ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
MÔN HỌC:
MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI:
“CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ VIỆT NAM HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG”
LỚP:
QH-2017-SIS-KHBV
GIẢNG VIÊN:
NHÓM:
PGS. TS. Mai Thị Thanh Xuân
04
1. Nguyễn Biên Cương
2. Phan Thuỳ Dương
3. Nguyễn Thị Khánh Ly
4. Nguyễn Hữu Mạnh
5. Hoàng Bích Hồng
6. Hoàng Thị Sen
7. Ngô Văn An
Hà Nội, năm 2018
MỤC LỤC
BVMT
Bảo vệ môi trường
CMCN
Cách mạng công nghiệp
CTNS
Chương trình nghị sự
KT - XH
Kinh tế - xã hội
PTBV
Phát triển bền vững
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước các năm 20112017………………………………….
Hình 1.2. GDP trên đầu người 2001 – 2015
Hình 1.3. Việt Nam 2035, Hướng tới Thịnh vượng, sáng tạo, công
bằng và dân chủ ….
Hình 2.1. Quá trình tiến đến Cách mạng công nghiệp 4.0
2
Mục tiêu: Xác định và đánh giá những cơ hội phát triển kinh tế Việt Nam
hướng tới phát triển bền vững trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.
-
Ý nghĩa: Xác định và đánh giá được những cơ hội phát triển kinh tế Việt
Nam hướng tới phát triển bền vững trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, cung
cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định chiến lược phát triển kinh
tếhướng tới phát triển bền vững của Việt Nam.
-
Phương pháp thực hiện:phân tích và tổng hợp lý thuyết; phân tích tổng
kết kinh nghiệm; phương pháp chuyên gia; phân tích và tổng hợp nguồn dữ liệu thứ
cấp.
-
Phương pháp tiếp cận:Phương pháp tiếp cận liên ngành.
4
NỘI DUNG
1. Tổng quan nền kinh tế và định hướng phát triển bền vững của Việt
Nam hiện nay.
1.1. Tổng quan nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Đứng trước những khó khăn của nền kinh tế thế giới và khu vực, kinh tế Việt
Nam vẫn đạt được mức tăng trưởng khá ấn tượng trong năm 2017: 6,81%, cao hơn
tụt hậu về kinh tế vẫn nghiêm trọng. Tại Việt Nam, mặc dù đạt được tốc độ tăng
trưởng ấn tượng và đồng đều, nhiều người dân đã thoát khỏi đói nghèo và hiện Việt
Nam trở thành quốc gia có dân số thu nhập trung bình nhanh (chiếm 50% dân số),
nhưng rất nhiều người dân Việt Nam đã quay lại nghèo đói sau những cú sốc về
thiên tai.
Cùng với đó, bất bình đẳng về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư có xu
hướng gia tăng, các vấn đề môi trường và tác động của biến đổi khí hậu, cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ 4 và hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra những thách
thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam.
6
1.2. Định hướng phát triển bền vững của Việt Nam 2016 - 2030.
Thời gian qua, nhận thức về BVMT và PTBV tiếp tục được nâng cao. Vấn đề
BVMT, PTBV được tăng cường lồng ghép vào các chủ trương, đường lối phát triển
của Đảng, Nhà nước. Hệ thống chính sách, pháp luật; cơ quan quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương tiếp tục được kiện toàn và hoàn
thiện hơn. Chi ngân sách cho sự nghiệp môi trường ngày càng tăng, năm 2016 là
1.700 tỷ đồng, năm 2017 là 1.880 tỷ đồng, năm 2018 là 2.100 tỷ đồng [12]
Giai đoạn 2016-2017, đã phát hiện 31.322 vụ vi phạm quy định về bảo vệ
môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 22.192 vụ với tổng số tiền phạt hơn
673 tỷ đồng. Sản xuất kinh doanh, khai thác thủy sản, du lịch, đời sống người dân
sau sự cố ô nhiễm môi trường biển 4 tỉnh miền Trung đã ổn định và phát triển trở
lại. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017với nhiều
giải pháp cấp bách, chiến lược về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long
thích ứng với biến đổi khí hậu; tổ chức Hội nghị trực tuyến về công tác bảo vệ môi
trường và ban hành Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31 tháng 8 năm 2016 về một số
nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường. Chỉ thị đưa ra những cách tiếp
cận mới, những giải pháp, nhiệm vụ cụ thể mang tính chất đột phá nhằm giải quyết
cũng đã có bài viết với tiêu đề "Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên
suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta". Phát triển nhanh
và bền vững nghĩa là tăng trưởngkinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và
bền vững hơn, gắn với phát triển con người.
8
Hình 1.2. GDP trên đầu người 2001 – 2015
Nguồn: Báo cáo VN2035
Hình 1.3. Việt Nam 2035, Hướng tới Thịnh vượng, sáng tạo, công bằng
và dân chủ
9
Để hiện thực hóa khát vọng và mục tiêu phát triển kinh tế trong bối cảnh
cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, một trong những mục tiêu tổng quát
được đưa ra là “thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững môi trường”. Việt
Nam phải đạt tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong 20 năm tới với mức tăng thu
nhập bình quân đầu người hằng năm khoảng 7%, tức là tương đương với mức tăng
trưởng GDP hằng năm là 8% để đến năm 2035 Việt Nam đạt mức thu nhập bình
quân đầu người từ 15.000-18.000 USD.
“Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” hay còn gọi “Công nghiệp 4.0”
đang ngày càng trở nên phổ biến. Công nghiệp 4.0 với nền tảng là sự phát triển
mạnh mẽ và tích hợp ở trình độ cao các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại
trong lĩnh vực kỹ thuật số, công nghệ sinh học và vật lý. Vậy, liệu rằng cách mạng
4.0 có phải là cơ hội giúp Việt Nam phát triển nhanh và bền vững?
2. Cách mạng công nghiệp 4.0
và thực thể. Đây là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật kết
nối Internet (IoT) và các hệ thống kết nối Internet (IoS).
Tốc độ phát triển của những đột phá trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư
này là không có tiền lệ trong lịch sửvới tốc độ theo cấp số nhân. Những đột phá
công nghệ diễn ra trong nhiều lĩnh vực như kể trên với tốc độ rất nhanh và tương
tác thúc đẩy nhau đang tạo ra một thế giới được số hóa, tự động hóa và ngày càng
trở nên hiệu quả và thông minh hơn.
3. Cơ hội phát triển kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công
nghiệp 4.0
Ông Trương Gia Bình cho rằng: “Lợi thế nhất cho doanh nghiệp Việt Nam là
cả thế giới đều bước vào cuộc cách mạng 4.0 ở cùng một vạch xuất phát. Nếu
các doanh nghiệp Việt Nam nhanh chân, đầu tư cho việc nghiên cứu, phát triển
sản phẩm theo hướng 4.0 thì rất có thể, sau cuộc cách mạng, vị thế của nước
Việt Nam, của doanh nghiệp Việt trên thị trường quốc tế sẽ hoàn toàn khác”.
"Cơ hội từ Cách mạng Công nghiệp 4.0 không chỉ dành cho các nước phát
triển mà cho cả các nước đang phát triển như Việt Nam. Thế giới ngày hôm nay là
thế giới của công nghệ và sáng tạo. Trong thời đại này, với nhiều công nghệ mang
tính sáng tạo đã loại bỏ dần ưu thế của kinh nghiệm, của hạ tầng cũ và môi trường
kinh doanh cũ. Trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0, tương lai và triển vọng kinh tế
của mỗi quốc gia không nằm trên đường kéo dài của quá khứ, nên một quốc gia
đang phát triển, với ít hành trang của quá khứ, hoàn toàn có thể đi nhanh hơn và
đuổi kịp các nước phát triển", Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhận định.
Việt Nam có nhiều cơ hội để tiệp cận và tham gia cuộc chơi công nghệ mới
khi là thị trường trên 93 triệu dân, dân số trẻ, có trên 130 triệu thuê bao di động.
Vùng phủ 4G lên đến 99% quận, huyện với gần 60 triệu kết nối di động băng thông
rộng (3G, 4G). Hiện nay 55% dân số đã thường xuyên kết nối Internet và còn tiếp
12
tục tăng nhanh. Đây là nền tảng thuận lợi để những mô hình kinh doanh mới, dựa
những tiến bộ, thành tựu công nghệ của nhân loại, trước hết là công nghệ thông tin,
công nghệ số, công nghệ điều khiển và tự động hóa để nâng cao năng suất, hiệu quả
trong tất cả các khâu của nền sản xuất xã hội.
Hai là: Cơ hội phát triển nhanh hơn nhiều ngành kinh tế và phát triển những
ngành mới thông qua mở rộng ứng dụng những tiến bộ, thành tựu về công nghệ
thông tin, công nghệ số, công nghệ điều khiển, công nghệ sinh học (thuộc các lĩnh
vực như công nghiệp không gian, công nghiệp sáng tạo, công nghiệp giải trí, công
nghiệp sinh học, công nghiệp quốc phòng, nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao,...).
Ba là: Cơ hội đón đầu, hình thành và phát triển nhanh nền kinh tế tri thức,
thu hẹp khoảng cách và đuổi kịp những nước đi trước trong khu vực và thế giới
thông qua tiếp thu, làm chủ và ứng dụng nhanh vào sản xuất kinh doanh, quản lý
những tiến bộ, thành tựu công nghệ (kể cả phương thức sản xuất, quản lý) từ cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Đối với năng lượng tái sinh, đặc biệt là năng lượng mặt trời, năng lượng sinh
học, Việt Nam có lợi thế đối với hai loại hình năng lượng này bởi chi phí của nó
không quá cao. Việc chuyển dịch cơ cấu năng lượng sẽ giúp Việt Nam giảm tải
được áp lực về môi trường và sự phụ thuộc vào bên ngoài đối với thủy điện, nhiệt
điện, dầu khí và điện hạt nhân.
Bốn là: Lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ mạng xã hội, di động, phân
tích và điện toán đám mây (SMAC) đang là xu hướng mới mẻ của cả thế giới và
Việt Nam có cơ hội phát triển lĩnh vực này.
14
Với lợi thế hiện có như hạ tầng Internet tương đối tốt, giá rẻ trong khi thiết bị
di động cấu hình cao, giá thấp đang trở nên phổ biến cũng như sự khuyến khích
phát triển của chính phủ, Việt Nam có tiềm năng phát triển công nghệ SMAC rất
lớn. Một yếu tố thuận lợi nữa là Việt Nam có các đối tác quan trọng là các tập đoàn
lại, cuộc cách mạng này cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức phải đối mặt.
Cùng trong bối cảnh này, Việt Nam cần xác định được các thách thức phải đối mặt
để cóđịnh hướng phát triển kinh tế phù hợp nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền
vững.
4.1. Thách thức của Cách mạng công nghiệp 4.0
Về phía Chính phủ, dưới tác động của cuộc CMCN 4.0, Chính phủ Việt Nam
sẽ phải đối mặt với áp lực phải thay đổi cách tiếp cận hiện tại của mình để hoạch
định và thực hiện chính sách để công tác điều hành có được sức mạnh công nghệ
mới, tăng quyền kiểm soát, cải tiến hệ thống quản lý xã hội.
Về phía doanh nghiệp, khi công nghệ và tự động hóa lên ngôi, họ sẽ đối mặt
với áp lực cần nâng cao chất lượng, cải tiến và đổi mới các dây chuyền công nghệ,
tuyển nhân lực có năng lực về công nghệ, đồng thời phải đối mặt với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt của doanh nghiệp nước ngoài. Những điều này là thực sự khó
khăn trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn thua kém rất lớn các doanh
nghiệp nước ngoài về công nghệ, cũng như nhân lực và vốn đầu tư như hiện nay.
Như vậy, CMCN 4.0 đặt ra nhiều thách thức mới đối với các nước đang phát
triển như Việt Nam. Đó là thách thức tụt hậu xa hơn, lao động chi phí thấp mất dần
lợi thế, khoảng cách công nghệ và tri thức nới rộng hơn dẫn đến phân hóa xã hội sẽ
sâu sắc hơn… Chính phủ, các doanh nghiệp, các trung tâm nghiên cứu và cơ sở
giáo dục tại Việt Nam cần phải nhận thức được và sẵn sàng thay đổi và có chiến
16
lược phù hợp cho việc phát triển công – nông nghiệp, dịch vụ và kinh tế hay nguồn
nhân lực trong thời kỳ Internet vạn vật và cuộc CMCN 4.0.
4.2. Giải phápphát triển kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công
nghiệp 4.0
Bộ trưởng Trương Minh Tuấn cho rằng, mặc dù các nước phát triển có lợi thế
hơn các nước đang phát triển ở tiềm lực công nghệ và kinh tế, nếu chúng ta biết tận
dụng tốt cơ hội thì chúng ta sẽ không tụt hậu quá xa so với các nước phát triển. Việt
động lành nghề, có kỹ năng, Việt Nam cần tập trung hơn nữa cho giáo dục.
Giải pháp cụ thể:
- Đào tạo và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ 4, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, có thể tiếp cận nhanh và
hiệu quả hơn những thành tựu công nghệ của thế giới.
- Phát triển mạnh mẽ hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông. Xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông hoàn chỉnh, hiện đại,
an toàn bằng nguồn lực của nhà nước cũng như xã hội hóa. Đồng thời, đào tạo
nguồn nhân lực về công nghệ thông tin và truyền thông có chất lượng cao, đáp ứng
nhu cầu của nền công nghiệp thế hệ thứ 4. Thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, sản xuất, kinh
doanh, quản lý hành chính, triển khai sâu rộng các ứng dụng của chính phủ điện tử.
Có chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông thành ngành kinh tế
trọng điểm, nâng cao giá trị các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông,
xem đây là trụ cột của nền công nghiệp thế hệ thứ 4.
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Xây dựng hành lang
pháp lý chặt chẽ phù hợp với thông lệ quốc tế để tạo ra môi trường kinh doanh
minh bạch, bình đẳng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, khuyến khích tinh thần doanh nghiệp,
18
tạo động lực cho mọi thành phần kinh tế không ngừng đổi mới sáng tạo và khởi
nghiệp dựa trên đổi mới sáng tạo.
- Xây dựng các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp để phát triển mạnh mẽ
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo như: Có cơ chế tài chính thúc đẩy hoạt động
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của doanh nghiệp với tôn chỉ doanh
nghiệp là trung tâm; đổi mới cơ chế đầu tư, tài trợ nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ; có chính sách để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp
sáng tạo; kết nối cộng đồng khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài
- Người dân: Cần phải chuẩn bị tri thức, chủ động nắm bắt các tiến bộ của
thế giới, rèn luyện ý thức và kỹ năng của một công dân toàn cầu.
- Cuối cùng, chúng ta cần hình thành một tầm nhìn toàn diện và thống nhất
mang tính tổng thể về cách thức công nghệ tác động tới cuộc sống cũng như định
hình lại môi trường kinh tế, xã hội, văn hóa, con người Việt Nam và sự quan tâm
vào cuộc của toàn xã hội.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam. Báo cáo Việt
Nam 2035.
[2] Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững toàn cầu năm 2002
[3] Cổng thông tin điện tử Chính phủ, 2010, “Phát triển nhanh và bền vững là
quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta”.
[4] Tạ Thị Đoàn. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4: Cơ hội và thách thức đối với
phát triển kinh tế ở Việt Nam
21