LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng
và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hà
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
(ký và ghi rõ họ tên)
i
Lời Cảm Ơn
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban
giám hiệu nhà trường, khoa Nông – Lâm - Ngư và toàn thể
quý thầy cô giáo trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi
điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt bốn năm học tập và rèn
luyện tại trường, đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến cô giáo Th.S Nguyễn Thị Quỳnh Phương, người đã quan
tâm giúp đỡ và nhiệt tình hướng dẫn tôi thực hiện khóa
luận tốt nghiệp này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một
cách hoàn chỉnh nhất. Song do buổi đầu mới làm quen với
công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực nghiệm
cũng như hạn chế về kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Vì
vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý
thầy, cô để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Từ đáy lòng mình tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng
của cây hom Phi lao. ........................................................................................................2
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng tạo rễ của
cây hom Phi lao. ..............................................................................................................2
3.3. Quy trình giâm hom cây Phi lao. ..............................................................................2
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU ..................................................................2
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...............................................................................2
PHẦN II: NỘI DUNG ...................................................................................................6
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ....................................6
1. TỔNG QUAN VỀ CÂY PHI LAO ............................................................................6
1.1. Đặc điểm hình thái ....................................................................................................6
1.2. Đặc điểm sinh thái ....................................................................................................6
1.3. Giá trị của Phi Lao ....................................................................................................7
2. TỔNG QUAN VỀ CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG THỰC VẬT .................8
2.1. Khái niệm chất kích thích sinh trưởng .....................................................................8
2.2. Lịch sử phát hiện ......................................................................................................8
2.3. Một số ứng dụng của các chất kích thích sinh trưởng trong sản xuất ....................11
3. TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU ......................12
3.1. Vị trí địa lý ..............................................................................................................12
3.5. Tài nguyên động, thực vật ......................................................................................14
3.6. Tài nguyên biển và ven biển ...................................................................................14
3.7.Tài nguyên nước, khoáng sản ..................................................................................15
CHƯƠNG II. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................................16
1. NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG ĐẾN
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY HOM PHI LAO ........................................16
1.1. Ảnh hưởng của chất kích thích IBA đến sinh trưởng của cây hom Phi lao ...........16
1.2. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA đến sinh trưởng của Phi lao.....17
iv
CDR
CDR max
SLR
IBA
NAA
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng IBA đến tỷ lệ sống của Phi lao ...16
Bảng 2. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng IBA đến sinh trưởng đường kính
gốc và chiều cao của Phi lao..........................................................................................17
Bảng 3. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA đến tỷ lệ sống của Phi lao .17
Bảng 4. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA đến sinh trưởng đường kính
gốc và chiều cao của Phi lao..........................................................................................18
Bảng 5. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng IBA đến khả năng ra rễ ..............19
Bảng 6. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA đến khả năng ra rễ.............20
vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Bình ................................................................13
Hình 2. Vườn giống cây mẹ Phi lao ..............................................................................21
Hình 3. Khu giâm hom Phi lao ......................................................................................21
Hình 4. Quá trình làm đất và đóng bầu...........................................................................22
Hình 5. Cắt hom.............................................................................................................23
Hình 6. Xử lý hom .........................................................................................................23
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vùng duyên hải miền Trung nước ta chịu ảnh hưởng thường xuyên của hiện
tượng cát di động dẫn đến tình trạng sa mạc hoá là mối nguy hiểm đối với cảnh quan
môi trường sinh thái cũng như đời sống và phát triển của nhân dân địa phương. Một
trong những giải pháp cho vấn đế này chính là việc bảo vệ và phát triển rừng đai rừng
phòng hộ chống cát bay, vừa ngăn chặn được tình trạng sa mạc hoá, vừa bảo vệ con
người khỏi thiên tai đến. [1]
Tỉnh Quảng Bình có bờ biển dài 116,04 km và chịu ảnh hưởng thường xuyên
của các hiện tượng thời tiết cực đoan như: Lũ lụt, bão, hạn hán... Bên cạnh đó nạn cát
bay, cát chảy, cát lấp ven biển là mối đe dọa đối với người dân sống ở vùng cát ven
biển, cát lấn chiểm hàng trăm hecta hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, đường xá gây cản
trở sản xuất và sinh hoạt của người dân nơi đây.
Cây Phi Lao (Casuarina equisetifolia Forst) là một trong những cây gỗ trồng
rừng và trồng làm cây bóng mát quan trọng. Được du nhập vào Việt Nam từ năm 1896
bởi người Pháp với nguồn gốc từ Australia. [2] Chính vì có khí hậu khá tương đồng
nên cây Phi Lao đã nhanh chóng thích nghi với điều kiện tự nhiên ở nước ta, đặc biệt
là vùng cát ven biển miền Trung, trong đó có tỉnh Quảng Bình và được trồng nhiều với
diện tích ngày càng tăng, tạo ra cảnh quan môi trường trong xanh. [5]
Nhận thức được tác dụng của cây Phi Lao là một cây bảo vệ và cải tạo môi
trường, đặc biệt là vai trò chắn gió và chống cát bay và còn là cung cấp gỗ, củi, tanin,
thuốc chữa bệnh, nguyên liệu cho công nghiệp giấy nên tỉnh Quảng Bình đã chú trọng
đến việc phát triển diện tích trồng cây Phi Lao để giải quyết thực trạng trên. Tuy vậy
để có thể thực hiện biện pháp đó lại đặt ra vấn đề chất lượng của giống cây để trồng
sao cho được phát triển tốt, phủ xanh diện tích rừng Phi Lao là một câu hỏi lớn.
Ngày nay, nhờ áp dụng công nghệ nhân giống vô tính mà việc chọn nhân giống
cây trồng được tiến hành nhanh hơn và có thể khắc phục được một số khó khăn mà các
phương pháp nhân giống hữu tính khó vượt qua. Việc nhân giống cây trồng có phẩm
chất di truyền tốt bằng phương pháp giâm hom đang được ứng dụng ngày càng nhiều
cho cây lâm nghiệp. Đặc điểm của cây rừng là đời sống dài ngày, lâu ra hoa, kết quả,
- Không gian: Vườn thực nghiệm Trường Đại học Quảng Bình.
Thời gian: tháng 1 đến tháng 5 năm 2018.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Tham khảo các tài liệu và nghiên cứu về:
+ Tìm hiểu tài kiệu về điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu.
+ Đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, công dụng, vai trò của cây Phi lao.
+ Kỹ thuật giâm hom cành đối với cây Phi lao.
+ Các công thức ruột bầu phù hợp với cây Phi lao.
+ Các chất kích thích sinh trưởng thường được áp dụng trong giâm hom và
nồng độ của các chất kích thích.
- Thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau: sách, báo, tạp chí trong và ngoài
nước, internet… có liên quan đến đối tượng và nội dung nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí tại Vườn Thực nghiệm Trường Đaị học Quảng Bình.
- Đất đóng bầu: sử dụng hỗn hợp đất gồm 60% đất cát pha, 30% đất thịt và 10%
phân chuồng. Sử dụng màng che nắng 50%. Giống Phi lao 601 Trung Quốc.
- Chất điều hòa sinh trưởng được sử dụng là IBA, NAA theo các nồng độ:
500ppm, 1000ppm, 1500ppm và thí nghiệm đối chứng 0ppm.
2
- Cách bố trí thí nghiệm và ký hiệu các công thức thể hiện như bảng sau:
IBA
IBA
IBA
IBA
0ppm (Đối chứng)
500ppm
1000ppm
dài rễ. Sử dụng thước chia cm.
- Phương pháp pha chất kích thích sinh trưởng với các nồng độ khác nhau
+ Dụng cụ: Cân tiểu li, ống đong, lọ thuỷ tinh, tô.
+ Hoá chất: IBA, NAA nguyên chất.
+ Phụ gia: alcohol, nước lọc.
+ Phương pháp pha chế.
Công thức pha chế:
A = NV/1.000.000
W = V - al
Trong đó: A: Lượng hormon ra rễ cần pha chế (g).
N: Nồng độ cần sử dụng (ppm).
V: Thể tích cần pha chế (ml).
W: Thể tích nước lọc (ml)
al: Thể tích dung môi cần thiết để hòa tan hormon.
Biện pháp tiến hành:
Bước 1: Cho IBA (NAA) vào bình thí nghiệm có vạch dung tích 1000ml.
Bước 2: Rót alcohol vào bình có chứa hormon rồi khuấy đều để hoà tan hormon.
Bước 3: Đổ thêm nước lọc vào bình cho đủ 1000 ml.
3
5.3. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được thu thập và xử lý thống kê trên phần mềm Excel theo các chỉ tiêu.
Sử dụng phương pháp phân tích phương sai một nhân tố, để đánh giá sự sai
khác giữa các giá trị bình quân của các công thức thí nghiệm. So sánh các giá trị
bình quân của các công thức theo tiêu chuẩn Duncal (d05 ).
Các cấp của
Kết quả quan sát
nhân tố A
(X
i 1 j 1
Trong đó:
a
X=
ni
X
i 1 j 1
ij
ij
X) 2
(1)
là số trung bình của n trị số quan sát
- Biến động do nhân tố A gây nên
a
VA =
n. x
và tính FA =
S
S
S
a
2
2
a
do nhân tố A tạo nên,
(4)
N
Lập bảng phân tích phương sai như sau:
Nguồn nhân biến động
Tổng li sai bình
Bậc tự do
phương
Biến động do nhân tố A
VA
a-1
Phương sai
S
2
x
2
2
a
n
S /S
F05
So sánh Ft với Flí thuyết (F05)
Nếu Ft < F05 : Không có sự sai khác giữa các giá trị trung bình của công thức
thí nghiệm với độ tin cậy 95%.
Nếu Ft >F05: Có sự sai khác giữa các giá trị trung bình của công thức thí
nghiệm với độ tin cậy 95%.
Trường hợp Ft >F05 nghĩa là sự tác động của nhân tố A không giống nhau đến
kết quả thí nghiệm, chắc chắn sẽ có những nghiệm thức có tác động trội hơn so với các
công thức còn lại. Để tìm ra nghiệm thức có ảnh hưởng trội hơn ta dựa vào việc so
sánh 2 số trùng bình thứ nhất (
) và thứ hai (
) theo tiêu chuẩn t của Student
t=
cho lá. Lá tiêu giảm thành vảy nhỏ, bao quanh các đốt của cành nhỏ, dài 1 – 2 mm.
Thân thẳng tròn, bộ rể rất phát triển, rể cọc khỏe và dài mọc sâu đến 1,5m hoặc nhiều
khi sâu hơn nữa. Rễ bàng mọc cách mặt đất khoảng 20cm, rất nhiều nhánh và có bộ
con, rể tơ rất phong phú. Hoa đơn tính, cùng gốc hay khác gốc. Cụm hoa đực hình đuôi
sóc, gồm rất nhiều hoa đực mọc vòng, không có bao hoa; chỉ gồm 1 nhị, lúc đầu có chỉ
ngắn, sau kéo dài, bao phấn 2 ô. Cụm hoa cái đơn độc, mọc ở ngọn các cành bên; hoa cái
cũng không có bao hoa, đính vào nách của 1 lá bắc. Bầu 1 ô, 2 noãn, nhưng chỉ có một
noãn phát triển. Quả tập hợp trong một cụm quả (quả phức) hình bầu dục, hóa gỗ với các
lá bắc tồn tại. Hạt 1, không có nội nhủ.[6][14]
Hiện nay ở Việt Nam có 4 loài thuộc chi Phi lao (Casuarina Adans) đã được
nhập nội từ châu Úc, đó là:
Phi lao (Casuarina equiseti folia Forst). Cây gỗ lớn, là một trong những cây gỗ
trồng rừng và trồng làm cây bóng mát quan trọng của Việt Nam.
Phi lao cunningham (C. cunninghamiana Miq.). Cây gỗ nhỏ trồng làm cảnh.
Phi lao junghun (C. junghunian Miq.). Cây gỗ nhỏ, trồng làm cảnh
Phi lao hoa trần (C. nudiflora Forst.). Cây gỗ nhỏ, trồng làm cảnh.[6]
Trong 4 loài trên chỉ có loài phi lao là cây gỗ lớn, được nhập vào Việt Nam từ rất
lâu đời để trồng trên các bãi cát ven biển, còn 3 loài phi kia là cây gỗ nhỏ, mới được
nhập nội, để trồng trong làm cảnh các thành phố lớn, thời gian gần đây.[2]
1.2. Đặc điểm sinh thái
Cây Phi lao được người Pháp đem vào trồng ở nước ta lần đầu vào năm 1896.
Lần đầu tiên cây Phi lao được đem trồng ở bãi cát ven biển Nghệ An, thấy mọc tốt cho
nên từ năm 1915 Phi lao được dần dần trồng phổ biến khắp những vùng cát ven biển,
nhiều nhất là từ Thái Bình đến Nha Trang, đặc biệt là các tỉnh miền Trung Trung bộ để
làm rừng chắn cát, chắn gió, lấy củi, lấy gỗ làm trụ mỏ. Nam bộ cũng có trồng một ít ở
đồi cát ven biển Thuận Biên tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vào khoảng năm 1940. [6]
6
Theo giáo sư Lâm Công Định, ở Việt Nam Phi lao có 2 chủng: Phi lao trắng và
dần.[2][14][16]
1.3. Giá trị của Phi Lao
Vỏ phi lao chứa tanin, thường đạt khoảng 11-18% trọng lượng vỏ. Tanin thường
được dùng để thuộc da, nhuộm lưới đánh cá. Trong 100g cành phi lao ở Puerto Rico
chứa: 1,56g N,0,16g P, 0,48g K,1,23g Ca,0,23g Mg và 3,28g Na.[2][15][16]
Gỗ cứng, nặng, màu nâu nhạt và mềm với các vòng năm rõ. Tỉ trọng 0,978. Dễ bị
mối mọt. Thường dùng trong xây dựng, trụ mỏ, đóng đồ gỗ, làm cột điện, và làm củi.
Đây là loại củi tốt nhất trong các loài cây, ngay cả khi tươi củi cũng cháy tốt. Nhiệt
lượng của gỗ là 24.000kJ/kg và nhiệt lượng của than từ gỗ phi lao là trên 33.500kJ/kg.
7
Cành, lá phi lao rụng dưới rừng là nguồn củi đun chủ yếu cho nhân dân ở nhiều vùng
ven biển. Nhược điểm của gỗ phi lao là có nhiều mắt, sức chịu uốn kém (dòn), dễ bị
mối mọt, mục nát.[15][16]
Lá cây nhiều cellulose nên dùng làm bột giấy thô và là nguồn thức ăn tốt cho trâu bò.
Đây cũng là loại cây công trình trồng chắn gió cho đồng ruộng rất phổ biến ở
vùng đồng bằng Bắc Bộ và duyên hải miền Trung. Gần đây một số dự án trồng phi lao
ven biển để làm nguyên liệu giấy và ván dăm đã được tiến hành thử nghiệm ở một số
tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.[2][6][15]
Phi lao cũng được dùng làm thuốc. Rễ cây dùng làm thuốc chữa ỉa chảy và
lị.[11][15][16]
Do các cành và thân phi lao chịu cắt uốn nên còn dùng làm cây cảnh, cây bómg
mát và cây bon sai. [15][16]
Bộ phận dùng: Cành, lá, rễ, vỏ, vỏ quả - Ramulus, Folium, Radix, Cortex et
Fructus Casuarinae Equisetifoliae. [15]
2. TỔNG QUAN VỀ CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG THỰC VẬT
2.1. Khái niệm chất kích thích sinh trưởng
Các chất kích thích sinh trưởng và phát triển của thực vật là những chất hữu cơ
có bản chất hóa học khác nhau, được tổng hợp với lượng rất nhỏ ở các cơ quan, bộ
Năm 1934, giáo sư người Hà Lan Kogl đã xác minh chất đó là acid β indol
acetic, tiếp đó nhà khoa học đã chứng minh nó là auxin, một hocsmon thực vật
(phytohocmon) quan trọng trong toàn bộ thế giới thực vật. Bởi vì chúng có vai trò cơ
bản trong quá trình phối hợp sinh trưởng và phân hóa tế bào cần thiết cho sự phát triển
bình thường của thực vật. Sự phát hiện ra các chất điều hòa sinh trưởng là rất quan
trọng trong lịch sử. Từ đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực sinh lý học
thực vật và phát hiện nhiều chất điều hòa sinh trưởng khác. Xác định được bản chất
hóa học, đặc điểm tác dụng của nó trong cơ thể thực vật.[17]
Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong ngành hóa học và sinh học.
Nhiều nhà khoa học đã tìm ra nhiều chất hữu cơ nhân tạo có đặc tính giống chất điều
hòa sinh trưởng tổng hợp chính trong cơ thể thực vật. Bằng con đường tổng hợp hóa học
hàng loạt các chất hữu cơ, chất Auxin lần lượt ra đời. Các chất này được ứng dụng nhiều
trong thực tế sản xuất nhằm nâng cao phẩm chất cây trồng.[8][17]
Qua kết quả trình bày của Lang (1961) thì Auxin có thể thúc đẩy và ức chế sự
khởi phát hoa nhưng ức chế phổ biến hơn thúc đẩy. Sự thúc đẩy thường thấy trong
điều kiện cảm ứng quang kỳ mà liên quan đến ngưỡng của sự ra hoa. Tác động của
auxin tùy thuộc rất lớn vào những yếu tố mà có thể có lợi hoặc bất lợi trong cùng một
loài.[17]
Thí dụ: Cây đậu nành Biloxi và cây Hyoscyamus: thì tác động của auxin tùy
thuộc vào nồng độ. Ở nồng độ thấp thì sẽ thúc đẩy sự ra hoa nhưng ở nồng độ cao lại
ức chế. Sự ức chế ra hoa ở nồng độ cao có lẻ không lạ bởi nó liên quan đến nhiều
Auxin ngăn cản kích thích sự sinh trưởng.[17]
Nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy Auxin không đối kháng với sự khởi
phát hoa như sự hiện diện của nó ở một nồng độ nhất định được yêu cầu một cách
tuyệt đối nếu hoa được hình thành.[17]
Thí dụ: Trên cây cà chua, Zeeww tìm thấy rằng sự hiện diện của lá non có thể
ảnh hưởng rất lớn đến sự đáp ứng với NAA. Auxin chỉ thúc đẩy sự ra hoa khi không
có sự hiện diện của Auxin và ngược lại không có hiệu quả khi có sự hiện diện của nó.
Sự hoạt động của Auxin cũng tùy thuộc vào điều kiện phổ biến của nhiệt độ.[17]
Thí dụ: Trên cây Xanthium và cây Hyoscyamus, nồng độ tối hảo của auxin thay
Auxin
Vỏ tế bào
Trong quá trình sinh trưởng của rễ. Auxin gây nên hiện tượng ức chế phân
nhánh phụ ở rễ như ở thân. Đặc biệt Auxin là yếu tốt quyết định cử động sinh trưởng
hướng đất của rễ, tạo điều kiện cho rễ đi sâu vào đất để tìm kiếm thức ăn và nước cho
trái cây.[8][12]
Tác động của Auxin phụ thuộc vào nồng độ. Nồng độ quá thấp chưa tới ngưỡng
kích thích thì chưa gây tác dụng. Nồng độ cao quá lại tác dụng ức chế sinh trưởng. Chỉ
với nồng độ thích hợp thì mới có tác dụng kích thích.[17]
Auxin được tổng hợp tại đỉnh sinh trưởng và vận chuyển xuống thân cây với tốc
độ từ 0,5 - 1,5cm/giờ, càng xa đỉnh ngọn lượng Auxin càng giảm.[8][17]
Ngày nay các nhà khoa học đã nghiên cứu được nhiều loại Auxin nhân tạo khác
nhau. Nhưng do điều kiện hạn chế nên trong phạm vi đề tài này tôi chỉ nghiên cứu chất
điều hòa sinh trưởng tổng hợp IBA và NAA.
10
IBA (Indol Butyric Axit) là một dẫn xuất của indol thuộc nhóm Auxin được
nhà bác học người Đức Kogl đã chiết dưới dạng tinh thể từ nước tiểu động vật. IBA có
kết tinh màu trắng tan trong dung môi hữu cơ, cồn, Benzen.
IBA và NAA có độ bền hóa học.
Công thức phân tử: C12H8O2N
Trọng lượng phân tử: 203,2
Hàm lượng Auxin cũng như IBA, NAA có trong acid, ngay trong các mô đang
sinh trưởng tích cực hàm lượng Auxin cũng không đáng kể. Vì vậy muốn kích thích
quá trình ra rễ của hôm giâm nhân giống thì phải sử dụng kích thích sinh trưởng tác
động vào.[17]
2.3. Một số ứng dụng của các chất kích thích sinh trưởng trong sản xuất
Hiện nay có 2 phương pháp chính xử lý cho cành giâm và cành chiết
- Phương pháp xử lý ở nồng độ đặc hay phương pháp xử lý nhanh. Nồng độ
chất kích thích dao động từ 1.000 - 10.000 ppm. Với cành dâm thì nhúng phần gốc vào
dung dịch từ 3-5 giây, rồi cắm vào giá thể. Phương pháp xử lý nồng độ đặc có hiệu
quả cao hơn cả đối với hầu hết các đối tượng cành giâm và nồng độ hiệu quả cho nhiều
loại đối tượng là 4.000 - 6.000 ppm. Với cành chiết thì sau khi khoanh vỏ, tẩm bông
bằng dung dịch chất kích thích đặc rồi bôi lên trên chỗ khoanh vỏ, nơi sẽ xuất hiện rễ
bất định. Sau đó bó bầu bằng đất ẩm. Phương pháp này có ưu điểm là hiệu quả cao vì
gây nên “cái sốc sinh lý” cần cho giai đoạn đầu của sự xuất hiện rễ. [17]
- Xử lý ở nồng độ loãng - xử lý chậm. Nồng độ chất kích thích sử dụng từ 20 1000 ppm tùy thuộc vào loài và mức độ khó ra rễ của cành giâm. Ðối với cành giâm
thì ngâm phần gốc của cành vào dung dịch từ 12 - 24 giờ, sau đó cắm vào giá thể. Với
phương pháp này thì nồng độ hiệu quả là 50 - 100 ppm. Ðối với cành chiết thì trộn
dung dịch vào đất bó bầu để bó bầu cho cành chiết. Ví dụ có thể dùng 2,4D để chiết
nhãn với nồng độ 20ppm và chiết cam, quýt với nồng độ 10 -15ppm cho kết quả tốt.
Việc xác định nồng độ và thời gian xử lý thích hợp từng loại chất điều hòa sinh trưởng
trên từng loại cây trồng trong việc giâm, chiết cành cần được nghiên cứu một cách kỹ
lưỡng mới cho kết quả tốt. Thời vụ giâm và chiết cành tốt nhất là vào mùa xuân sang
hè (tháng 3,4,5) và mùa thu (tháng 9,10).[17]
2.3.3. Nuôi cây mô tế bào
Trong kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thì việc ứng dụng các chất kích thích sinh
trưởng là hết sức quan trọng. Hai nhóm chất được sử dụng nhiều nhất là auxin và
xytokinin. Ðể nhân nhanh invitro, trong giai đoạn đầu cần phải điều khiển mô nuôi cấy
phát sinh nhiều chồi để tăng hệ số nhân. Vì vậy người ta tăng nồng độ xytokinin trong
môi trường nuôi cấy. Ðể tạo cây hoàn chỉnh người ta tách chồi vào cấy trong môi
trường có hàm lượng auxin cao để kích thích ra rễ nhanh. Như vậy, sự cân bằng
auxin/xytokinin trong môi trường nuôi cấy quy định sự phát sinh rễ hay chồi. [17]
Các chất thuộc nhóm auxin được sử dụng là IAA, α-NAA và các chất thuộc
nhóm xytokinin là kinetin, axit benzoic hoặc lấy từ dung dịch hữu cơ như nước dừa,
Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu của
phía Bắc và phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm
1.500 - 2.000mm/năm. Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11.
+ Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24 oC - 25oC. Ba
tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8.
13
3.4.Tài nguyên đất
Tài nguyên đất được chia thành hai hệ chính: Đất phù sa ở vùng đồng bằng và
hệ pheralit ở vùng đồi và núi với 15 loại và các nhóm chính như sau: nhóm đất cát, đất
phù sa và nhóm đất đỏ vàng. Trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích tự
nhiên, chủ yếu ở địa hình đồi núi phía Tây, đất cát chiếm 5,9% và đất phù sa chiếm
2,8% diện tích.
3.5. Tài nguyên động, thực vật
Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn - nơi có khu
hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm. Đặc trưng cho
đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng.
Về động vật có: 493 loài, 67 loài thú, 48 loài bò sát, 297 loài chim, 61 loài cá...
có nhiều loài quý hiếm như Voọc Hà Tĩnh, Gấu, Hổ, Sao La, Mang Lớn, Gà Lôi lam
đuôi trắng, Gà Lôi lam mào đen, Trĩ...
Về đa dạng thực vật: Với diện tích rừng 486.688 ha, trong đó rừng tự nhiên
447.837 ha, rừng trồng 38.851ha, trong đó có 17.397 ha rừng thông, diện tích không
có rừng 146.386 ha. Thực vật ở Quảng Bình đa dạng về giống loài: có 138 họ, 401 chi,
640 loài khác nhau. Rừng Quảng Bình có nhiều loại gỗ quý như lim, gụ, mun, huỵnh,
thông và nhiều loại mây tre, lâm sản quý khác. Quảng Bình là một trong những tỉnh có
trữ lượng gỗ cao trong toàn quốc. Hiện nay trữ lượng gỗ là 31triệu m3.
3.6. Tài nguyên biển và ven biển
thác và chế tác vàng.
15
CHƯƠNG II. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG
ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY HOM PHI LAO
1.1. Ảnh hưởng của chất kích thích IBA đến sinh trưởng của cây hom Phi lao
Tỷ lệ sống của cây hom Phi lao được theo dõi 3 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày.
Tiến hành so sánh tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức với các nồng độ khác nhau tại thời
điểm 15 ngày, 30 ngày và 45 ngày.
Bảng 1. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng IBA đến tỷ lệ sống của Phi lao
Đơn vị tính: %
Nghiệm thức
15 ngày
30 ngày
45 ngày
86,7
73,3
41,3
A1
93,3
86,7
61,2
A2
93,3
86,7
76,7
A3
kính gốc trong các thời điểm 15 ngày, 30 ngày và 45 ngày của nghiệm thức 0ppm,
500ppm và 1500ppm.
16