BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
DƢƠNG THỊ PHƢƠNG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC AN
THẦN KINH VÀ CÁC TƢƠNG TÁC THUỐC BẤT
LỢI TRONG ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN LIỆT
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN
THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƢỢC HỌC
HÀ NỘI 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
DƢƠNG THỊ PHƢƠNG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC AN
THẦN KINH VÀ CÁC TƢƠNG TÁC THUỐC BẤT
LỢI TRONG ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN LIỆT
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ tình yêu thương và lời cảm ơn sâu sắc tới gia
đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 4 tháng 4 năm 2018
Dương Thị Phương
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
3
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ..... 3
1.1.1. Bệnh tâm thần phân liệt ...................................................................... 3
1.1.2. Điều trị tâm thần phân liệt .................................................................. 8
1.2. TƢƠNG TÁC THUỐC VÀ TƢƠNG TÁC THUỐC TRONG
ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN LIỆT ..................................................... 18
1.2.1. Tương tác thuốc ................................................................................ 18
1.2.2. Tương tác thuốc tiềm tàng bất lợi trong điều trị tâm thần phân liệt ... 20
1.2.3. Tra cứu tương tác thuốc .................................................................... 22
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
lợi trong điều trị tâm thần phân liệt............................................................. 48
CHƢƠNG 4: BÀN LUẬN
54
4.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC AN THẦN KINH TRONG
ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN LIỆT TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN
THÁI NGUYÊN
54
4.1.1. Về đặc điểm chung bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu ....................... 54
4.1.2. Về đặc điểm lâm sàng ....................................................................... 55
4.1.3. Về thực trạng sử dụng thuốc an thần kinh trên bệnh nhân trong mẫu
nghiên cứu.................................................................................................. 57
4.2. PHÂN TÍCH CẶP TƢƠNG TÁC THUỐC TIỀM TÀNG BẤT
LỢI VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA BÁC SỸ VỀ CÁC CẶP
TƢƠNG TÁC THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN
LIỆT TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN THÁI NGUYÊN ........................ 61
4.2.1. Về tương tác thuốc bất lợi................................................................. 61
4.2.2. Về kiến thức, thái độ của bác sỹ đối với tương tác thuốc bất lợi
trong điều trị tâm thần phân liệt .................................................................. 63
4.3. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ........................................ 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
65
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1. Lựa chọn thuốc ATK trong giai đoạn cấp tính
12
Bảng 1.2. Phân loại thuốc an thần kinh
16
Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung của BN trong mẫu nghiên cứu
31
Bảng 3.2. Phân nhóm điều trị theo ICD 10 của mẫu nghiên cứu
33
Bảng 3.3. Tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh của BN trong mẫu
NC
34
Bảng 3.4. Các bệnh mắc kèm của BN trong mẫu nghiên cứu
34
43
thuốc
Bảng 3.13. Tỉ lệ bệnh án/đơn có tương tác thuốc
44
Bảng 3.14. Mức độ nặng của các cặp tương tác thuốc
45
Bảng 3.15. Số TTT trong đơn theo mức độ nặng của TTT
45
Bảng 3.16. Tổng số tương tác thuốc trong đơn thuốc
46
Bảng 3.17. Các cặp TTT có ý nghĩa lâm sàng
47
Bảng 3.18. Mức độ quan tâm của bác sỹ đối với TTT bất lợi và kiến
49
thức của bác sĩ đối với một số cặp TTT có ý nghĩa lâm sàng
Bảng 3.19. Kiến thức của bác sỹ đối với cặp tương tác thuốc liên
quan đến hậu quả kéo dài khoảng QT
Hình 2.2. Quy trình tra cứu TTT
27
Hình 3.1. Thời gian nằm viện trung bình của BN trong mẫu nghiên
35
cứu
Hình 3.2. Số bệnh án thay đổi thuốc trong quá trình điều trị
39
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh tâm thần nặng, tiến triển từ từ,
có khuynh hướng mạn tính, đặc trưng bởi các triệu chứng loạn thần như
hoang tưởng, ảo giác, căng trương lực [15]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế
Thế giới, tỷ lệ người mắc bệnh TTPL ở các khu vực khác nhau trên thế giới
khoảng 0,5 - 1,5% dân số. Tuy tỷ lệ mắc bệnh không cao nhưng bệnh thường
gây ra hậu quả nghiêm trọng như mất khả năng học tập và lao động, mất khả
năng tham gia các hoạt động xã hội, không tự nuôi sống hoặc không có khả
năng tự chăm sóc bản thân, làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng cuộc sống
và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội [88].
Hiện nay nguyên nhân gây bệnh TTPL chưa xác định rõ ràng nên việc
điều trị chủ yếu vẫn là điều trị triệu chứng. Trong đó thuốc an thần kinh
(ATK) là nền tảng của điều trị [28] và thường làm giảm hoặc mất các triệu
chứng dương tính của TTPL như hoang tưởng, ảo giác và các rối loạn tâm
thần vận động [24]. Tuy nhiên việc sử dụng các thuốc ATK thường xuất hiện
Nhằm mục đích cung cấp thêm các thông tin về điều trị, đặc biệt là các
tương tác thuốc tiềm tàng bất lợi khi phối hợp thuốc trong điều trị bệnh TTPL
tại bệnh viện. Từ đó có thể đưa ra một số đề xuất góp phần vào việc sử dụng
thuốc điều trị tâm thần phân liệt an toàn, hiệu quả và hợp lý hơn tại bệnh viện
tâm thần Thái Nguyên.
2
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1.1.1. Bệnh tâm thần phân liệt
1.1.1.1. Khái niệm về tâm thần phân liệt
Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, bệnh tiến triển từ từ, có
khuynh hướng mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm biến đổi nhân
cách người bệnh một cách sâu sắc, tức là làm cho họ tách dần ra khỏi cuộc
sống bên ngoài, thu vào thế giới nội tâm( thế giới tự kỉ), cảm xúc ngày càng
khô lạnh, cùn mòn, tư duy nghèo nàn, năng lực học tập và làm việc ngày một
sa sút, hành vi, tác phong trở nên kỳ dị, khó hiểu [13], [15], [24].
1.1.1.2. Cơ chế bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh của TTPL rất phức tạp và chưa được sáng tỏ. Chưa
có một giả thuyết nào có thể giải thích được cách khởi phát đa dạng và sự dao
động rất lớn của các biểu hiện triệu chứng lâm sàng trong TTPL. Quan niệm
hiện nay cho rằng, bệnh sinh của TTPL có thể là những sự tác động của các
yếu tố sinh học, xã hội và tâm lý. Do đó nhiều giả thuyết chỉ phản ánh một
khía cạnh nào đó của quá trình phát triển bệnh [24].
- Giả thuyết về yếu tố di truyền
Donald W.Black và N. Adreasen (1999) tóm tắt các nghiên cứu gia
đình cho thấy rằng, những gia đình có một người bị TTPL thì những người
khác có nguy cơ bị bệnh TTPL là 10% trong suốt cuộc đời [31]. Theo Kaplan
các rối loạn có nguyên nhân tiên phát bởi sự hoạt động quá mức của hệ
dopamin [24]. Sự giải phóng quá mức dopamin ở màng trước sinap, tăng tiếp
nhận dopamin ở màng sau sinap, tăng tính nhạy cảm của các thụ cảm thể tiếp
nhận dopamin ở màng sau sinap [46]. Giả thuyết này giải thích được lý do các
thuốc giảm hoạt tính thụ thể dopamin như thuốc an thần kinh (ATK) đều làm
giảm các triệu chứng của bệnh TTPL [12].
1.1.1.3. Triệu chứng bệnh
- Các triệu chứng âm tính: Triệu chứng âm tính thể hiện sự tiêu hao,
mất mát các hoạt động tâm thần sẵn có. Đây là nhóm triệu chứng xuyên suốt
4
quá trình bệnh, là nền tảng của quá trình phân liệt. Triệu chứng âm tính thể
hiện sự mất tính chất toàn vẹn, tính thống nhất của hoạt động tâm thần, gồm
hai tính chất chính [11], [15], [24].
+ Tính tự kỷ: là sự biểu hiện của tính thiếu hòa hợp ở mức độ cao, nổi
bật là tính kỳ dị, khó hiểu, khó thâm nhập. Tính tự kỷ thể hiện trong cả 3 mặt
hoạt động chính: tư duy, cảm xúc và hành vi tác phong. Thế giới tự kỷ là thế
giới nội tâm mà ở đó các quy luật tự nhiên và xã hội bị đảo lộn, chỉ có người
bệnh hiểu và làm những điều kỳ dị mà không ai có thể hiểu được.
+ Sự giảm sút thế năng tâm thần: giảm thế năng tâm thần là giảm tính
năng động, tính nhiệt tình trong mọi hoạt động tâm thần. Biểu hiện cảm xúc
ngày càng cùn mòn, khô lạnh, tư duy ngày càng nghèo nàn, ý chí ngày càng
suy đồi, hoạt động ngày càng yếu đuối đi đến chỗ không thiết làm một công
việc gì.
Các triệu chứng âm tính thường tiến triển dần dần, âm ỉ làm tan rã nhân
cách của người bệnh một cách sâu sắc.
- Các triệu chứng dương tính: Triệu chứng dương tính thể hiện những
biến đổi bệnh lý phong phú, tăng lên, cơ động và đa dạng trong hoạt động tâm
Một giai đoạn mạn tính và muộn trong tiến triển của bệnh TTPL biểu
hiện bằng các triệu chứng âm tính nổi bật, các triệu chứng dương tính mờ
nhạt. Các biến đổi nhân cách và rối loạn hành vi kèm sa sút tâm thần biểu
hiện rõ rệt.
1.1.1.5. Các thể tâm thần phân liệt
Dựa theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD - 10) [18], có các thể
tâm thần phân liệt như sau:
- Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0): Triệu chứng nổi bật nhất
là các hoang tưởng và ảo giác. Đặc trưng của hoang tưởng là tính bị động, bị
chi phối hay bị hại…, đặc trưng của ảo giác là ảo giác giả, hay gặp ảo thanh
bình phẩm hoặc ra lệnh, ảo khứu, ảo vị, ảo thị ít gặp hơn. Hoang tưởng và ảo
giác thường kết hợp với nhau thành hội chứng tâm thần tự động rất đặc trưng
6
trong TTPL thể paranoid. Rối loạn cảm xúc ở thể này thường nhẹ. Triệu
chứng âm tính thường kín đáo và thường xuất hiện muộn hơn các thể khác.
- Tâm thần phân liệt thể thanh xuân (F20.1): Thể này xuất hiện ở lứa
tuổi trẻ. Nổi bật nhất là hội chứng kích động thanh xuân như hành vi lố lăng,
si dại, cảm xúc hỗn hợp. Hoang tưởng và ảo giác thoáng qua và rời rạc. Các
triệu chứng âm tính xuất hiện sớm và tiến triển nhanh.
- Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2): Bệnh biểu hiện
bằng các hành vi xung động, có tính chất định hình, bối rối, hoạt động không
có mục đích. Tiếp đó là sự xen kẽ giữa trạng thái kích động và bất động, căng
trương lực, phủ định chống đối. BN duy trì các tư thế không tự nhiên có thể
trong một thời gian dài như gối không khí, uốn sáp, tạo hình hoặc vâng lời tự
động. Triệu chứng âm tính xuất hiện sớm và trầm trọng hơn thể hoang tưởng.
- Tâm thần phân liệt thể không biệt định (F20.3): Bao gồm các trạng
thái đáp ứng tiêu chuẩn chung của TTPL song không đáp ứng với bất cứ thể
- Tối đa chất lượng cuộc sống và khả năng thích nghi về xã hội của BN
- Cải thiện và phục hồi những ảnh hưởng của bệnh một cách tốt nhất
[58].
1.1.2.2. Lập kế hoạch điều trị
Lập kế hoạch điều trị bao gồm việc quyết định về cách điều trị, các liệu
pháp điều trị sẽ được sử dụng và các vấn đề cần được giải quyết. Bệnh nhân,
người chăm sóc và nhân viên y tế có thể được tư vấn trong khi lên kế hoạch
điều trị. Kế hoạch điều trị là nền tảng, cần có tính thực tế, khả thi, linh hoạt và
luôn được đánh giá lại, sửa đổi cho phù hợp [47].
8
BN có biểu hiện về tâm thần
Chẩn đoán phân biệt với:
- Bệnh tâm thần thực thể
- Rối loạn tâm thần cấp tính thoáng qua
- Rối loạn ảo giác liên tục
- Rối loạn phân liệt cảm xúc
- Trầm cảm nặng với các triệu chứng tâm thần
- Bệnh hưng cảm với các triệu chứng tâm thần
- Bệnh tâm thần do thuốc
Thiết lập chẩn đoán TTPL
Đánh giá:
- Mức độ nặng của bệnh
- Nguy cơ gây hại cho bản thân và người khác
- Sử dụng đồng thời nhiều thuốc/phụ thuộc vào thuốc
- Mức độ chức năng
- Khám chi tiết thực thể
Điều trị không
dùng thuốc
- Giáo dục tâm thần
- Các biện pháp can
thiệp/hỗ trợ từ cộng
đồng, xã hội
Hình 1.1. Đánh giá ban đầu và kế hoạch điều trị TTPL [47]
9
Điều trị bệnh TTPL cho đến nay vẫn là điều trị triệu chứng và phục hồi
chức năng vì cơ chế bệnh sinh của bệnh chưa được xác định rõ. Do có sự kết
hợp giữa các nhân tố sinh học và môi trường trong cơ chế bệnh sinh nên có
thể phải kết hợp nhiều liệu pháp điều trị khác nhau như: liệu pháp hóa dược,
liệu pháp sốc điện và liệu pháp tâm lý, xã hội [24], [25], [26].
- Liệu pháp hóa dược
Cho đến nay hoá dược trị liệu trong tâm thần học vẫn là giải pháp lựa
chọn hàng đầu. Để đạt được hiệu quả tối ưu và không ngừng nâng cao chất
lượng điều trị cần phải luôn chú ý tới các yếu tố có tính nguyên tắc trong hoá
dược trị liệu như: điều trị phải động, lựa chọn thuốc phù hợp với từng cá thể
người bệnh, giảm tối thiểu những TDKMM của thuốc, điều trị đủ thời gian
cần thiết phù hợp với từng người bệnh, thể bệnh, giai đoạn bệnh, có theo dõi
đánh giá khoa học chặt chẽ, toàn diện [20].
Trong điều trị TTPL, thuốc ATK là nền tảng của điều trị [28], rất khó
điều trị hồi phục hiệu quả mà không có các thuốc ATK [58]. Theo Hiệp hội
Tâm thần Hoa Kỳ (2004), thuốc ATK thế hệ hai (trừ clozapin) là được lựa
chọn để điều trị bệnh TTPL lần đầu tiên [58]. Không nên dùng clozapin vì
Trong điều trị TTPL ở nước ta hiện chưa có hướng dẫn cụ thể đưa ra.
Trên thế giới có nhiều hướng dẫn của các tổ chức khác nhau như của hiệp hội
tâm thần hoa kỳ (APA) [58] hay Bộ y tế Singapore [86] … Các hướng dẫn
này đều chỉ ra rằng, việc điều trị nên theo từng giai đoạn của bệnh.
Điều trị giai đoạn cấp tính
Cần nắm được mục tiêu điều trị và đánh giá tình trạng cấp tính của
bệnh nhân trước khi dùng các thuốc ATK. Theo hướng dẫn thực hành lâm
sàng trong điều trị cho bệnh nhân TTPL của Hoa Kỳ [58], việc lựa chọn thuốc
ATK trong điều trị giai đoạn cấp ưu tiên ban đầu là các ATK thế hệ 2 ( trừ
clozapin), lựa chọn thay thế là các thuốc khác trong nhóm hoặc ATK thế hệ 1
[58]:
11
Bảng 1.1. Lựa chọn thuốc ATK trong giai đoạn cấp tính
Lựa chọn ưu tiên 1
Nhóm 2
Nếu do tác dụng Chọn thuốc khác trong nhóm 1
Lựa chọn ưa tiên 2
phụ quá mức
hoặc 2
Nếu không hiệu quả Chọn thuốc khác trong nhóm 1
hoặc 2 hoặc 3
Nếu do tác dụng Chọn thuốc khác trong nhóm 1
tháng hoặc lâu hơn để có đáp ứng đầy đủ hoặc tối ưu. Điều quan trọng là liều
đó phải có hiệu quả và không gây các tác dụng phụ quá mức vì điều này ảnh
hưởng đến sự tuân thủ lâu dài của bệnh nhân [58]. Theo nghiên cứu PORT,
với những bệnh nhân tái diễn liều thuốc thế hệ 1 nên tương đương 300 - 1000
chlorpromazin /ngày, liều hàng ngày của thuốc thế hệ 2 cho một triệu chứng
cấp tính cần là: aripiprazol 10 - 30 mg, olanzapine 10 - 20 mg, paliperidon 3 15mg, quetiapin 300 - 750mg, risperidon 2 - 8mg, và ziprasidon 80 - 160mg.
Điều trị phải là ít nhất 2 tuần, với trên 6 tuần để quan sát đáp ứng tối ưu. Với
những bệnh nhân điều trị lần đầu, liều tương đương 300 - 500 mg
chlorpromazin /ngày, liều risperidon và olanzapin giảm 1 nửa so với bệnh
nhân tái diễn [38].
Điều trị giai đoạn ổn định
Dùng thuốc trong giai đoạn ổn định nhằm giảm thiểu nguy cơ tái phát,
theo dõi và giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ của thuốc.
Thuốc ATK được dùng trong giai đoạn cấp tính tiếp tục được sử dụng, nếu
bệnh nhân có các phản ứng phụ quá mức có thể đổi thuốc khác trong nhóm
hoặc nếu bệnh nhân không tuân thủ cần xem xét sử dụng thuốc tiêm tác dụng
kéo dài [58].
Theo nghiên cứu PORT, thuốc ATK nên được tiếp tục được dùng trong
giai đoạn điều trị để giảm triệu chứng và giảm nguy cơ tái phát hoặc trầm
trọng thêm các triệu chứng dương tính. Nên duy trì liều dùng thuốc thế hệ 1
tương đương 300 - 600mg mỗi ngày. Liều duy trì cho thuốc aripiprazol,
olanzapin, paliperidon, quetiapin, risperidon và ziprasidon nên là liều có hiệu
quả để giảm triệu chứng dương tính trong giai đoạn cấp tính của điều trị. Với
thuốc tiêm tác dụng kéo dài, liều khuyến cáo cho fluphenazin decanoat là 6,25
- 25 mg mỗi 2 tuần và haloperidol decanoat 50 - 200 mg mỗi 4 tuần,
risperidon kéo dài 25 - 75 mg mỗi 2 tuần [38].
13
Không có đáp ứng với thuốc
Thay đổi thuốc
Không đáp ứng do kém tuân thủ điều trị
-
Thất bại với phối hợp 2 thuốc
ATK trong đó 1 thuốc là thế hệ 2
- Cân nhắc clozapin
- tìm nguyên nhân và giải quyết nó
- Nếu do không dung nạp thuốc (tác dụng không
mong muốn)- cân nhắc đổi thuốc
Đáp ứng đầy đủ:
Giữ nguyên liều, dõi tác dụng không mong
muốn
Không đáp ứng đầy đủ với
clozapin
- Cân nhắc phối hợp clozapin với liệu
pháp sốc điện hoặc các ATK khác
- Tăng cường liệu pháp tâm lý
Hình 1.2. Đánh giá bệnh nhân không đáp ứng với thuốc ATK
Theo nghiên cứu của Wimberley.T và cộng sự (2017), ở những bệnh
nhân TTPL kháng trị, điều trị bằng clozapin làm giảm tỷ lệ tử vong gần 2 lần
so với những bệnh nhân không điều trị bằng clozapin [89]. Trong nghiên cứu
của Siskind và cộng sự (2016) cũng chỉ ra rằng, clozapin có hiệu quả tốt hơn
Phân loại thuốc an thần kinh
+ Dẫn xuất phenothiazin: clorpromazin, levomepromazin ...
+ Dẫn xuất butyrophenon: haloperidol, trifluperidol ...
+ Dẫn xuất benzamid: sulpirid, sultoprid ...
+ Dẫn xuất thioxanthen: cloprothixen, flupentixol ...
+ Dẫn xuất dibenzo-diazepin: clozapin, olanzapin, loxapin ...
+ Dẫn xuất benzisoxazol: risperidon …
+ Dẫn xuất diphenylbutyl piperazin: pimozid …
+ Các ATK êm dịu: chlopromazin, levomepromazin...
+ Các ATK trung gian: thioridazin, propericiazin...
+ Các ATK đa năng: haloperidol, flufenazin...
+ Các ATK giải ức chế: sulpirid, trifluperidol...
+ Nhóm ATK thế hệ 1 (ATK cổ điển): haloperidol,
chlorpromazin, thioridazin, levomepromazin ...
+ Nhóm ATK thế hệ 2 (ATK mới): clozapin, risperidon,
olanzapin, amisulpirid ...
16
Cơ chế tác dụng
Các Thuốc ATK ức chế receptor dopaminergic ở não. Có 5 loại
receptor dopaminergic là D1, D2, D3, D4, D5. Ngoài ra, còn ức chế các
receptor khác như serotoninergic, α - adrenergic, cholinergic và histamin H1.
Tác dụng chống loạn thần như ảo giác, loạn thần, căng trương lực chủ yếu
liên quan tới khả năng ức chế receptor D2. Khi thuốc ATK ức chế trên 65%
số thụ thể D2 thì bắt đầu có hiệu quả điều trị. Tuy nhiên khi số thụ thể D2 bị
ức chế trên 80% thì bắt đầu có tác dụng phụ là ngoại tháp. Với các thuốc
ATK thế hệ 1 khoảng liều ức chế 65 - 80% thụ thể D2 nhỏ, còn thuốc ATK