HNG DN
dự thi tìm hiểu
Công đoàn Việt nam 80 năm, Một chặng đờng lịch sử
------***-------
Câu hỏi 1: Đồng chí hãy cho biết, tổ chức Công đoàn Việt Nam đợc thành lập
vào ngày, tháng, năm nào? Do ai sáng lập?
Trả lời:
Ngày 28/7/1929, Tổng Công hội Đỏ ra đời. Từ ấy, dới sự lãnh đạo của Đảng ta,
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã có quá trình liên tục xây dựng, phát triển, tr-
ởng thành, nhịp bớc với lịch sử giải phóng dân tộc, lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
hơn 70 năm.
Đại hội lần thứ 5 - Công đoàn Việt Nam (tháng 2 năm 1983) đã quyết định lấy
ngày 28/7/1929, ngày thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ làm ngày truyền thống của
Công đoàn Việt Nam. Quá trình hình thành và ra đời của tổ chức Công đoàn Việt Nam
gắn liền với tên tuổi và cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại
của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Những năm tháng hoạt động trong phong trào công nhân và Công đoàn Quốc tế,
Bác đã nghiên cứu hình thức tổ chức Công đoàn ở các nớc t bản, thuộc địa và nửa
thuộc địa. Từ đó rút ra kinh nghiệm thực tiễn, đặt cơ sở lý luận và hình thức tổ chức
cho Công đoàn Việt Nam.
Trong tác phẩm "Đờng Kách mệnh, Bác viết: "Tổ chức Công hội trớc là để cho
công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa
sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi
cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới" .
Có thể nói, trên bớc đờng đi tới chủ nghĩa Mác-Lênin và thành lập các tổ chức
cộng sản ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã quan tâm rất sớm đến tổ chức quần
chúng của giai cấp công nhân. Quá trình Ngời chuẩn bị về t tởng và tổ chức cho sự
thành lập một chính Đảng vô sản cũng là quá trình Ngời xây dựng cơ sở lý luận và
biện pháp tổ chức Công đoàn Cách mạng.
Từ năm 1925 đến 1928, nhiều Công hội bí mật đã hình thành do sự hoạt động
mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đặc biệt từ năm 1928, khi kỳ bộ
quốc lần thứ nhất ( 1950 ) là 21 năm. Trong thời gian này, Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời, nớc Việt Nam đã độc lập, Công đoàn Việt Nam đã trở thành Công đoàn của
một quốc gia độc lập, có chủ quyền.
Ngày 20/7/1946, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tuyên bố chính thức
thành lập. Lần đầu tiên trong lịch sử, Công đoàn Việt Nam hoạt động công khai với
những quyền hạn, chức năng mới. Đến tháng 1/ 1949, trở thành hội viên chính thức
của Liên hiệp Công đoàn Thế giới.
Năm 1949, Công đoàn đã tập hợp đợc hơn 28 vạn đoàn viên và hơn 3 vạn đoàn
viên trong quân đội. So với hơn 1 triệu công nhân trong cả nớc thì tỷ lệ đoàn viên
chiếm hơn 40%. Lúc này, Tổng Liên đoàn Lao động đã có 1.012 Công đoàn cơ sở, 50
Liên hiệp Công đoàn cấp tỉnh, 5 Liên hiệp Công đoàn khu, 2 Công đoàn ngành Trung -
ơng là Công đoàn Sản xuất vũ khí và Công đoàn Bu điện Việt Nam.
Sự liên lạc và chỉ đạo, hớng dẫn công tác đã thông suốt Bắc, Trung, Nam.
1/ Đại hội lần thứ I Công đoàn Việt Nam đã họp từ ngày 1 đến ngày
15/1/1950 tại xã Cao Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, chiến khu Việt Bắc. Tham
dự có gần 200 đại biểu của giai cấp công nhân Việt Nam.
Công đoàn Việt Nam chiến đấu cho độc lập, dân chủ và hoà bình. Đó là tiêu
đề của Báo cáo chính trị tại Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ nhất.
Đại hội đã bầu Đồng chí Hoàng Quốc Việt làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh
Tuyên đợc bầu làm Tổng Th ký.
Ban Thờng vụ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, gồm 5 đồng chí:
- Trần Danh Tuyên
- Nguyễn Hữu Mai
- Hoàng Hữu Đôn
- Nguyễn Duy Tính
- Trần Quốc Thảo
Ban Giám sát Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, gồm 5 đồng chí:
- Trần Bảo ( Trởng ban )
- Trần Đăng Ninh
- Đặng Thiết Hân
các binh chủng, đặc biệt là binh chủng chuyên môn..., giúp đỡ Chính phủ củng cố Bộ
Lao động
Đối với nhiệm vụ củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, giai cấp công nhân phải
liên kết với nông dân thành lực lợng trụ cột của Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng thời
giúp đỡ các đoàn thể trong mặt trận. Trong khi thi hành chính sách Cách mạng của
dân tộc mình, giai cấp công nhân phải đoàn kết rộng rãi với các tầng lớp nông dân,
nhân nhợng quyền lợi giữa các giai cấp một cách hợp lý, chống lối đấu tranh qua loa
và lối thủ tiêu đấu tranh vì đoàn kết một chiều.
Đối với nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế, Đại hội nhận định nền kinh tế dân chủ
nhân dân là nền kinh tế chuẩn bị tiến lên Chủ nghĩa xã hội ( CNXH ) do giai cấp công
nhân lãnh đạo. Nền kinh tế đó gồm nhiều thành phần: kinh tế Nhà nớc, kinh tế Hợp tác
xã, kinh tế cá thể của nhân dân, tiểu thơng, tiểu chủ, kinh tế t bản t nhân, kinh tế t bản
nhà nớc. Trong giai đoạn hiện tại, nhiệm vụ kháng chiến giành độc lập còn nặng nề,
giai cấp công nhân ra sức xây dựng kinh tế phục vụ kháng chiến, đồng thời chuẩn bị
điều kiện cần thiết để xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân, phát triển kỹ nghệ quốc
phòng, gây dần các cơ sở công nghiệp mỏ, hoá chất, đúc, gang..., thực hiện chính sách
lao t lỡng lợi, khuyến khích các nhà t sản bỏ vốn kinh doanh, phát triển tiểu công
nghệ. Đoàn kết chặt chẽ với nông dân, thực hiện chính sách ruộng đất, phát triển dần
Hợp tác xã sản xuất, vận tải, điều hoà nguyên vật liệu, hàng hoá, tham gia vào các ch-
ơng trình kiến thiết của Chính phủ và chính quyền các cấp.
Đối với cải thiện đời sống cho công nhân lao động, Đại hội xác định: cải thiện
đời sống cho công nhân, lao động là cần thiết, để công nhân có đủ sức sản xuất phục
vụ kháng chiến lâu dài. Đảm bảo thực hiện những chế độ đã ban hành và chuẩn bị
những thể lệ, chế độ đầy đủ hơn trong thời gian tới. Xúc tiến tự cải thiện sinh hoạt, tổ
chức Hợp tác xã mua bán của công nhân, phát triển tăng gia trồng trọt, chăn nuôi...,
chú trọng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật cho công nhân.
Giáo dục cho công nhân hiểu biết về chủ nghĩa xã hội khoa học, về vai trò tiên phong
cách mạng của giai cấp công nhân, về tinh thần Quốc tế vô sản. Mở các lớp chính trị
trong xí nghiệp, thanh toán nạn mù chữ trong công nhân..., đẩy mạnh phong trào trao
đổi phổ biến kinh nghiệm sản xuất, đào tạo thợ mới. Đại hội đặc biệt chú trọng phát
ờng lối cách mạng của Đảng vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, là điều
kiện thuận lợi cho giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn hoàn thành những nhiệm
vụ mới của cuộc kháng chiến và mở ra một thời kỳ mới của công tác Công đoàn ở Việt
Nam. Đại hội đã giải quyết những vấn đề lớn trong thống nhất nhận thức và hành
động, sửa đổi Điều lệ Công đoàn, bầu cử chính thức Ban Chấp hành. Đại hội lấy việc
thi đua ái quốc làm trọng tâm công tác
2/ Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ II
Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 2 đợc chuẩn bị từ những tháng cuối năm
1960 dới ánh sáng cuả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3. Tất cả các Công
đoàn cơ sở, Liên hiệp Công đoàn tỉnh, thành phố, khu, và một số Công đoàn ngành
Trung ơng đã lần lợt mở Đại hội để thảo luận Dự thảo báo cáo chung, dự thảo Điều lệ
sửa đổi và bầu Đại biểu đi dự Đại hội Công đoàn cấp trên.
Đại hội đã họp từ ngày 23 đến ngày 27/2/1961 tại Trờng Thơng nghiệp, Thủ đô
Hà Nội.
Tổng số Đại biểu Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 2 là 752 ngời, trong đó
có 666 đại biểu chính thức và 86 đại biểu dự thính.
Đại hội đặc biệt phấn khởi đợc đón mừng Hồ Chủ tịch, Bí th Lê Duẩn, Phó Chủ
tịch Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội Trờng Chinh, Chủ tịch Hội
đồng Bộ trởng Phạm Văn Đồng đến dự.
Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam.
Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam: gồm 19 đ/c
Đồng chí Hoàng Quốc Việt Uỷ viên Trung ơng Đảng - đợc bầu lại làm Chủ
tịch Tổng Công đoàn Việt Nam.
Đồng chí Trần Danh Tuyên đợc bầu lại làm Phó Chủ tịch, kiêm Tổng Th ký
Tổng Công đoàn Việt Nam.
Ban Th ký Tổng Công đoàn Việt Nam: gồm 9 đ/c
Uỷ viên chính thức Ban chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam: gồm 55 đ/c
Uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam : gồm 10 đ/c
Mục tiêu của Đại hội là: Động viên cán bộ, công nhân, viên chức thi đua lao
động sản xuất, xây dựng CNXH ở miền Bắc, với tinh thần Mỗi ngời làm việc bằng
Việt Nam. Đại hội là cuộc sinh hoạt chính trị quan trọng của giai cấp công nhân và tổ
chức Công đoàn nhằm đa đờng lối của Đảng vào quần chúng công nhân viên chức.
Những vấn đề mà Đại hội quyết định là những vấn đề quan trọng đối với sự nghiệp
cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta.
3/ Đại hội lần thứ III Công đoàn Việt Nam
Đến Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 3, số công nhân viên chức ( CNVC) ở
miền Bắc tăng gấp 2,5 lần so với năm 1961, trong đó lực lợng cán bộ khoa học - kỹ
thuật ( KH KT ) tăng 14 lần, chiếm hơn 15% tổng số CNVC. Số công nhân kỹ thuật
tăng 4 lần chiếm 4% tổng số CNVC, Tỷ lệ thanh niên trong CNVC chiếm từ 60% đến
70%, phụ nữ lao động chiếm 42%, trong đó nữ công nhân kỹ thuật chiếm 25% tổng số
công nhân kỹ thuật.
Tổ chức Công đoàn ngày càng lớn mạnh, hoạt động phong phú hơn nhiều.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 3 khai mạc 8h sáng ngày 11/2/1974 tại
Hội trờng Ba đình Hà Nội, trong khí thế thắng Mỹ vang dội trên khắp 2 miền Nam,
Bắc. Đại hội Công đoàn Việt Nam họp trong 4 ngày, từ 11/2/1974 đến hết ngày
14/2/1974, gồm 500 đại biểu chính thức, gần 100 đại biểu dự thính.
Đại hội phấn khởi đợc đón tiếp Chủ tịch Tôn Đức Thắng; Bí th thứ nhất Ban
chấp hành Trung ơng Đảng CSVN Lê Duẩn; đồng chí Trờng Chinh Uỷ viên Bộ
Chính trị, Chủ tịch uỷ ban Thờng vụ Quốc hội; Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng;
cùng nhiều đại diện các Bộ, các Uỷ ban, Tổng cục, đại diện Uỷ ban Trung ơng Mặt
trận tổ quốc Việt Nam. Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Công hoà miền Nam
Việt Nam và đoàn đại biểu Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam Việt Nam cũng
ra dự Đại hội. Các đoàn đại biểu Quốc tế cũng tới dự Đại hội.
Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ 3 có sự kiện: thay đổi Huy hiệu Công đoàn.Huy
hiệu mới đợc in trang trọng ở trang thứ nhất Văn kiện Đại hội.
Đại hội đã bầu Ban chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam, gồm 71 đồng chí.
Bác Tôn Đức Thắng đợc bầu làm Chủ tịch danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam
Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam gồm 19 đồng chí.
Đồng chí Hoàng Quốc Việt đợc bầu làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam
Các đồng chí: Nguyễn Đức Thuận
miền Bắc; đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nớc.
4/ Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ IV
Đại hội lần này đợc triệu tập sớm hơn 1 năm vì Cách mạng Việt Nam đã chuyển
sang giai đoạn mới. Đất nớc ta đã thống nhất, cả nớc cùng đi lên CNXH.
Hội nghị thống nhất Công đoàn toàn quốc đã họp trong những ngày 6,7,8 tháng
6 năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị đã nhất trí quyết định những vấn đề
quan trọng:
- Hợp nhất Tổng Công đoàn Việt Nam và Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền
Nam. Tên tổ chức Công đoàn toàn quốc là: Tổng Công đoàn Việt Nam.
- Hợp nhất Ban chấp hành và các cơ cấu lãnh đạo khác của Công đoàn 2 miền vào cơ
quan lãnh đạo thống nhất là Ban chấp hành, Đoàn Chủ tịch, Ban Th ký, Ban Kiểm
tra tài chính Tổng Công đoàn Việt Nam.
- Lấy Điều lệ Công đoàn do Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 3 thông qua làm
cơ sở để xây dựng hệ thống Công đoàn trong cả nớc.
- Lấy Huy hiệu do Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 3 thông qua làm Huy hiệu
chung của Công đoàn cả nớc.
Từ năm 1977, việc chuẩn bị Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 4 đã đợc tiến
hành theo 1 kế hoạch thống nhất. Ba triệu đoàn viên Công đoàn và CNVC trong cả nớc
tập hợp trong hơn 11.167 Công đoàn cơ sở đã hăng hái tham gia thảo luận các Văn
kiện dự thảo của Đại hội.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 4 họp từ ngày 8/5/1978 đến hết ngày
11/5/1978 tại Hội trờng Ba Đình Hà Nội.
Tổng số đại biểu Đại hội là 826 đ/c, trong đó có 26,4% là nữ; 7% là Đoàn viên
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; 53,7% là công nhân, cán bộ quản lý và cán bộ
KH-KT.
Đại hội có 26 đoàn Đại biểu nớc ngoài tới dự.
Đại hội đã bầu Ban chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam khoá 4 gồm 155 uỷ
viên chính thức, trong đó có 25 ngời là Công nhân sản xuất, Anh hùng lao động, Chiến
sỹ thi đua; 26 ngời là cán bộ KH-KT, cán bộ quản lý; 90 ngời là cán bộ chuyên trách
công tác Công đoàn; 95 ngời thành phần bản thân là công nhân; 34 là phụ nữ; 8 ngời là