và ctv. (1992), khi bắt gặp chất bài tiết của sâu non bọ

2.2.2 Các nghiên cứu về ong kí sinh E. transvena
Ong kí sinh E. transvena được báo cáo và miêu tả đầu tiên bởi Timberlake (1926)
với tên gọi Prospaltella transvena. Ngoài ra, E. transvena còn có tên gọi khác E. sophia
(Heraty và Polaszek, 2000). E. transvena phân bố chủ yếu từ vùng nhiệt đới châu Phi
kéo dài sang châu Á và châu Đại Dương (Heraty và ctv., 2007). Phổ kí chủ của E.
transvena chủ yếu là côn trùng thuộc họ Aleyrodidae, bộ cánh đều Homoptera trong đó
có 2 loài phổ biến là B. tabaci Gennadius (Polaszek và ctv., 1992; Hayat, 1989a;
Gerling, 1985; Schmidt và ctv., 2001) và T. vaporariorum Westwood (Polaszek và ctv.,
1992; Timberlake, 1926; Gerling, 1985; Schmidth và ctv., 2001).
Theo Huang và Polaszek (1998), trưởng thành cái của E. transvena là một loại ong
nhỏ toàn thân màu vàng nhạt. Râu màu vàng với đoạn cuối roi râu màu nâu vàng nhạt.
Cặp cánh trước và các cặp chân trong suốt. Con đực sậm màu hơn con cái, đặc biệt là ở
một vài đốt bụng đầu tiên, phần nách giữa mảnh lưng ngực giữa, mảnh lưng ngực sau
và phần phía trước của mảnh lưng ngực giữa đều có màu nâu sậm. Về đặc điểm hình
thái để phân loại và định danh E. transvena, Huang và Polaszek (1998) đã mô tả là trên
đầu của ong có vùng “stemmaticum” với 3 mắt đơn, 5 gai lông và những vân ngang tại
vùng mắt này. Râu đầu gối gồm 1 đốt cuống râu, 1 đốt chân râu và 6 đốt roi râu. Các đốt
roi râu từ 1 đến 6 có những vân dọc trên đốt theo thứ tự sau 0 – 1 hoặc 2 – 1 – 2 – 2 – 2.
Phần giữa của mảnh lưng ngực giữa có số gai lông sắp xếp theo công thức 4 + 2 + 2, 4 +
1 + 2 + 2 hay 4 + 2 + 2 + 2. Mỗi phần bên của mảnh lưng ngực giữa có 3 gai lông. Gần
vùng rìa mép sau cánh trước có 1 vùng lông mọc dài hơn các lông tơ. Trên mạch phụ
cánh trước có 2 gai lông, mạch chính cánh trước có từ 6 – 9 gai lông. Các đốt bàn chân
có cấu tạo 5 – 5 – 5. Các đốt bụng từ thứ 2 đến thứ 7 có số gai lông lần lượt 1 + 1, 1 + 1,
1 + 1, 2 + 2, 2 + 2, 4.
Gerling (1983) đã có những quan sát, nghiên cứu ban đầu về E. transvena và ghi
nhận các con cái đã giao phối được tìm thấy hầu hết trên những lá có sâu non bọ phấn
tuổi nhỏ. Thời gian phát triển từ trứng đến khi ong vũ hóa là 15 ngày. Cũng như các loài
khác trong cùng giống, các con đực của E. transvena phát triển kí sinh bậc hai trên con
cái hoặc trên các loài khác cùng họ Aphelinidae như E. formosa hay E. nr. haldemani.
Hoạt động giao phối của ong diễn ra trong thời gian ngắn sau khi vũ hóa. Tỉ lệ giới tính

Simmon và Abd – Rabou (2005) đã nghiên cứu hiệu quả kí sinh của E. transvena
đối với bọ phấn trắng B. tabaci trên 3 loại cây trồng bắp cải, dưa leo và cà tím. Kết quả
cho thấy hiệu quả kí sinh sâu non B. tabaci của ong E. transvena trên bắp cải là cao nhất
(45,7 ± 6,2 %/ tuần), tiếp theo là trên cà tím (42,7 ± 6,4%/ tuần), thấp nhất là trên dưa
leo (30.7 ± 4,4%/ tuần).


15
Luo và Liu (2010) đã khảo sát sự tương thích kí chủ và hiệu quả phòng trừ bọ
phấn của E. transvena trên 2 loài T. vaporariorum và B. tabaci. Kết quả ghi nhận được
ong vũ hóa từ vật chủ T. vaporariorum có kích thước lớn hơn ong vũ hóa từ vật chủ B.
tabaci. Trong điều kiện thiếu thức ăn, tuổi thọ của ong vũ hóa từ vật chủ T.
vaporariorum cao hơn tuổi thọ ong vũ hóa từ vật chủ B. tabaci. Tuy nhiên vòng đời của
E. transvena khi phát triển trên 2 loại vật chủ là như nhau. Hơn nữa, ong vũ hóa từ T.
vaporariorum kí sinh sâu non bọ phấn nhiều hơn ong vũ hóa từ B. tabaci.
Đối với hiện tượng ăn thêm (host – feeding) và kí sinh bậc hai (autoparasitism),
Gerling và Rejouan (2003) đã báo cáo rằng thời kì nhộng non (tiền nhộng) của ong dễ bị
tấn công hơn thời kì nhộng tuổi lớn.
Kết quả báo cáo về nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu lên ong E. transvena
của Aggarwal và Brar (2006) đã cho thấy các nhóm thuốc chlorpyriphos, endosulfan và
triazophos thể hiện độc tính cao đối với ong ở cả hai phương pháp xông hơi và tiếp xúc.
Trong khi đó, nhóm thuốc thảo dược chiết xuất từ cây neem không gây độc với thành
trùng E. transvena ở phương pháp xông hơi và chỉ thể hiện độc tính đáng kể với thành
trùng E. transvena ở một mức liều lượng nhất định khi cho ăn trực tiếp. Thêm nữa,
thuốc trừ sâu thảo dược NeemAzal T/S (1,0%) khi khảo nghiệm với liều lượng thấp
(200mg/l) không ảnh hưởng đến tỉ lệ vũ hóa của ong nhưng có sự giảm tỉ lệ vũ hóa đáng
kể khi áp dụng với liều lượng cao hơn (800mg/l).
2.3 Phản ứng chức năng và phản ứng số lượng
Holling (1959) đã nghiên cứu sự ăn mồi của những động vật có vú nhỏ với ong ăn
lá thông và nhận thấy mức độ ăn mồi tăng khi mật số con mồi trong quần thể tăng. Kết


Thời gian tiêu diệt con mồi bao gồm các hoạt động: săn đuổi, giết, ăn và

tiêu hóa mồi.
Mức tiêu thụ của một con ăn mồi bị giới hạn trong phương trình này vì nếu mật số
con mồi rất dồi dào đến mức không tốn thời gian cho việc tìm kiếm, con ăn mồi vẫn
phải cần thời gian để tiêu diệt con mồi.
Như vậy, tổng thời gian mà một con ăn mồi dành ra trong hoạt động ăn mồi của
chúng bằng thời gian tìm kiếm cộng với thời gian tiêu diệt con mồi. Ta có phương trình
T = Tsearch + Thandling
trong đó, T là tổng thời gian, Tsearch là thời gian tìm kiếm con mồi và Thandling là thời gian
tiêu diệt con mồi.
Giả sử 1 con ăn mồi bắt được Ha con mồi trong suốt thời gian T. Tổng thời gian
tiêu diệt mồi tỉ lệ thuận với số con mồi bắt được
Thandling = HaTh
với Th là thời gian tiêu diệt 1 con mồi.
Bắt mồi được cho là một quá trình ngẫu nhiên. Một con ăn mồi thực hiện tìm kiếm
trên một vùng diện tích a trong một đơn vị thời gian (ở đây chỉ tính thời gian tìm kiếm)
và bắt tất cả con mồi được tìm thấy trên diện tích đó. Vùng diện tích giới hạn a thường
được gọi là “vùng truy tìm”, tuy nhiên nó cũng được gọi là “mức tìm kiếm”.
Sau khi dành thời gian Tsearch để tìm kiếm con mồi, con ăn mồi kiểm tra trên vùng
diện tích = a.Tsearch và bắt được a.H.Tsearch con mồi trong đó H là mật số con mồi trên
một đơn vị diện tích
Ha = a.H.Tsearch
Do đó



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status