VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH AN
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH AN
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 838.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG .......................................... 37
2.1. Hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
tại Đà Nẵng và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tại khu vực Miền Trung, Tây
Nguyên .................................................................................................................. 37
2.2. Thực tiễn giải quyết những vụ án bị kháng nghị của Tòa án nhân dân cấp cao
tại Đà Nẵng............................................................................................................ 52
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ ........................................................ 62
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kháng nghị phúc thẩm và xét xử phúc thẩm
............................................................................................................................... 62
3.2. Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự ........... 69
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
TANDTC
: Toà án nhân dân tối cao
VKSND
dân cấp cao tại Đà Nẵng
Biểu đồ so sánh số lượng án kháng nghị của Viện kiểm
2.3.
sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Viện kiểm sát nhân
dân các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên qua các năm
41
2015, 2016, 2017
So sánh số vụ án hình sự phúc thẩm bị kháng nghị và số
2.4.
vụ án được chấp nhận kháng nghị và số vụ án Viện kiểm
sát rút kháng nghị thời gian từ 2015 đến 2017
42
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, quyền con người, quyền công dân ngày càng được
chú trọng bảo vệ trên toàn cầu. Chính sách lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cũng
như Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng
không nằm ngoài xu thế đó, ngày càng tập trung cải cách tư pháp mục tiêu “Xây
dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý,
từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa” [12.tr.02] góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Viện kiểm sát nhân dân được giao một vị trí quan trọng trong hoạt động tư
thẩm chấp nhận tăng lên góp phần không nhỏ trong việc loại trừ những sai sót do
nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan của Toà án cấp sơ thẩm. Qua thực
tiễn xét xử của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng từ thời điểm thành lập (năm
2015) đến nay đã phản ánh được phần nào chất lượng kháng nghị phúc thẩm
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Viện kiểm sát nhân
dân các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên. Tuy nhiên, ngoài những kết quả đã đạt
được, trên thực tiễn, công tác này cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, khó khăn.
Chẳng hạn như còn có một bộ phận không nhỏ những bản kháng nghị không đạt
yêu cầu cả chất lượng lẫn nội dung dẫn đến việc Viện kiểm sát cấp trên phải rút
kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới, hoặc Toà án cấp phúc thẩm bác kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân, việc này không những gây tổn thất về tài chính
và thời gian của Cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tham gia tố
tụng mà còn làm mất lòng tin của nhân dân đối với hoạt động của ngành kiểm
sát. Nguyên nhân chủ yếu là do năng lực và trách nhiệm của cán bộ, Kiểm sát
viên còn hạn chế, một số đơn vị chạy theo chỉ tiêu kháng nghị lấy thành tích,
lãnh đạo một số đơn vị chưa thật sự quan tâm tới công tác kháng nghị phúc thẩm
hình sự, mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp cũng như sự phối hợp
giữa Viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp trong công tác kháng nghị phúc thẩm
2
chưa thống nhất. Mặt khác, Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa có quy định
cụ thể về căn cứ kháng nghị phúc thẩm, thời hạn kháng nghị đan xen với thời
hạn cấp phát, gửi bản án sơ thẩm của Toà án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sát còn
chậm, trang thiết bị, cơ sở vật chất hỗ trợ cho công tác thực hành quyền công tố
và kiểm sát xét xử chưa đầy đủ.
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Kháng nghị phúc thẩm theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Toà án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật. Nội dung cơ bản của đề tài là
tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác kháng nghị phúc thẩm
nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để rút ra nguyên nhân, lý giải các yếu tố ảnh
hưởng, những tồn tại, đưa ra giải pháp, kiến nghị nâng cao hơn nữa chất lượng
kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và chất lượng
kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Miền Trung, Tây
Nguyên nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kháng nghị hình sự theo
thủ tục phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng
của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của ngành kiểm sát nói chung và
Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên nói riêng trong thời
gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của kháng nghị phúc thẩm hình sự: Khái niệm,
đặc điểm, vai trò, thẩm quyền, căn cứ, thời hạn, trình tự, thủ tục kháng nghị phúc
thẩm hình sự. Phân tích sâu sắc các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát.
Hai là, đánh giá toàn diện thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình
4
sự của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên trong thời gian
từ năm 2015 đến nay, từ đó rút ra những mặt tích cực và hạn chế về công tác
kháng nghị phúc thẩm hình sự cũng như việc áp dụng quy định này trên thực tế
xét xử ở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hiện nay.
Ba là, đề xuất các giải pháp, kiến nghị khả thi nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
trong thời gian tới.
6.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện lý luận khoa học
về kháng nghị phúc thẩm hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài có thể được vận dụng trong thực tiễn xét xử phúc thẩm
các vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, giúp cho các kiểm sát
viên có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về kháng nghị phúc thẩm hình sự, góp phần
nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự. Đây là đề tài
nghiên cứu một cách toàn diện về kháng nghị phúc thẩm các vụ án hình sự, do
vậy luận văn có thể là cơ sở cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tham
khảo trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự trong thời gian tới và
dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, học tập tại các cơ sở nghiên
cứu và đào tạo chuyên ngành luật ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những lý luận và pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc
thẩm.
Chương 2. Thực tiễn hoạt động kháng nghị phúc thẩm ở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng.
Chương 3. Giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm
hình sự.
6
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự
1.1.1. Khái niệm kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự
ngữ Luật học đều thể hiện được chủ thể thực hiện quyền kháng nghị chung
chung là người có thẩm quyền chứ chưa xác định cụ thể người nào, cơ quan, tổ
chức nào có quyền kháng nghị cũng như chưa xác định được đối tượng kháng
nghị cụ thể là bản án, quyết định có hiệu lực hay chưa có hiệu lực.
Đối với khái niệm xét xử phúc thẩm: Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1994,
chủ biên Giáo sư Hoàng Phê thì “phúc thẩm là Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ
án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án” [33.tr.780]. Về cơ bản khái
niệm này đã nêu được phúc thẩm là Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án của Tòa án
cấp dưới trong trường hợp có cá nhân, tổ chức trong vụ án có phản đối lại bản án
và yêu cầu Tòa án xét xử lại ở cấp cao hơn. Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa
chưa chỉ rõ Tòa án cấp trên là Tòa án nào, khái niệm này cũng chưa luận giải rõ
chống án là gì, ai có quyền chống án, đối tượng chống án. Trong khi theo quy
định của Luật tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân năm 2014 thì hệ thống tổ chức
Toà án nhân dân của nước ta có hai Toà có quyền xét xử phúc thẩm: Toà án nhân
dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Hiện nay, thuật ngữ xét xử phúc thẩm đã được Bộ luật tố tụng hình sự định
nghĩa chính thức, theo quy định tại Điều 330 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
thì khái niệm xét xử phúc thẩm được định nghĩa là: “việc Toà án cấp trên trực
tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ
thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng
nghị”[17.tr.280]. Theo định nghĩa này thì xét xử phúc thẩm với ý nghĩa là cấp
xét xử thứ hai; căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị.
Đối tượng xét xử phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
8
luật và phải do Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại.
Từ việc nghiên cứu hai định nghĩa về kháng nghị và xét xử phúc thẩm.
Chúng ta đã phần nào hình dung được khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự là
của Toà án nhân dân chưa có hiệu lực pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân là cơ
quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, thực hiện chức
năng kiểm sát đối với việc áp dụng pháp luật của tất cả các chủ thể trong hoạt
động tư pháp, trong đó có Toà án nhân dân vì Viện kiểm sát là cơ quan có quyền
truy tố người phạm tội trước toà và để đảm bảo cho việc quyết định truy tố của
mình, cũng như đảm bảo cho việc xét xử đúng pháp luật, khi phát hiện bản án,
quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng, Viện kiểm sát kháng nghị phúc
thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo đúng quy định pháp luật.
Trên cở sở tiếp thu những quan điểm và quy định của pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam, tác giả cho rằng khái niệm kháng nghị hình sự phúc thẩm được
hiểu theo hai nghĩa cơ bản: Theo nghĩa rộng về mặt hình thức và hiểu theo bản
chất nội dung cụ thể.
Xét về nghĩa rộng về mặt hình thức thì tác giả có thể đưa ra khái niệm:
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền riêng biệt của Viện kiểm sát thể hiện
bằng văn bản pháp lý yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết
định hình sự chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm có vi phạm
pháp luật.
Xét về bản chất, nội dung cụ thể thì có thể hiểu khái niệm kháng nghị phúc
thẩm hình sự như sau: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý
riêng của Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện bằng
văn bản pháp lý nêu rõ lý do, căn cứ và yêu cầu của việc kháng nghị đối với bản
án, quyết định hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm xét xử lại vụ án khi cho rằng một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án,
quyết định đó không đúng pháp luật nhằm đảm bảo Toà án xét xử đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
10
1.1.2. Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình
sự
đề kiểm sát, ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực trong tố tụng hình sự rất phức tạp
nên quyền về tư pháp cũng như kiểm sát hoạt động tư pháp được Nhà nước giao
cho nhiều cơ quan.
Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm đề nghị Tòa án cấp trên xét xử lại vụ
án để đảm bảo cho việc quyết định truy tố của mình, cũng như đảm bảo cho việc
xét xử đúng pháp luật, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm
nghiêm trọng. Trong giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử sơ thẩm, Viện kiểm
sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật. Thông qua kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm
sát bảo vệ quyền truy tố của mình đồng thời cũng bảo đảm cho Tòa án ban hành
một bản án chính xác, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đây
là một trong những quyền năng pháp lý mà thông qua đó Viện kiểm sát đồng
thời thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp.
Thứ hai, kháng nghị được thể hiện bằng văn bản pháp lý, là điều kiện pháp
lý để vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm.
Không phải bất cứ vụ án nào đều phải trải qua hai cấp xét xử, mà chỉ có
những vụ án có kháng cáo, bị kháng nghị mới được tiến hành xét xử ở cấp phúc
thẩm. Như vậy, kháng nghị phúc thẩm là một trong hai điều kiện pháp lý để vụ
án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm. Khi có kháng nghị của Viện kiểm sát thì
Toà án cấp trên trực tiếp phải mở phiên toà xét xử lại bản án, quyết định bị
kháng nghị.
Theo quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự thì quyết định kháng nghị
hình sự phúc thẩm phải đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 336 Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015. Đặc điểm này thể hiện sự khác biệt giữa kháng
nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
12
tội, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội.
Kháng nghị phúc thẩm là cơ chế phát hiện kịp thời sai phạm, đề nghị khắc
phục, nâng cao chất lượng xét xử vụ án. Là phương tiện bảo vệ lợi ích Nhà nước,
xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Viện kiểm sát giám sát mọi hoạt động của cơ quan Toà án, giám sát tính hợp
pháp và tính có căn cứ của các bản án, quyết định của Toà án nhằm đảm bảo cho
việc xét xử được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật.
Thông qua quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ
quan điểm truy tố, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tư pháp được đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời nhằm đảm bảo cho Tòa án ra một bản
án chính xác, có căn cứ, xét xử đúng người, đúng tội.
Bằng hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát thực hiện
chức năng mà Nhà nước đã giao cho ngành kiểm sát là yêu cầu Toà án phải đưa
vụ án ra xét xử theo trình tự phúc thẩm, góp phần nâng cao chất lượng xét xử các
vụ án hình sự, đảm bảo cho việc Toà án ra một bản án dân chủ, khách quan,
đúng pháp luật, đồng thời tăng cường hiệu quả giáo dục, nâng cao ý thức pháp
luật, cũng cố niềm tin vào công lý cho quần chúng nhân dân và chủ động tham
gia đấu tranh phòng chống tội phạm một cách có hiệu quả.
Khi thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự sẽ đảm bảo pháp
chế xã hội chủ nghĩa. Trong Nhà nước pháp quyền mọi cơ quan Nhà nước, tổ
chức chính trị xã hội, mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm
chỉnh, triệt để và thống nhất. Điều đó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của Bộ
máy nhà nước phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật trong đó có
hoạt động xét xử, tất cả các công dân phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng
pháp luật khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời mọi vi phạm
pháp luật đều phải được xử lý nghiêm minh.
Tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Bộ máy nhà nước,
cơ quan, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội và mọi công dân phải thực hiện một
14
15
Điều 336 BLTTHS năm 2015 cũng không có thay đổi quy định: “Viện kiểm sát
cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án
hoặc quyết định sơ thẩm”[15.tr.171]. Như vậy, quyền kháng nghị thuộc thẩm
quyền của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đối với
Toà án đã xét xử sơ thẩm.
Việc quy định Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cũng có quyền kháng nghị là
phù hợp nhằm khắc phục ngay những hạn chế của Viện kiểm sát cấp dưới khi
không phát hiện được vi phạm trong bản án, quyết định hoặc phát hiện được
nhưng lại hết thời hạn kháng nghị thì có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp kháng nghị phúc thẩm hoặc khắc phục tình trạng Viện kiểm sát cấp
dưới đồng tình với quan điểm xét xử của Toà án cùng cấp mặc dù có vi phạm
nên không kháng nghị.
Theo quy định của BLTTHS hiện hành cũng như Quy chế số
960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử quy định Viện trưởng hoặc Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, được quy định cụ thể sau:
- Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện.
- Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh và Toà án cấp huyện.
- Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh.
Việc quy định Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKSND có quyền kháng
Hiện nay, trình độ, năng lực của Kiểm sát viên chưa thực sự đạt chất lượng
dễ dẫn đến tỷ lệ vụ án Toà án không chấp nhận kháng nghị tăng, hơn nữa cũng
17
chưa có quy chế xác định trách nhiệm của Kiểm sát viên khi kháng nghị không
được chấp nhận. Do vậy việc quy định thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm như
quy định hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp.
Giới hạn kháng nghị phúc thẩm có liên quan chặt chẽ với phạm vi xét xử
phúc thẩm vụ án. Theo Từ điển Tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên năm
1994 thì: “Giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được
vượt qua” [33, tr.406]. Do đó, Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm có nội dung
không được vượt quá phạm vi xét xử của Toà án cấp phúc thẩm.
Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khi thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết
định của Toà án. Trong trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực
tiếp nếu kháng nghị phúc thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo hoặc các đương sự
thì không bị giới hạn. Tuy nhiên, nếu Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực
tiếp kháng nghị phúc thẩm theo hướng bất lợi cho bị cáo hoặc các đương sự thì
sẽ bị giới hạn nếu nội dung kháng nghị đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
hoặc không thuộc thẩm quyền xét xử và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm.
Do vậy, trước khi Viện trưởng kháng nghị cần xem xét, yêu cầu kháng nghị
không được vượt quá phạm vi xét xử của Toà án cấp phúc thẩm.
* Đối tượng của kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Trước đây, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại Điều 230 quy định:
“Xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc
xét lại bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị
kháng cáo hoặc kháng nghị”[16.tr.170].
Tại Điều 232 quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp
Thứ hai, phải là những quyết định sơ thẩm có vi phạm mà nếu không kháng
nghị phúc thẩm thì không có trình tự pháp luật nào để khắc phục.
Thứ ba, là những quyết định sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự mà Toà án phải có trách nhiệm gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát.
19